Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ Văn - Pdf 37


phần thứ nhất : đặt vấn đề
I/ Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề hết
sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học sinh hình
thành ý thức và nhân cách cũng nh trình độ học vấn cho các em ngay khi đang học
bậc học THCS và tr ởng thành sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn,
ta rèn cho học sinh ý thức tự tu d ỡng, biết yêu th ơng, quí trọng gia đình, bạn bè, có
lòng yêu n ớc, yêu chủ nghĩa xã hội, biết h ớng tới những tình cảm cao đẹp nh lòng
nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và
cũng từ đó rèn cho các em tính tự lập, có t duy sáng tạo, b ớc đầu có năng lực cảm
thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Tr ớc hết là trong văn học có năng
lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt nh một công cụ để t duy và giao
tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải h ớng dẫn cho
các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong đoạn
văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các ph ơng tiện liên kết
trong đoạn văn. Tuỳ theo từng ph ơng thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối qui
nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết đ ợc đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng nh vậy để tạo
thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã
dùng các ph ơng tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều
những ph ơng tiện hiện đại, thông tin đại chúng cập
nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đ ờng say
mê nghiện sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện
tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy, các em không còn ham đọc
sách, ham nghiên cứu. Cho nên, việc viết một đoạn
văn lại càng là vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn
luyện cho các em.Hơn thế nữa, tập làm văn là môn
học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của môn Văn

học tốt các môn học khác. Làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng văn bản.
Giai đoạn hiện nay: phân môn Tập làm văn có tính độc lập nh ng có mối quan
hệ trực tiếp đến phần Văn và phần Tiếng Việt.
Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn đ ợc tích hợp cùng phân
môn Văn và Tiếng Việt trong ch ơng trình Ngữ Văn mới. Các kiểu văn bản của Tập
làm văn chính là trục để xây dựng nội dung, ch ơng trình Ngữ Văn THCS từ năm
học 2002 2003.
III/ Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
1. Mục đích .
Tập làm văn với mục đích giúp cho học sinh nắm đ ợc các thể loại trong ch -
ơng trình tập làm văn ở THCS nh Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết
minh, Điều hành. Từ đó, học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ
cho học tập, trong đời sống. Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây
dựng đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài
đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, h ớng dẫn cho các em
rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết luận.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. ý chính đó, có thể đứng ở
đầu đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc
ý chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình
thức nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã
tiếp thu đ ợc qua các môn Văn Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để
có thể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau
mà cuộc sống đặt ra cho các em.
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho học
sinh một số đức tính nh lòng nhân ái, tính trung thực, sự kiên trìBởi vì môn này
góp phần phát triển trí t ởng t ợng óc sáng tạo, biết phân biệt: đúng, sai, tốt, xấu,
phải, trái Từ đó, nuôi d ỡng tâm hồn học sinh h ớng tới cái chân, thiện, mĩ .
2. Nhiệm vụ
Ng ời giáo viên phải nắm lấy u thế của học sinh nh những tri thức, vốn sống, t

thành thao tác tốt viết đoạn văn, giáo viên hớng dẫn học sinh nh cách dùng từ đặt
câu và cao hơn là dựng đoạn. Vì vậy, có thể nói học sinh đợc học và thực hành 15
loại văn bản ở bậc THCS, đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục học lên ở những
bậc trên.
1. Ph ơng pháp lí thuyết .
B ớc đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm quen
với những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài qua các tiết
học: Lí thuyết về đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây dựng
đoạn văn, bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong đoạn văn, viết theo các
cách diễn dịch, qui nạp, song hành, móc xích Từ đó, cho học sinh tập viết đoạn
văn, có vận dụng lí thuyết về thể loại văn ấy. Tuy nhiên, ph ơng pháp lí thuyết
không quá nặng.
2. Ph ơng pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận. Trong quá trình nghiên cứu,
tìm hiểu cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến mức tối đa
để khuyến khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn. Vậy, trong tiết học Tập
làm văn mà đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, h ớng dẫn các kĩ năng nghiên
cứu, tìm hiểu để vận dụng các kiến thức đã học để dựng đoạn theo đặc điểm thể
loại để tạo lập văn bản.
3. Ph ơng pháp kiểm tra, khảo sát .
Với ph ơng pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn các
thao tác từ lí thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu. Từ đó, ta mới đi
vào kiểm tra, khảo sát để thấy đ ợc sự vận dụng tổng hợp, để sáng tạo văn bản qua
nhiều b ớc trong quá trình rèn luyện các kĩ năng. Đó là điều kiện để đánh giá học
sinh thông qua bài kiểm tra, bài viết ở lớp (hoặc ở nhà) đòi hỏi phải đánh giá đúng
năng lực của học sinh và đòi hỏi một sự nhạy cảm của thầy tr ớc yêu cầu thực hành
của học sinh.
4. Ph ơng pháp cố vấn, chuyên gia .
Đây là những ph ơng pháp khó đối với học sinh. Học sinh th ờng không chú ý

đạt một ý t ơng đối hoàn chỉnh. Đoạn văn th ờng do nhiều câu tạo thành. Đoạn văn
th ờng có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ đ ợc dùng làm
đề mục hoặc các từ ngữ đ ợc lặp lại nhiều lần (th ờng là chỉ từ, đại từ, các từ đồng
nghĩa) nhằm duy trì đối t ợng đ ợc biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát,
lời lẽ ngắn gọn, th ờng đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn
(hay còn gọi là câu chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ
chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các ph ơng tiện liên kết
để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều ph ơng tiện liên kết trong đoạn
văn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể
hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát,và dùng câu nối trong đoạn
văn. Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính
chỉnh thể cho văn bản.
Nh vậy, các ph ơng tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nh ng đồng thời chúng
cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác, lại có
những ph ơng tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các
ph ơng tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của ng ời viết, với sự việc đ ợc
phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh
để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn đợc tốt và làm nền tảng cho chơng trình THPT. Mặc
dù vậy, học sinh ở các trờng THCS, phần lớn có khuynh hớng không thích học văn
mà đặc biệt là phân môn tập làm văn. Và vì thế nó đã ảnh hởng rất nhiều đến việc
tiếp thu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em.
II/ Thực trạng viết đoạn văn Tự sự của học sinh THCS
Cũng bộ môn Ngữ văn, nh ng theo khảo sát, phần lớn các em học phân môn
Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn văn khiến cho giáo viên và
học sinh còn rất lúng túng. Th ờng thì thời l ợng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên
học sinh không thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu. Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về
mặt Lí thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối: việc

Trong Tập làm văn, khái niệm Tự sự đ ợc hiểu theo nghĩa rộng. Đó là ph ơng
thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện theo mối quan hệ nào đó nh quan hệ
nhân quả, quan hệ liên t ởng.
Sách giáo khoa Tập làm văn tr ớc đây (1986 1995) không dùng khái niệm
tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, t ờng thuật. Trong sách giáo
khoa Ngữ văn-6 Tập I- trang 28 nhà xuất bản giáo dục 2002, nêu định nghĩa về
văn tự sự nh sau:
Tự sự (kể chuyện) là ph ơng thức trình bày một chuỗi sự việc, sự việc này
dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự
giúp ng ơi kể giải thích sự việc, tìm hiểu con ng ơi, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ
khen, chê.
Theo quan niệm này thì kể chuyện về sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, t ờng
thuật một hội nghị, một vụ hoả hoạn đều thuộc ph ơng thức tự sự. Nói cách khác
khái niệm tự sự bao gồm cả nội dung trần thuật, kể chuyện đã học trong ch ơng
trình Tập làm văn tr ớc đây.
Văn tự sự chia làm hai dạng: kể chuyện đời th ờng và kể chuyện t ởng t ợng.
+ Kể chuyện đời th ờng (kể chuyện đời sống) là kể ng ời thực, việc thực ta th -
ờng găp trong cuộc sống hàng ngày. Yêu cầu của dạng văn này phải tôn trọng sự
thật.
Có thể phân thành hai loại: kể chuyện danh nhân và kể chuyện đời th ờng.
+ Kể chuyện t ởng t ợng: khái niệm kể chuyện t ởng t ợng chỉ mang tính ớc lệ
Vì kể chuyện bao giờ cũng phải t ởng t ợng để hình dung sự việc và kể cho ng ời
khác nghe. Kể chuyện t ởng t ợng là t ởng t ợng cụ thể về số phận và cuộc sống của
một sự việc về môt kết thúc khác của một câu chuyện dẫ viết. Kể lại chuyện cổ
tích theo cách nhìn mới, cách hiểu mới, ng ời kể phải hoá thành nhân vật. Thậm chí
phải thay đổi ngôi kể để kể chuyện hấp dẫn hợp lí.
3. Mối quan hệ giữa tự sự với các ph ơng thức khác.
Trong quá trình tạo lập văn bản, tuỳ vào mục đích, nội dung và tính chất của
văn bản mà ng ời viết kết hợp các ph ơng thức biểu đạt với nhau. Điều đó cũng có
nghĩa là không thể kêt hợp các ph ơng thức một cách tuỳ tiện. Trong thực tế, tự sự

gíc phán đoán nhằm làm sáng toả một ý kiến một quan điểm, t t ởng nào đó. Các
ph ơng thức trên là cơ sở của t duy hình t ợng, còn nghị luận là cơ sở của t duy lô
gíc. Chính vì thế mà trong văn bản tự sự, để ng ời đọc, ng ời nghe phải suy nghĩ về
một vấn đề nào đó, ng ời viết, ng ời kể có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý
kiến nhận xét cùng những lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó th ờng đ ợc diễn đạt bằng
hình thức lập luận làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.
Ví dụ 3: Chao ôi ! đối với những ng ời ở xung quanh ta, nếu ta không cố tìm
mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc bần tiện, xấu xa bỉ ổitoàn là
những thứ để ta tàn nhẫn không bao giờ ta th ơng Vợ tôi không ác nh ng thị khổ
quá rồi. một ng ời đau chân có lúc nào quen đ ợc cái chân đau của mình để nghĩ
đến một gì khác đâu? Khi ng ời ta khổ quá thì ng ời ta chẳng nghĩ gì đến ai đ ợc
nữa. Cái bản tính tôt của ng ời ta bị những nỗi lo lắng buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận.
Nh vậy, có thể nói rằng trong tự sự gần nh có tất cả các ph ơng thức biểu đạt vì
tự sự chính là bức tranh gần gũi nhất với cuộc sống mà cuộc sống thì hết sức đa
dạng, phong với đầy đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cả các kiểu nhân vật,
các mẫu ng ời mà ta gặp th ờng ngày. Vì thế mà trong văn bản tự sự có các yếu tố
khác kết hợp. Song tiêu biểu là các yếu tố miêu tả, biểu cảm và nghị luận nh đã
trình bày ở trên.
II/ Đặc điểm của đoạn văn tự sự
1.Quan niệm về đoạn văn.
2.Trong các tài liệu về ngữ pháp văn bản đã thừa nhận : Giữa câu và
văn bản có một đơn vị ngữ pháp, đơn vị này đ ợc gọi bằng những tên gọi khác
nhau: chỉnh thể cú pháp phù hợp, chỉnh thể trên câu, thành tố của văn bản, khổ văn
xuôi, đoạn vănĐó là đơn vị trung gian giữa các câu văn, văn bản. Ngoại trừ văn
bản chỉ có một câu, thông th ờng văn bản có nhiều câu. Nh ng câu không phải là
đơn vị cấu tạo nên văn bản mà chỉ là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên đơn vị trung gian
này. Chỉnh thể trên câu là một đơn vị ngữ pháp có sự gắn bó một cách chặt
chẽ, có một kết cấu nhất định và thể hiện hoàn chỉnh một tiểu chủ đề. Còn đoạn
văn là một bộ phận của văn bản mang nhiều màu sắc phong cách . ( Phong cách

quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại. ở đoạn có lời đối đáp giữa các
nhân vật th ờng t ơng ứng với một đoạn thoại, tức là đoạn đối thoại ấy nhằm h ớng
đến một nội dung nào đó trong toàn bộ nội dung của văn bản. đoạn thoại có thể
gồm nhiều cặp thoạ cùng h ớng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộc thoại.
Vậy, thế nào là đoạn văn tự sự ? Đoạn văn tự sự có đặc điểm gì ? Để hiểu
đ ợc vấn đề này ta xết các ví dụ sau:
Ví dụ 1 : Chẳng bao lâu, ng ời chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé không
chân, không tay, tròn nh một quả dừa. Bà buồn lắm toan vứt đi thì đứa con bảo:
-Mẹ ơi, con là ng ời đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp. Nghĩ lại
thấy th ơng con, bà đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ Dừa .
Ví dụ 2 : Vị quan nọ bảo:
-Đ ợc, tôi sẽ đ a anh vào gặp vua với điều kiện anh phải chia đôi nửa
phần th ởng của nhà vua. Nếu không thì thôi.
Ng ời nông dân đồng ý. Viên quan nọ liền dẫn ông ta vào cung vua. Vua
cầm lấy viên ngọc và bảo:
-Thế anh muốn ta th ởng cho anh cái gì bây giờ ?
Ng ời nông dân bèn th a:
-Xin bệ hạ hãy th ởng cho thần 50 roi Chỉ có điều là hạ thần đã đồng
ý chia cho viên quan đã đ a thần vào đây một nửa số phần th ởng của bệ hạ. Vậy,
xin bệ hạ hãy th ởng cho mỗi ng ời 25 roi .
Xét hai phần văn bản trên, chúng ta nhận thấy t ơng ứng các nội dung
sau:
+ ở ví dụ 1 : tâm trạng của bà mẹ và thái độ của Sọ Dừa.
+ ở ví dụ 2 : sự tham lam của viên quanvà thái độ thông minh của ng ời nông
dân.
Đây là những đoạn văn tự sự trình bày những sự việc, những hành động
liên quan đến các nhân vật, tức là đã mang đặc tr ng cho phong cách chức năng và
phong cách cá nhân. Khái niệm đoạn văn tự sự ở đây liên quan trực tiếp đến ngữ
dụng học, đặc biệt là những khái niệm nh : cuộc thoại, đoạn thoại. Nh ng, cần phải
xác định: Đoạn văn tự sự là cuộc thoại hay đoạn thoại?

sinh mới tiếp thu một cách hoàn chỉnh và có hệ thống. Nh ng từ lớp 6, học sinh đã
phải viết các đoạn văn tự sự, miêu tả. Vì vây, tr ớc khi h ớng dẫn học sinh viết đoạn
văn tự sự, giáo viên cần cung cấp một số vấn đề liên quan đến khái niệm đoạn văn
và những yêu cầu cụ thể khi viết đoạn văn, đặc biệt tạo cho học sinh kĩ năng xác
định câu chủ đề trong đoạn văn và viết những đoạn văn có câu chủ đề.
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa, lùi đầu
dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và th ờng biểu đạt một ý t ơng đối hoàn
chỉnh.
Một đoạn văn bao giờ cũng phải liên quan chặt chẽ với các đoạn văn khác
trong bài văn, nghĩa là đoạn văn ấy phải chịu sự chi phối của phong cách văn bản.
Đoạn văn tự sự phải mang màu sắc của văn bản tự sự, tức là phải kể về ng ời, về
việc, về hành động của các nhânvậth. Mỗi đoạn văn tự sự th ờng có một ý chính
diễn đạt thành một câu gọi là câu chủ đề. Các câu khác diễn đạt những ý phụ dẫn
đén ý chính đó, hoặc giải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên. Các câu
trong đoạn văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung (cùng h ớng về một
vấn đề) và hình thức (các câu liên kết với nhau thông qua các ph ơng tiện liên kết).
IV/ rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự
1 .Xác định ý của đề .
Để làm tốt bài văn tự sự, tr ớc khi làm phải đọc kĩ đề bài và nắm vững yêu
cầu của đề bài, từ đó sẽ xá định nội dung theo yêu cầu của đề. Nh vậy, xác định
của đề là suy nghĩ, định h ớng, xác định nội dung sẽ viết theo yêu cầu của đề. Cụ
thể là xác định nhân vật, sự việc, tình tiết, diễn biến, kết qua và ý nghĩa của truyện.
Nếu là truyện sáng tạo thì cần phải nghĩ về việc đặt tên truyện.
Với việc xác định ý của đề tuỳ theo yêu cầu của đề bài mà giáo viên h ớng
dẫn cho học sinh cách xác định ý, lựa chọn ý cho bài viết. Để làm sáng tỏ yêu càu
của đề bài học sinh cần phải triển khai, trình bày nội dung cụ thể của đối t ợng, tức
là cần trả lời câu hỏi: viết những gì ? Với bài van tự sự học sinh cầnphải xác định
nhân vật, sự việc, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của câu chuyện.
2 .Xác định câu chủ đề cho từng ý .
Trong văn bản tự sự có nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn th ờng diễn đạt một ý t -

ng ời chồng thật xứng đáng .
4. Cách viết đoạn văn tự sự .
Một đoạn văn tự sự thông th ờng gồm có cấu tạo ba phần: Mở bài, Thân bài,
Kết bài.
Mở bài và Kết bài th ờng đ ợc viết thành một đoạn văn, còn phần thân bài gồm
nhiều đoạn văn.
4.1 . Cách viết đoạn Mở bài :
Phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu nhân vật, tình huống phát sinh câu
chuyện, không gian, thời gian của câu chuyện. Nh vậy, phần này phải trả lời các
câu hỏi: câu chuyên xảy ra ở đâu ? Vào không gian nào ? Câu chuyện có mấy
nhân vật ? Nhân vật chính là ai ? Cũng có lúc ng ời ta bắt đầu từ một sự cố nào đó,
hoặc kết cục câu chuyện, số phận nhân vật, rồi ng ợc lên kể lại từ đầu.
Nhìn chung cách mở bài của bài văn tự sự rất phong phú đa dạng, bao gồm:
*Giới thiệu nhân vật và tình huống phát sinh câu chuyện. Cách mở bài này
nhằm thu hút ng ời đọc, tạo sự tò mò đối với ng ời đọc. Cách này ta th ờng thấy
trong những câu chuyện cổ tích, chuyện ngụ ngôn.
Ví dụ: Hùng V ơng thứ m ời tám có một ng ời con gái tên là Mị N ơng, ng ời
đẹp nh hoa, tính nết hiên dịu, vua cha yêu th ơng hết mực, muốn kến cho con một
ng ời chồng thật xứng đáng .
* Cách mở bài giới thiệu trực tiếp nhân vật.
Ví dụ: Cô Mắt, cậu chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng từ x a vẫn sông với
nhau khá thân thiết.
* Cũng t ơng tự nh cách mở bài giới thiệu trực tiếp nhân vật nh ng có khi kể lại
theo ngôi thứ nhất, nhân vật trong truyện tự giới thiệu về mình.
Ví dụ: Chúng tôi có ba ng ời. Ba cô gái. chúng tôi ở trong một hang d ới
chân núi cao điểm. Con đ ơng qua tr ớc hang kéo lên đồi đi đến đâu đóxa ! Đ ờng
bị đánh lỡ loét, Màu đất đỏ, trắng lẫn lộn. Hai bên đ ơng không có lá xanh, chỉ
có những thân cây bị t ớc khô cháy. Những cây nhiều rể nằm lăn lóc. Những tảng
đá to.Một vài cái thùng xăng hoặc vành ô tô méo mó, han ghỉ nằm trong lòng
đất .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status