CHẤT LIỆU CỦA VĂN HỌC – ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT
* Phân biệt nghệ thuật ngôn từ và ngôn từ nghệ thuật
- Ngôn từ nghệ thuật vốn là kết quả của các biện pháp tu từ cùng cách tổ chức lời văn,
nhằm góp phần bộc lộ giá trị tư tưởng – thẩm mỹ trong một tác phẩm cụ thể.
- Nghệ thuật ngôn từ: Bàn về đặc trưng cơ bản của văn học với tư cách là một loại hình
nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, đối sánh với loại hình nghệ thuật có chất liệu khác.
A. Chất liệu của văn học – ngôn từ nghệ thuật
II.Đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật
- Văn học là một trong các hình thái ý thức xã hội nhưng văn học cũng là một ngành nghệ
thuật. Đặc trưng của một loại hình nghệ thuật, xét đến cùng là ở mặt chất liệu của nó:
+ Chất liệu của hội họa là màu sắc
+ Chất liệu của âm nhạc là tiết tấu
+ Chất liệu của vũ đạo là hình thể và động tác…
+ Chất liệu của văn học là ngôn từ
- Ngôn từ của văn học được lấy từ trực tiếp lời nói. Đó không phải là ngôn từ logic chỉ
tác động vào chủ yếu vào lý tính như trong triết học, chính trị… mà đó phải là ngôn từ
giàu tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn con người.
Xuất phát từ chất liệu, trong thế đối sánh với các loại hình nghệ thuật khác, văn học với
tư cách là nghệ thuật ngôn từ sẽ mang những đặc điểm sau:
1.Tính hình tượng - gián tiếp:
* Các loại hình nghệ thuật khác:Chất liệu của các loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu
khắc, vũ đạo… dù là màu sắc, vật thể, hình thể, động tác… đều là vật chất. Chúng đều
có tính hình tượng trực tiếp nghĩa là chúng ta có thể trực tiếp nghe nhìn hình tượng
từ các loại hình nghệ thuật này.Các chất liệu này cũng đem tới cho các loại hình nghệ
thuật trên tính trực quan.VD: ta có thể ngắm bức họa “Mùa thu vàng”, nghe bản giao
hưởng “Bốn mùa”, xem múa ba lê…
* Văn học:
- Ngôn ngữ không phải là vật chất hay vật thể mà chỉ là kí hiệu của chúng mà thôi,
nên hình tượng mà thơ văn xây dựng không thể nghe nhìn một cách trực quan. Song
ngôn ngữ tác động vào vỏ đại não nên cuối cùng ta vẫn nghe thấy một cách gián tiếp qua
óc tưởng tượng của chúng ta.
- Nếu như các ngành nghệ thuật khác, hình tượng của nó chỉ có thể cảm thụ bằng 2
giác quan là thị giác và thính giác, thì hình tượng phi vật thể của văn chương lại có
khả năng tác động tới tất cả các giác gian của người đọc, không chỉ ở cơ quan thị
giác mà cả thính giác, vị giác và khứu giác, thậm chí cả trực giác. Ðộc giả dường như
phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận hình tượng văn chương.
VD: Đọc những câu thơ sau, độc giả không chỉ tưởng tượng ra hình ảnh một đất nước Cu
ba trù phú, tươi đẹp mà còn phải vận dụng tất cả mọi giác quan cụ thể để tiếp nhận hình
tượng.
Em ạ! Cuba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương
Cam ngon, xoài ngọtvàng nông trại
Ong lạc đường hoa rộn bốn phương
2. Tư duy - trực tiếp:
- Các loại hình nghệ thuật khác: Khó có thể bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người viết
mà cần phải thông qua tưởng tượng và chiêm nghiệm của công chúng để hiểu được
suy tư và cảm nghĩ của tác giả.
Ví dụ: Bức tranh nàng Mona Lisa là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn
dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục
Hưng Italia.Bức tranh nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci đã tạo cảm hứng cho rất
nhiều nhà phân tích, từ nghệ thuật tới khoa học, từ phân tích quang học tới phân tích tâm
lý học, hình thành hình ảnh "nụ cười Mona Lisa" trong văn học, đại diện cho một cái gì
đó rất bí ẩn nhưng thật sâu xa, không mặt nàng không biết nàng đang cười hay đang
khóc, đấy là một bí mật không ai biết.
- Văn học: Ngôn ngữ được coi là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư duy”, là kí hiệu của
tư duy. Lấy ngôn ngữ làm chất liệu, văn học có thể bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm
của nhà văn, của nhân vật. Văn học cổ kim đông tây cho ta biết vô vàn suy nghĩ của con
+ Lấy chất liệu là ngôn ngữ - phi vật thể, văn học có thể mô tả, hình dung về bất cứ sự
vật nào trong thế giới vĩ mô và vi mô. Không gian trong văn chương có thể rất hẹp cũng
có thể rất rộng: một sự vật, một con người, một căn phòng v.v... và có thể là một công
trường, một chiến trường. Nói chung, không gian trong văn chương không bị một hạn chế
nào. có họa sĩ nào vẽ được không gian của “Tây du kí”, ‘Tam quốc chí”, “Chiến tranh và
hòa bình”… Không gian trong văn chương được di chuyển rất dễ dàng. Ðang ở không
gian này người đọc có thể được đưa sang một không gian khác một cách dễ dàng và bất
kỳ ở đâu. Sự thay đổi không gian trong văn chương cũng không bị hạn chế.Khả năng bao
quát của không gian trong văn chương là vô cùng. Không một bức tranh nào so sánh nổi
khả năng này của văn chương.
Ví dụ 1: L.Tônxtôi đã dựng lại khung cảnh của chiến trường Burađinô một cách hoành
tráng, sinh động qua tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”. Dẫu có vẽ liên hoàn cũng khó
có thể tái hiện lại được một cách tỉ mỉ như vậy.
Ví dụ 2: Không chỉ tái hiện một không gian đồ sộ, quy mô, văn học cũng đi sâu vào thế
giới vi mô, khơi dậy những rung động nhỏ bé mà tinh tế vô cùng. Sự giao tranh của mùa
hạ và mùa thu được thể hiện rõ nét qua những câu thơ sau:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mong manh
Người đọc có thể cảm nhận mùa sang trong phạm vi một khu vườn, trong quy mô của
từng chiếc lá khi sắc đỏ đang dần lấn lướt sắc xanh.
+ Văn chương thiên về miêu tả quá trình đời sống, sự vận động, tái hiện các hành động.
Ngay miêu tả một sự vật cũng vậy, nhà văn không dừng lại ở chỗ liệt kê, thống kê tỉ mỉ
một cách tĩnh tại mà khai thác sự vận động trong chiều sâu của sự vật
VD: Nguyễn Du trong bức tranh sau đây đã nhìn thấy sự vận động của tạo vật mà con
mắt thường không thể thấy được.
Xập xè én liệng tầng không
Nhưng đã tan ra vạn sắc hồng.
Về mặt nhịp độ, thời gian trong văn chương có thể trôi nhanh hay chậm; đều đặn
êm đềm hay biến động căng thẳng. Thời gian trong bài thơ “Nhật ký” của Hoàng Nhuận
Cầm sau đây trôi rất nhanh:
Sáng: Bình minh ấy là bình minh kỉ niệm
Chiều: Hoàng hôn như lạ lại như quen
Tối: Tắc kè kêu ném lưỡi vào đêm
Có ngủ được đâu
Nằm nghe lá thở
Nằm nghe súng nổ
Thôi, sáng rồi vẫn tiếng gà xóm mẹ
Cuốn võng vào theo hướng súng mà đi
Mối quan hệ thời gian giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong văn chương có thể rất gần
+ Thời gian trong văn chương có thể diễn ra cùng chiều với thời gian tự nhiên
ngoài đời; cũng có thể có sự đảo lộn giữa các khoảng thời gian, sự đồng hiện của các
khoảng thời gian.
VD: Thời gian ở bài “Viếng bạn” của Hoàng Lộc: quá khứ và tương lai rất gần
nhau:
Hôm qua còn theo anh
Ði ra đường quốc lộ
Sáng nay đã chặt cành
Ðắp cho người dưới mộ
.....................................
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung
VD: Ở bài “Quê hương” của Giang Nam mối liên hệ thời gian khá xa - từ thuở còn
Ở phần I, chúng ta đã tìm hiểu những điểm khác của văn học với các ngành nghệ thuật
khác. Trong phần này, ta sẽ tìm hiểu những điểm giống, điểm tương đồng của văn học so
với các ngành nghệ thuật khác.Biêlinxki coi văn chương là loại nghệ thuật hàng đầu.Thơ
ca là loại nghệ thuật tối cao ... vì vậy, thơ ca bao hàm trong bản thân nó tất cả mọi yếu tố
của các nghệ thuật khác, dường như nó bất ngờ sử dụng được một cách hữu cơ mọi
phương tiện khác nhau của các nghệ thuật khác. Thơ ca chính là toàn bộ chỉnh thể của
nghệ thuật...
1. Văn học với hội họa
- Văn học và hội họa có mối quan hệ mật thiết. Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn chương
và hội họa khá đa dạng.Trước hết là ở chỗ chúng học tập lẫn nhau các biện pháp, thủ
pháp nghệ thuật. Chẳng hạn, văn chương sử dụng biện pháp hài sắc, độ sáng tối, luật cận
viễn. Tác giả dân gian đã dùng các màu sắc các màu sắc để vẽ nên màu sắc của sen:
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng
Cũng có thể chỉ dùng một thứ màu:
Tổ quố c tôi chưa đẹp thế bao giờ
Xanh núi, xanh sông, xanh đồng xanh biển
Xanh trời, xanh của giấc mơ.
Cũng có thể phối hợp màu sắc (hài sắc):
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu.
Phối hợp xa gần (luật viễn cận):
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
- Hội họa chịu ảnh hưởng của khả năng nêu vấn đề, phương thức phản ánh của văn học.
Trước đây chức năng minh họa của hội họa được đề cao, nhưng do tác động của văn
chương và nhiều ngành nghệ thuật khác mà trong mấy thế kỷ nay bản chất hội họa có
thay đổi, tính minh họa bị đưa xuống hàng thứ yếu, điều cốt yếu của hội họa ngày nay là
khả năng khái quát nghệ thuật, tính diễn cảm và năng động.
Ngoài ra, chúng ta thường thấy là hội họa tìm các chủ đề và đề tài cho mình từ các hình
tượng văn chương.
- Ngôn từ nghệ thuật là kết quả của những biện pháp tu từ, cách tổ chức lời văn, nhằm
góp phần bộc lộ giá trị tư tưởng – thẩm mỹ của một tác phẩm cụ thể. Như vậy, ngôn ngữ
nghệ thuật có điểm giống mà có điểm khác so với ngôn ngữ thông thường. Điểm khác đó
sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.
1. Tính thẩm mỹ
- Tại sao ngôn ngữ văn học có tính thẩm mỹ?
Bởi đáp ứng nhu cầu về cái đẹp là một trong những yêu cầu cơ bản của văn học. Lấy chất
liệu và ngôn ngữ, các nhà văn, nhà thơ hướng sự chú ý vào văn bản, làm cho ngôn ngữ
văn học trau chuốt, tinh xác, có sự hòa phối hoàn chỉnh giữa hai mặt ngữ âm và ngữ
nghĩa…
- Biểu hiện: Bản thân ngôn ngữ gồm hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa. Người nghệ sĩ chú
trọng khai thác sự hòa phối của hai phần này. Cụ thể như sau:
+ Xét về góc độ ngữ âm:
Lời văn nghệ thuật gắn liền với các yếu tố: thanh, vần, âm, nhịp điệu...Những yếu tố này
thường tạo được những hiệu quả đáng kể. Trong văn học, khi nhà văn chọn lựa thanh
bằng hoặc trắc, trầm hay bỗng, mở hay khép, nhịp điệu khoan hay nhặt...đều có ảnh
hưởng đến việc biểu hiện nội dung.Người xưa thường nói "Thi trung hữu nhạc". Lê Ðình
Diên viết: "Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự hổ trợ của thơ, tình rung động phát
ra thành thanh, người ta có thanh mà sau đó có ý".
VD: Câu thơ của Tản Ðà:
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
Có 5 thanh trắc cuối và hai phụ âm cuối tắt thanh hầu (p,t) tạo nên sự uất nghẹn. Bảy
thanh bằng kết hợp với các âm cuối vang (n, ng), 3 âm tiết mở (ô, ê, ê) tạo nên sự rộng
mở, thanh thoát, phù hợp với tâm trạng thoát trần.
Như vậy, sự kết hợp các yếu tố thanh, vần, nhịp điệu...có những vai trò nhất định góp
phần diễn đạt những sắc thái khác nhau của lời văn trong tác phẩm nghệ thuật.
+ Xét về góc độ ngữ nghĩa
sử chỉ trong một vài dòng ngắn gọn. Tuy nhiên, hình tượng Thục Phán An Dương Vương
đã trở nên sinh động, gần gũi với đời thường trong “Truyền thuyết An Dương Vương và
Mị Châu – Trọng Thủy”.
VD: Người đọc như thấy hiện ra trước mặt bức chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều sinh
động trong đoạn trích “Hai chị em Thúy Kiều”.
3. Tính biểu tượng, đa nghĩa
- Tại sao ngôn ngữ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa?
Văn chương nghệ thuật là sự hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Hiện thực cuộc
sống đi vào văn học bao giờ cũng được chọn lọc, kết tinh những vấn đề bản chất nhất.Vì
thế, hình tượng văn học bao giờ cũng mang nhiều tầng ý nghĩa, chứa đựng những vấn đề
nhân sinh…Mặt khác do muốn thể hiện tầng ý nghĩa rộng lớn mà chỉ giới hạn trong một
dung lượng nhất định, văn học cần xây dựng những biểu tượng, lớp ngôn ngữ đa nghĩa.
- Biểu hiện: Tính biểu tượng và tính đa nghĩa song hành với nhau. Sở dĩ văn học tạo nên
được các biểu tượng là bởi ngôn ngữ văn học có tính đa nghĩa.
+ Văn học đã xây dựng những hệ thống biểu tượng. Biểu tượng trog văn học là những
hình ảnh cụ thể, sinh động. VD: biểu tượng “con cò” trong ca dao là tượng trưng cho
người phụ nữ Việt Nam lam lũ, tảo tần, giàu đức hi sinh…
VD: Hình ảnh miếng trầu têm cánh phượng trong truyện cổ tích “Tấm Cám” không chỉ là
vật gắn kết giữa nhà vua và cô Tấm mà còn là biểu tượng của sự thủy chung, son sắt.
+ Tính đa nghĩa biểu hiện ở việc một từ trong văn bản có thể mang nhiều nghĩa.
VD: Trong bài “Mùa xuân nho nhỏ”
Mùa xuân người cầm súng
Lộc trải đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Điệp từ "lộc" láy lại đầu câu có nhiều nghĩa khác nhau. Từ "lộc" theo nghĩa gốc là chồi
non, lá mới, là cành lá ngụy trang trên lưng người chiến sĩ ra mặt trận.Từ“lộc” theo nghĩa
chuyển biểu thị cho một niềm tin, một sức sống, là sự trẻ trung, biểu trưng cho sức sống