BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
XÁC ĐỊNH PHÂN BỐ LIỀU BỨC XẠ PHOTON Ở LỐI
RA CỦA MÁY GIA TỐC PRIMUS – SIEMENS DÙNG
TRONG XẠ TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LÝ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực hiện, Bản Luận văn “Xác định phân bố liều bức xạ photon ở
lối ra của máy gia tốc Primus Siemen dùng trong xạ trị” đã được hoàn thành
Với tình cảm đặc biệt chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Bùi
Văn Loát - Trường Bộ môn Vật Lý Hạt nhân - trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội,
thầy đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện Luận Văn
này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên trong khoa Xạ Trị bệnh viện
K- Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực tập tại
bệnh viện
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo khoa Vật Lý, khoa KHCN - Sau
Đại học Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn
em trong quá trình học tập tại trường.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song Luận Văn khó tránh khỏi
Phẫu thuật
Xạ trị
Hóa trị
Trong đó xạ trị là một phương pháp rất hiệu quả, đã và đang phát triển trên toàn thế giới và
tại Việt Nam. Xạ trị có thể được thực hiện điều trị đơn thuần hoặc kết hợp với phẫu thuật và hóa trị
để loại bỏ hoàn toàn khối u, góp phần làm giảm các triệu chứng đau đớn trên cơ thể người bệnh.
Phương pháp xạ trị hiện đại và phổ biến trên thế giới hiện nay là xạ trị chiếu ngoài sử dụng
máy gia tốc tuyến tính – đây là phương pháp rất hữu hiệu trong điều trị ung thư.
Tháng 1 năm 2001, Bệnh viện K- Hà Nội được trang bị hệ thống máy gia tốc tuyến tính
Primus thế hệ mới nhất với nhiều ưu điểm nổi bật của hãng Siemens - một trong những hãng sản
xuất thiết bị y tế tốt nhất thế giới. Hiện nay trên cả nước đã có thêm một số cơ sở khác cũng đã sử
dụng máy gia tốc trong xạ trị trị như bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Đa khoa
Đà Nẵng…Phương pháp xạ trị từ xa sử dụng máy gia tốc hiện đang có xu hướng phát triển mạnh ở
nước ta.
Một trong các nguyên tắc cần phải đảm bảo trong điều trị bằng tia xạ nói chung và xạ trị
bằng chùm photon phát ra từ máy gia tốc nói riêng là liều bức xạ phải tập trung và đồng đều tại khối
u và giảm thiểu tối đa liều tại các tổ chức lành bao quanh khối u. Để có thông tin chính xác trong
việc tính toán liều chiếu và hình học chiếu cần phải biết dạng phân bố liều chiếu tại khu vực xung
quanh khối u.
Chương 3: Xác định bằng thực nghiệm:
- Phân bố liều chiếu bức xạ photon theo khoảng cách.
- Phân bố liều của chùm bức xạ photon năng lượng 6 MV và 15 MV trên các mặt phẳng
vuông góc với trục của chùm bức xạ ở ngoài không khí và trong phantom, từ đó đánh giá sự đồng
liều hấp thụ tại khối u.
- Xây dựng đường cong liều sâu phần trăm hay đồ thị phân bố liều hấp thụ tương đối theo
chiều sâu trong phantom nước, từ đó thấy hiệu quả của việc điều trị các khối u sâu dùng chùm
photon.
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG PHÁP XẠ TRỊ DÙNG TIA GAMMA
1.1 . TƯƠNG TÁC CỦA ELECTRON VỚI VẬT CHẤT
Khi chùm bức xạ bêta đi trong môi trường chúng tương tác với các nguyên tử của môi trường
và mất dần năng lượng của mình do hai quá trình chủ yếu là ion hóa do va chạm và phát bức xạ
hãm.
Sự mất năng lượng do va chạm là kết quả tán xạ không đàn hồi của bức xạ bêta với electron
nguyên tử của môi trường. Khác với hạt nặng tích điện, bức xạ bêta có khối lượng bằng khối lượng
electron, do đó sau mỗi lần tương tác với electron nguyên tử của môi trường, hạt bêta có thể mất
phần lớn năng lượng của mình. Ngoài ra, góc tán xạ biến đổi từ 00 đến 1800. Đường đi của hạt bêta
trong môi trường là đường zic-zắc. Trên đường đi năng lượng của bức xạ bêta giảm dần nên vận tốc
của nó cũng giảm dần. Hạt bức xạ bêta chuyển động có gia tốc. Bức xạ bêta chuyển động có gia tốc
trong trong trường Coulomb của hạt nhân và trường Coulomb của electron. Theo điện động lực học
cổ điển, bức xạ bêta sẽ phát bức xạ hãm. Xác suất phát bức xạ hãm càng lớn khi khối lượng của hạt
càng nhỏ, năng lượng càng lớn và nguyên tử số của môi trường càng tăng. Độ mất mát năng lượng
riêng do phát bức xạ trên một đơn vị đường đi của bức xạ bêta được [6] xác định theo công thức
sau :
dE dE
dE
của mình. Do khối lượng của bêta bằng khối lượng của electron, nên sau mỗi lần va chạm, xác suất
để bức xạ bêta mất một nửa năng lượng của mình là lớn nhất. Độ mất mát năng lượng của bức xạ
bêta trên một đơn vị đường đi được [6] xác định theo công thức Bethe-Bloch:
Z 1 k 2 (k 1)
CV
dE
2
2
)
P(k ) (1.2
2 .N A .re .me .c . . . 2 ln
2
A 2(1 / me c )
Z
dx Col
trong đó: NA là số Advogadro, re, me là bán kính cổ điển tính ra cm và khối lượng của electron; Z, A
là điện tích và số khối của môi trường, là mật độ khối của môi trường;
v
với v là vận tốc của
c
hạt bêta và c là vận tốc ánh sáng, k là động năng của hạt bêta tính trong đơn vị mec2, , Cv là hệ số
hiệu chỉnh hiệu ứng mật độ và hiệu ứng vỏ; F(k) là hàm của động năng.
Hàm F(k) có dạng sau:
k2
(2k 1). ln 2
F (k ) 1 2 8
dx rad
me .c
trong đó N là số nguyên tử môi trường trong một đơn vị thể tích; E0 là động năng của electron,
1
là hằng số cấu trúc tinh tế, me là khối lượng nghỉ của electron; Z là điện tích của hạt nhân.
137
Độ mất mát năng lượng do phát bức xạ hãm tăng theo hàm logarit tự nhiên của năng lượng.
Khi năng lượng tăng độ mất mát năng lượng do phát bức xạ hãm tăng theo, trong khi đó, độ mất
mát năng lượng do ion hóa hầu như không đổi. Khi năng lượng của electron cỡ vài MeV trở lên,
mối liên hệ giữa độ mất mát năng lượng do phát bức xạ hãm và do ion hóa được xác định theo công
thức sau:
dE
dx rad EZ
800
dE
dx col
(1.5)
Từ công thức (1.2) và (1.4) nhận thấy, độ mất mát năng lượng trên một đơn vị đường đi của
1
0,367 do phát bức xạ hãm. Chiều dài
e
bức xạ của một chất phụ thuộc vào nguyên tử số và số khối của nó. Chiều dài bức xạ kí hiệu là X0
được xác định theo công thức [6 ]:
Xo
716,4. A
( g / cm 2 )
287
Z .( Z 1). ln
Z
(1.8)
trong đó Z là nguyên tử số, A là số khối của nguyên tử môi trường.
Đối với môi trường phức tạp nhiều thành phần, chiều dài làm chậm bức xạ của môi trường
được xác định theo chiều dài làm chậm bức xạ của tất cả các thành phần có trong môi trường theo
công thức sau:
n
1
1
A
qi . i
X o i 1 AM X i
nguyên tử số lớn, để làm bia phát bức xạ.
Từ công thức (1.10) ta thấy sự mất mát năng lượng của chùm hạt electron tỉ lệ với chiều dài
đường đi của nó trong môi trường vật chất, hay năng suất hãm sẽ tăng khi bề dày bia tăng. Tuy
nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng khi bề dày bia tăng sẽ kéo theo nhiều hiệu ứng không
mong muốn. Khi bề dày bia quá lớn, năng lượng của hạt electron bị mất mát không do phát bức xạ
tăng lên. Mặt khác, các photon của bức xạ sinh ra sẽ bị hấp thụ một phần ngay bên trong bia. Trong
các bia có bề dày lớn hơn chiều dài bức xạ thì chùm electron năng lượng cao chuyển động trong đó
sẽ tạo ra hiện tượng mưa rào thác lũ electron - photon làm cho việc tính toán phân bố của chùm tia
tạo ra rất rắc rối, khó thực hiện được. Do đó, bề dày bia phải được tính toán thật phù hợp. Một bia
hãm phù hợp nhất là bia cho lượng bức xạ hãm lớn nhất ở một năng lượng xác định của electron tới.
Khi nghiên cứu sự phụ thuộc của năng suất hãm bức xạ vào bề dày của các bia nặng với mỗi
giá trị năng lượng xác định của electron, về cơ bản có thể biểu diễn bằng đường cong có dạng như
hình 1.1.
Từ đồ thị ta thấy trên đường cong có một đỉnh cực đại. Như vậy, với mỗi chất liệu làm bia,
tại một giá trị năng lượng electron xác định có một giá trị bề dày để năng suất hãm bức xạ đạt giá trị
lớn nhất. Giá trị đó chính là bề dày tối ưu của bia hãm bức xạ bêta. Giá trị này được tìm từ thực
nghiệm. Người ta thấy rằng với electron có năng lượng trong khoảng 5 MeV đến 30 MeV thì các
g
bia nặng có bề dày tối ưu để hãm bức xạ là bằng khoảng 0,3 lần chiều dài bức xạ của nó.
1.4
E e = 17 M e V
(
1.2
Nói chung bề dày tối ưu của một bia hãm bức xạ thường nhỏ hơn quãng chạy của electron
trong môi trường đó.
10
8
6
4
2
0
-8
-6
-4
-2
0
2
4
6
Hình 1.3. Sơ đồ hiệu ứng hấp thụ quang điện
Để xảy ra hiện tượng hấp thụ quang điện đối với một electron nằm ở lớp nào đó của nguyên
tử thì năng lượng của photon bị hấp thụ phải lớn hơn thế năng ion hóa của lớp đó. Xác suất xảy ra
hấp thụ quang điện được đặc trưng bằng tiết diện hấp thụ quang điện trên một nguyên tử a (cm2).
Người ta gọi xác suất xảy ra hiện tượng quang điện trên một đơn vị thể tích môi trường chất
hấp thụ là hệ số suy giảm tuyến tính của môi trường đối với hiệu ứng quang điện, ký hiệu kq , được
[6] tính bằng công thức:
kq .
NA
. a
MA
(1.12)
trong đó: là mật độ môi trường; MA: nguyên tử gam chất hấp thụ; NA: số Avôgađrô.
Mặt khác, để đặc trưng cho khả năng hãm bức xạ của một môi trường, người ta thường dùng
hệ số suy giảm khối. Hệ số suy giảm khối của một môi trường đối với hiệu ứng quang điện được
tính như sau:
q
kq
( 1.13 )
Từ hai công thức trên ta rút ra được công thức tính hệ số suy giảm khối do hấp thụ quang
( 1.16 )
trong đó Z là nguyên tử số của môi trường; IK và IL là thế năng ion hóa của lớp K và lớp L của
nguyên tử môi trường.
Từ hai công thức trên ta thấy khi Z càng lớn thì hệ số hấp thụ quang điện càng lớn. Nghĩa
là hiện tượng quang điện xảy ra mạnh với với các chất có nguyên tử số lớn hay các nguyên tố nặng.
Mặt khác, khi năng lượng của bức xạ photon tăng thì tiết diện hấp thụ quang điện giảm theo hàm E3
.
1.2.2. Tán xạ Compton
Theo sự tăng năng lượng của bức xạ photon, khi tiết diện xảy ra hấp thụ quang điện giảm
thì tiết diện tán xạ Compton tăng lên. Khi đó, đây là quá trình chủ yếu làm suy giảm năng lượng của
bức xạ photon đi trong môi trường vật chất.
Tán xạ Compton là quá trình tán xạ không đàn hồi của photon với các electron tự do hoặc
electron liên kết yếu trong nguyên tử của môi trường. Trong quá trình tán xạ Compton, photon tới
truyền một phần năng lượng của mình cho electron và bị tán xạ theo hướng tạo với phương tới một
góc nào đó gọi là góc tán xạ. Kết quả là electron tán xạ nhận được một năng lượng giật lùi và năng
lượng của chùm photon thì bị giảm đi.
Hình 1.4. Sơ đồ hiện tượng tán xạ Compton
Tán xạ Compton xảy ra mạnh khi năng lượng của bức xạ photon lớn hơn nhiều so với năng
lượng liên kết của electron. Khi năng lượng của bức xạ photon tăng, các electron tán xạ bay theo
hướng ưu tiên về phía trước (nghĩa là góc tán xạ nhỏ). Năng lượng của bức xạ photon tán xạ phụ
thuộc vào góc tán xạ và năng lượng của bức xạ photon tới theo công thức [6]:
Etx
Et
k 2 (1 2k ) 2
( 1.18)
trong đó ro là bán kính cổ điển, bằng 2,82.10-13cm.
Trong nguyên tử có Z electron, tiết diện tán xạ Compton trên một nguyên tử được xác định theo
công thức:
a Z . e
(1.19)
Hệ số suy giảm khối của quá trình tán xạ Compton được tính bằng công thức:
Z
C
A
C ( N A / M A ) a N A
( 1.20)
trong đó, Z và MA là nguyên tử số và nguyên tử lượng của chất tán xạ; NA là số Avôgađrô.
1.2.3. Hiện tượng tạo cặp
Khi năng lượng của photon tiếp tục tăng và lớn hơn 1,022MeV, khi photon đi trong vật chất có
thể xảy ra hiện tượng tạo cặp. Hiện tượng tạo cặp chỉ xảy ra trong trường Coulomb của hạt nhân
hoặc một electron, trong đó năng lượng của photon được biến đổi hoàn toàn thành các hạt vật chất.
Hình 1.5. Hiệu ứng tạo cặp
Xét quá trình tạo cặp xảy ra trong trường Coulomb của một hạt nhân. Khi một photon năng
lượng cao bay vào trong trường Coulomb của hạt nhân nó bị hấp thụ hoàn toàn, tạo ra một cặp
thực nghiệm, thu được công thức tính gần đúng như sau:
tc ~ Z 2 . ln
( 1.23 )
trong đó, Z là nguyên tử số của môi trường;
là năng lượng của lượng tử gamma
Từ công thức trên có thể thấy hiện tượng tạo cặp xảy ra mạnh trong trường Coulomb của hạt
nhân khi môi trường có nguyên tử số càng lớn và khi năng lượng của lượng tử gamma càng tăng.
Người ta thấy rằng, khi năng lượng lớn hơn ngưỡng tạo cặp, tiết hiện tạo cặp sẽ tăng nhanh khi năng
lượng của bức xạ photon tăng.
Xét quá trình tạo cặp xảy ra trong trường Coulomb của một electron. Khi đó, có hai cặp
electron - positron được tạo thành. Ngưỡng tạo cặp trong trường hợp này gấp đôi trong trường hợp
trong trường Coulomb của hạt nhân, có giá trị là:
ng 4.mo .c 2 2,044 MeV
( 1.24)
Tuy nhiên, xác suất tạo cặp trong trường Coulomb của electron nhỏ hơn rất nhiều so với xác suất
tạo cặp trong trường Coulomb của hạt nhân.
1.3. CÁC ĐƠN VỊ ĐO LIỀU BỨC XẠ
1.3.1 Hoạt độ phóng xạ
Hoạt độ phóng xạ của một nguồn phóng xạ hay một lượng chất phóng xạ nào đó chính là số
hạt nhân phân rã phóng xạ trong một đơn vị thời gian. Hoạt độ phóng xạ được xác định theo công
thức sau:
a
X
dQ
dm
(1.28)
Trong đó: dm là khối lượng không khí tại đó chùm tia X hoặc chùm bức xạ gamma bị hấp
thụ hoàn toàn, kết quả tạo ra trên dm tổng các điện tích cùng dấu là dQ.
Đơn vị liều chiếu trong hệ SI là C/kg. Ngoài ra, trong kỹ thuật người ta còn dùng đơn vị là
Rơnghen, được kí hiệu là R.
1 R = 2,58.10-4 C/kg.
(1.29)
b) Suất liều chiếu
Suất liều chiếu chính là liều chiếu trong một đơn vị thời gian. Suất liều chiếu kí hiệu là
*
X được xác định theo công thức sau:
*
X
X t
(1.30)
trong đó X là liều chiếu trong thời gian t.
Đơn vị đo suất liều chiếu trong hệ SI là C/kg.s. Tuy nhiên, trong thực nghiệm, đơn vị đo suất
1 rad = 0,01 Gy hay 1Gy = 100 rad.
(1.34)
Qua các định nghĩa, ta nhận thấy giữa liều hấp thụ và liều chiếu có mối liên hệ tuyến tính với
nhau:
D = f. X
(1.35)
Trong đó D là liều hấp thụ, X là liều chiếu, f là hệ số tỉ lệ. Trong không khí hệ số f = 0,869
rad/R. Trong cơ thể người, f= 0,869 rad/R.
b) Suất liều hấp thụ
Suất liều hấp thụ
*
D
chính là liều hấp thụ trong một đơn vị thời gian, xác định theo công
thức:
*
D
D t
(1.36)
(1.40)
Bảng 1.1. Trọng số bức xạ WR đối với một số loại bức xạ [2], [6]
Loại bức xạ
Năng lượng
Tia X, gamma, beta
Neutron
Proton
WR
Bất kỳ
1
Nhiệt (0,025eV)
5
0,01 MeV
10
0,1 MeV
H
H
t
(1.41)
trong đó H là liều tương đương trong thời gian t.
Đơn vị suất liều tương đương trong hệ SI là Sv/s. Đơn vị khác là Sv/h, Sv/h, rem/s hay
rem/h.
Lưu ý: Khi định nghĩa liều tương đương, chúng ta đã coi tất cả các mô sinh học hay cơ quan
trong cơ thể có cùng một độ nhạy cảm bức xạ.
1.3.5 Độ truyền năng lượng tuyến tính
Năng lượng của bức xạ bị hấp thụ trong vật chất chưa đủ để đặc trưng cho hiệu ứng sinh học
xảy ra trong vật chất. Thực nghiệm chỉ ra rằng các hiệu ứng sinh học phụ thuộc vào sự phân bố
năng lượng đã bị hấp thụ trên đường đi của bức xạ trong vật chất.
Để đặc trưng cho sự phân bố độ mất mát năng lượng bức xạ trên đường đi trong vật chất,
người ta dùng khái niệm độ truyền năng lượng tuyến tính, ký hiệu là LET. Độ truyền năng lượng
tuyến tính, được xác định theo công thức:
LET
dE
dl
(1.42)
trong đó dE là độ mất mát năng lượng trên quãng đường dl.
Bảng 1.2. Giá trị LET trung bình trong nước của một số bức xạ ion hóa [2]
Bức xạ
100
145
3700
290
Trong hệ SI, đơn vị đo độ truyền năng lượng tuyến tính là J/m hay keV/m
Sự phân bố năng lượng hấp thụ của bức xạ trong vật chất còn phụ thuộc vào bản chất của
mỗi loại bức xạ. Đối với bức xạ ion hóa gián tiếp, độ truyền năng lượng tuyến tính nhỏ hơn nhiều so
với bức xạ ion hóa trực tiếp.
1.3.6 Liều giới hạn
Khi tiếp xúc với các chất phóng xạ hay nguồn phóng xạ, các bức xạ ion hoá, các nhân viên
công tác bị chiếu xạ và nhận được một liều hấp thụ nào đó. Tùy thuộc vào liều hấp thụ mà nhân viên
nhận được, bức xạ hạt nhân sẽ ảnh hưởng khác nhau đến họ. Để đảm bảo sức khỏe cho nhân viên
làm việc, cần phải giảm ảnh hưởng của các bức xạ. Về mặt an toàn bức xạ hạt nhân, cần đưa ra
những quy định cụ thể về liều hấp thụ cho phép mà người nhân viên còn có thể làm việc trực tiếp
với nguồn phóng xạ hay bức xạ ion hóa.
Liều giới hạn được hiểu là giá trị lớn nhất của liều hấp thụ tích lũy trong một năm mà người
làm việc trực tiếp với bức xạ hạt nhân có thể chịu được, không ảnh hưởng đến sức khỏe của bản
thân [1], [2] ,[6].
Theo quy định chung về luật lao động, người có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên mới được làm việc
trong cơ sở sử dụng bức xạ hạt nhân. ICRP đã khuyến cáo công thức tính liều hấp thụ tích lũy cho
phép trong một năm đối với nhân viên chuyên nghiệp làm việc trực tiếp với nguồn phóng xạ [2]:
D = 50 (N-18) nSv hay D = 5(N-18) rem
(1.43)
Trong đó N là tuổi của nhân viên chuyên nghiệp N19, D là liều hấp thụ tích lũy trong một
năm
Bảng 1.3 Giới hạn liều hấp thụ tích lũy cho phép đối với người làm việc với bức xạ [3]
1.4. HIỆU ỨNG SINH HỌC CỦA BỨC XẠ
Khi bức xạ xuyên vào trong các mô tế bào của cơ thể sống, nó tương tác chủ yếu thông qua
quá trình ion hóa. Kết quả của quá trình ion hóa trong tế bào là tạo ra các cặp ion có khả năng phá
hoại cấu trúc phân tử của các tế bào, làm tế bào bị biến đổi hoặc bị tiêu diệt [7].
Đối với con người, cấu tạo mô cơ thể chủ yếu là nước. Khi bị chiếu xạ, phân tử H2O bị ion
hóa, phân chia thành các cặp H+ và OH-, các ion này bị kích thích lại tạo ra các ion khác…Năng
lượng của bức xạ khi đi qua cơ thể người càng lớn thì số lượng ion tạo ra càng nhiều. Các ion này
gây ra phản ứng rất mạnh, tác động trực tiếp tới các phân tử sinh học phổ biến là protein, lipit, ADN
làm cho cấu trúc của các phân tử này bị sai hỏng gây ra những hậu quả: kìm hãm hoặc ngăn cản sự
phân chia tế bào, làm sai sót nhiễm sắc thể dẫn tới việc tế bào bị chết hoặc bị biến đổi chức năng
hoặc gây đột biến gen, đó là do các tổn thương sau đó có thể làm mất hoặc sắp xếp lại các vật chất
di truyền trên phân tử ADN, làm chết tế bào. Trong đó quá trình làm chết tế bào là quá trình quan
trọng nhất trong việc điều trị ung thư.
Các tác dụng sinh học do tia xạ tạo ra kéo dài rất nhiều so với thời gian hấp thụ năng lượng.
Quá trình hấp thụ năng lượng diễn ra trong khoảng 10-10 s còn các hiệu ứng sinh học kéo dài từ vài
giây đến vài năm.Tùy theo liều lượng bức xạ mà cơ thể hấp thụ ít hay nhiều mà các biến đổi của các
tế bào có thể phục hồi được hay không. Và với cùng một liều lượng bức xạ, nếu hấp thụ làm nhiều
lần thì các biến đổi bệnh lí ít xảy ra với các mô tế bào hơn là hấp thụ trong một lần.
Sau khi bị chiếu xạ, các tổn thương của tế bào có thể phục hồi. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
các tế bào bình thường (các tế bào lành) có khả năng phục hồi nhanh hơn các tế bào ung thư. Khi
chiếu một liều lượng phù hợp thì có thể tiêu diệt được các tế bào ung thư còn các tế bào lành vẫn có
thể phục hồi lại được [4,5]. Người ta xây dựng được biểu đồ sự phụ thuộc của xác suất tiêu diệt tế
bào theo liều chiếu có dạng cơ bản như hình 1.6.