Nghiên cứu Quy trình thử ô nhiễm công nhận kiểu phương tiện cơ giới đường bộ hạng nhẹ theo tiêu chuẩn Châu Âu và đánh giá khả năng áp dụng trong điều kiện Việt Nam - chương 1 - Pdf 33

1
LỜI NÓI ĐẦU
Chúng ta biết rằng, đối với các nước phát triển, quy trình thử và giới
hạn ô nhiễm tương ứng kèm theo khi thử nghiệm công nhận kiểu phương tiện
cơ giới đường bộ (PTCGĐB) là công cụ quản lý hữu hiệu nhằm đạt được các
mục đích sau:
+ Cải thiện chất lượng không khí, nhất là tại các khu đô thị có mật độ
PTCGĐB tham gia giao thông lớn.
+ Kiểm soát nguồn phát thải từ PTCGĐB ngay từ giai đoạn thiết kế,
sản xuất. Đây là biện pháp có hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc kiểm tra
ô nhiễm các PTCGĐB đang lưu hành.
+ Bắt buộc các hãng sản xuất ô tô phải nhanh chóng áp dụng các công
nghệ tiên tiến nhằm cung cấp cho thị trường các PTCGĐB ít ô nhiễm hơn.
+ Tạo các rào cản hợp lý về mặt kỹ thuật nhằm bảo vệ sản xuất trong
nước trong xu hướng toàn cầu hoá, tránh đầu tư các công nghệ lạc hậu.
+ Tạo hành lang pháp lý cần thiết cho sự cạnh tranh bình đẳng giữa các
hãng sản xuất PTCGĐB…
Ngày 10/10/2005, Thủ Tướng Chính Phủ đã ký quyết định số
249/2005/QĐ-TTg về việc Quy định Lộ trình áp dụng Tiêu chuẩn khí thải
đối với phương tiện cơ giới đường bộ. Theo đó, các loại PTCGĐB được sản
xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới phải áp dụng các mức tiêu chuẩn khí thải theo
các Tiêu chuẩn Việt nam tương đương mức Euro 2 đối với từng loại xe kể từ
ngày 01/7/2007. Đối với xe cơ giới mà kiểu loại đã được chứng nhận, an toàn
kĩ thuật và bảo vệ môi trường trước ngày 01/7/2007 nhưng chưa được sản
xuất, lắp ráp thì áp dụng các mức tiêu chuẩn khí thải theo các Tiêu chuẩn Việt
nam tương đương mức Euro 2 đối với từng loại xe kể từ ngày 01/7/2008.
2
Để chuẩn bị cho Lộ trình này, chúng ta cũng đã xây dựng được một số
tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) có liên quan (như TCVN 224-01; TCVN 6211-
1996; TCVN 6431-1998; TCVN 6438-2001; TCVN 6568-1999; TCVN 6785-
2001; TCVN 6787-2001; TCVN 8621-2001...). Các tiêu chuẩn này đều dựa

đưa ra các ý kiến đánh giá có tính chất chủ quan về quy trình thử nghiệm ô
nhiễm công nhận kiểu PTCGĐB hạng nhẹ theo tiêu chuẩn Châu Âu; những
khó khăn, thuận lợi khi áp dụng quy trình thử này trong điều kiện thực tế của
Việt Nam.
Với những kiến thực được trang bị trong quá trình học tập, bản thân em
đã chủ động và tích cực trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn. Tuy
nhiên, do giới hạn về thời gian cộng với năng lực bản thân còn hạn chế, luận
văn của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng
góp của các Thầy để luận văn của em mang tính khoa học và thực tiễn hơn.
Qua đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GVC-TS
Nguyễn Hoàng Vũ cùng các Thầy trong Bộ môn Động cơ, Khoa Động Lực,
Học viện KTQS đã chỉ bảo nhiều ý kiến quý báu giúp em hoàn thành luận văn
của mình. Một lần nữa xin gửi tới các Thầy lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Hà Nội, Ngày 20 tháng 05 năm 2007
Học viên
Lê Hồng Hải
4
CHƯƠNG 1
ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG VÀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG
Trong những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ dân số, công nghiệp
hoá tăng nhanh kéo theo việc sử dụng các PTCGĐB phục vụ cho nhu cầu vận
chuyển cũng như đi lại của con người tăng nhanh. Khi PTCGĐB hoạt động sẽ
các chất độc hại trong khí thải sẽ phát tán vào môi trường và gây ô nhiễm.
Tại Việt Nam, sự bùng nổ PTCGĐB trong những năm gần đây đặc biệt
là tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…. đã làm cho
môi trường không khí xung quanh ở những thành phố này bị ô nhiễm nghiêm
trọng, nhiều lúc đã vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép. Nguyên nhân
chính của hiện tượng này là do khí thải từ các PTCGĐB, nhất là khi có ùn tắc
giao thông thì mức độ ô nhiễm có thể tăng lên từ 3 đến 5 lần, [4].

Nơi đo Thời gian đo CO
x
SO
2
HC
s
NO
x
SPM Pb
Tiêu chuẩn Việt Nam 5 0,3 - 0,1 0,2 0,005
Ngã Tư Sở
Buổi sáng 4,1 0,67 28,8 0,06 0,6 0,025
Buổi trưa 4,5 0,68 27,5 0,05 0,5 0,015
Buổi chiều 6,2 0,82 35,5 0,08 0,8 0,02
Cầu Giấy
Buổi sáng 3,5 0,55 24,0 0,05 0,5 0,015
Buổi trưa 4,1 0,61 25,0 0,04 0,4 0,025
Buổi chiều 5,0 0,60 28,0 0,05 0,7 0,025
Ngã Tư Vọng
Buổi sáng 4,5 0,67 27,0 0,08 0,6 0,03
Buổi trưa 4,0 0,83 27,0 0,08 0,5 0,01
Buổi chiều 3,5 0,67 25,0 0,06 0,6 0,02
Cầu Chương
Dương
Buổi sáng 5,5 0,83 28,0 0,07 1,0 0,025
Buổi trưa 5,0 0,76 27,0 0,08 0,8 0,025
Buổi chiều 6,5 1,0 35,0 0,09 1,5 0,03
Khu phố cổ
Buổi sáng 2,2 0,37 12,0 0,02 0,2 0,01
Buổi trưa 2,0 0,35 11,0 0,02 0,2 0,01

SO
2
NO
x
CO CO
2
HC VOC
Xe máy 20 12 70 44 73 92
Ô tô con 5 5 19 12 4 4
Xe buýt 20 6 0 8 0 1
Xe 3 bánh 0 0 0 0 1 1
Xe chở khách 0 0 3 1 1 0
Xe tải 55 77 8 35 21 2
Nhìn chung, lượng chất độc hại thải ra môi trường tỷ lệ thuận với lượng
và loại nhiên liệu mà các PTCGĐB tiêu thụ. Theo số liệu thống kê từ Bộ
Thương Mại và Ngân hàng Phát triển Châu Á [4], lượng nhiên liệu dùng cho
lĩnh vực giao thông vận tải hàng năm tại Việt Nam là khá lớn (Bảng 1.4).
Bảng 1.4. Lượng nhiên liệu tiêu thụ
trong lĩnh vực giao thông vận tải tại Việt Nam, [4].
Năm Nhiên liệu xăng, (1000 tấn) Nhiên liệu diesel, ( 1000 tấn)
1994 370 530
7
1995 668 493
1996 677 600
1997 779 686
1998 845 741
1999 900 800
2000 980 864
Căn cứ vào lượng nhiên liệu các PTCGĐB tiêu thụ trong một năm và
dựa vào mức độ tăng trưởng kinh tế, các nhà nghiên cứu dự báo chất độc hại

nhiễm trong khí xả động cơ đốt trong, [3].
Chất ô
nhiễm
Ành hưởng tới
sức khỏe
Mưa
axít
Sự phì
dưỡng
Ảnh
hưởng
Thay đổi khí hậu
Trực Gián Trực tiếp Gián tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status