Câu bị động và nghĩa bị động trong tiếng việt - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG TUẤN

“CÂU BỊ ĐỘNG” VÀ “NGHĨA BỊ ĐỘNG”
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ HAI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2006


LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh theo chương trình đào
tạo Thạc só hệ chính qui tập trung, từ 2003 đến 2006.
Bằng tất cả tình cảm chân thành của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường
Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn và Phòng KHCN sau Đại học của nhà trường đã tận tình giúp đỡ
dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập.
Trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình của Phó Giáo sư –
Tiến só Nguyễn Thò Hai, người giúp đỡ tôi trong thời gian làm đề tài. Tôi xin bày tỏ lòng tri ân chân thành
cùng với tất cả sự kính trọng sâu sắc nhất.
Nhân dòp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến PGS. Cao Xuân Hạo và các thầy cô, đồng nghiệp đã
quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi khi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng với tình cảm nồng thắm, xin gửi đến những người thân yêu nhất đã hết lòng động viên
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.

Việt?
Một vấn đề chưa được thống nhất triệt để, một vấn đề gây nhiều sự tranh cãi nhất
trong giới Việt ngữ học, vẫn đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về nó như đã


nêu trên, nhưng lại được chương trình phổ thông đưa vào giảng dạy. Nếu vậy học sinh sẽ
không bao giờ dám viết câu: Cơm đã dọn lên - mà sẽ viết Cơm đã được dọn lên. Cũng
tương tự như vậy, họ sẽ sửa các câu Tiền đã cất chưa; Báo mới đọc chưa…thành Tiền đã
được cất chưa, Báo mới được đọc chưa... Vậy thử hỏi cách nói nào tự nhiên hơn, cách nói
nào thông dụng hơn đối với người dạy cũng như người học tiếng Việt? Chính vì thế,
chúng tôi, trong phạm vi của một luận văn cao học, theo hướng Ngữ pháp chức năng, sẽ
cố gắng giải quyết triệt để, mong rọi một ánh sáng có sức thuyết minh vào một vấn đề
đang chưa có được sự nhất trí hoàn toàn, có liên quan đến cách hiểu ngữ pháp tiếng Việt,
cũng như đến vò trí của tiếng Việt trong các loại hình ngôn ngữ của nhân loại, của châu Á
và của vùng Đông Dương. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn chứng minh rằng nội dung bài
giảng Chuyển đổi câu chủ động thành câu bò động hiện nay được triển khai trong sách
giáo khoa bậc Trung học cơ sở (lớp 7 tập II) là một vấn đề cần phải được xem xét lại.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Như đã nêu, vấn đề dạng bò động nói chung và câu bò động trong tiếng Việt nói riêng
được nhiều tác giả đề cập đến. Đó cũng là mặt thuận lợi đối với chúng tôi khi bắt tay
thực hiện luận văn này. Quan điểm của những người đi trước (xem từ [1] đến [22]) có thể
khác nhau, thậm chí đối lập với nhau, song dù có thế nào nó cũng giúp cho chúng tôi
phát hiện ra vấn đề và có một cái nhìn khách quan hơn đối với đối tượng đang khảo sát.
Sau đây chúng tôi xin được tổng lược nội dung các công trình của các nhà ngữ pháp tiếng
Việt.
Nhìn chung có thể xem xét hai quan điểm sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng tiếng Việt không có dạng bò động hay câu bò động.
- Quan điểm thứ hai cho rằng tiếng Việt không có dạng bò động với tư cách là một
phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bò động
trong tiếng Việt.

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, vò từ tiếng Việt không có các chỉ tố đánh dấu về ngôi,
thời, thức, dạng…, nên không tồn tại câu bò động như các ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh, tiếng Pháp,v.v.). Để chuyển được
một câu từ dạng chủ động sang dạng bò động thì các ngôn ngữ biến hình phải dùng đến sự biến đổi hình thái của vò từ. Tiếng
Việt vốn là một ngôn ngữ không có hiện tượng biến hình từ nên tiếng Việt không có dạng bò động với tư cách là một phạm
trù ngữ pháp.


một ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'' thì ý nghóa bò động không hề có một hình thức biểu đạt
nào như thế. Những tác giả đã công nhận kết cấu được, bò thường được dùng để dòch
các kết cấu bò động của tiếng Âu Châu là những kết cấu bò động, không nhận thấy
rằng hai vò từ này là những vò từ ngoại động chính danh trong ngôn ngữ nào cũng có,
và ngôn ngữ nào cũng dùng chúng ở hình thái chủ động để biểu đạt những ý nghóa
mà các tác giả ấy gọi là bò động.
- Trong tiếng Việt không có một vai nghóa nào có thể do nghóa của vò từ phân cho
các thành phần câu như trong các thứ tiếng Châu Âu. Vậy chỉ một ai muốn áp đặt các
phạm trù ngữ pháp của các thứ tiếng Châu Âu vào tiếng Việt, một ngôn ngữ khác
hẵn loại hình, mới có thể nói rằng tiếng Việt có Thái bò động.
- Về nội dung, ý nghóa tình thái của bò là bình luận về cái sự tình do vò từ bổ ngữ
biểu thò như một sự tình ''bất lợi'' cho chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn làm
chủ đề. Ngược lại, ý nghóa tình thái của được là bình luận về sự tình ấy như một sự
tình ''có lợi'' cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề.
- Hơn nữa, được và bò trong tiếng Việt chưa bao giờ mất chút ý nghóa từ vựng nào
để ta có thể nói rằng nó đã ''hư hóa'' (tức ngữ pháp hóa) và biến thành những ''trợ từ'',
dù khi bổ ngữ của nó là ngữ danh từ hay ngữ vò từ. Nghóa tình thái của được (''có lợi,
đáng mừng'') và của bò (''bất 1ợi, đáng tiếc'') không bao giờ suy suyển.
Những điều nêu trên càng cho thấy bò, được không thể được coi là một tiêu chí ngữ
pháp để nhận diện Câu bò động, và sự phân biệt ý nghóa bò động và ý nghóa chủ động
trong tiếng Việt là vấn đề ngôn cảnh (dụng pháp), chứ không phải là vấn đề ngữ pháp.
Chính vì thế, có thể khẳng đònh tiếng Việt không có Thái bò động như là một phạm trù
ngữ pháp.

- Tôi bò gãy chân.


Không thể coi đây là những từ tố biểu thò dạng bò động, bởi vì dạng bò động của động từ
chỉ có thể do động từ ngoại động được hình thức hóa tạo thành, khách thể phải chi phối
lại chủ thể và ta có thể giải biến câu theo dạng chủ động.
Tóm lại, bò, được vẫn được dùng như động từ độc lập; bổ ngữ của nó có thể là: danh
từ, động từ, tính từ hay một từ tổ [16, tr. 237-241].
Quan điểm của Nguyễn Kim Thản được Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1998) ủng hộ
làm sáng tỏ thêm. Tuy nhiên, dù không thừa nhận tiếng Việt có dạng bò động như các
ngôn ngữ Châu Âu, nhưng cả hai tác giả đều cho rằng tiếng Việt có cách biểu hiện ý
nghóa bò động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp (Nguyễn Kim
Thản) hay phương tiện từ vựng (Nguyễn Minh Thuyết).
3. Đinh Văn Đức [6, tr. 139-141] thì cho rằng hai từ bò và được chưa được xem là hư
từ thực sự, tác giả xếp vào nhóm các động từ tình thái ngữ pháp, là những động từ trống
nghóa. Ở chúng các ý nghóa từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa
trở thành những hư từ thực sự, những động từ này có nội hàm rất hẹp nên ngoại diên phải
rộng- chúng luôn luôn có thành tố phụ, ví dụ:
- Không cần giải quyết tiếp.
- Chưa có thể làm xong.
- Đang muốn gặp thầy giáo.
- Cũng đònh đến thăm anh.
- Đã toan ghi chép lại.
- Chẳng dám làm phiền bạn.
- Còn được thưởng nữa.
- Đã bò chê trách nhiều.
Theo ông, xét trên phương diện ngữ nghóa, các động từ này có hai mặt, một mặt chúng
mang ý nghóa ngữ pháp với tính cách là một trung tâm ngữ pháp trong tổ hợp với thành tố
khác, có thể đóng vai trò của tiêu chí ngữ pháp, trong quan hệ với ý nghóa tiếp thụ- bò


1. Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận “bò động” như một phạm trù ngữ pháp tách
biệt trong tiếng Việt. Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu chủ động - bò động
tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dòch với cặp câu chủ động - bò động trong tiếng
Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần của mỗi cặp câu trong những
thuật ngữ chung. Ông cũng cho được, bò, do là những trợ từ bò động.
2. Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm “trong tiếng Việt phương thức đối lập bò
động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ
vựng - ngữ pháp”. Theo tác giả, quan hệ cú pháp trong câu bò động tiếng Việt được biểu
hiện như sau:
- Bổ ngữ đối tượng trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bò động tương
ứng.
- Vò ngữ bao gồm các từ bò, được, do kèm theo động từ ngoại động.
- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bò động tương
ứng.
3. Còn N.V. Stankevich (1982) khi đối chiếu tiếng Việt với ba loại hình tiếng Hán,
tác giả đã nhận đònh về kết cấu bò động và ý nghóa bò động trong tiếng Việt như sau:
Ở tiếng Việt hiện đại có 6 kiểu câu bò động:
V1: Đ + V: Thư viết xong.
V2: Đ + Tt + V: Chữ Hán khó viết.
V3: V + Đ: (Trên tường) treo một bức tranh.
V4: Đ + thụ động + C + V: Tôi bò thầy phạt.
V5: Đ + là do + C + V: Tranh này là do An vẽ.
V6: Đ + V + C: Áo thắm nước.
Theo tác giả kiểu câu bò động được dùng rộng rãi nhất trong tiếng Việt là V4 có động từ
thụ động làm vò ngữ. Bà nhận đònh tiếng Việt có mấy đặc điểm như sau về cách diễn đạt
ý nghóa bò động:
- Kiểu câu có động từ thụ động là kiểu phổ biến khá rộng;


- Trong khi trình bày ý nghóa bò động, có sự phân biệt rõ giữa trường hợp “may, tốt”

ngữ pháp phải được thể hiện (đánh dấu) bằng phương tiện hình thức theo lối ngữ pháp
nghóa là hoặc bằng phụ tố, hoặc bằng hư từ, trật tự từ hay các phương thức ngữ pháp
khác, và những phương thức ngữ pháp đó có thể được dùng tách riêng hoặc dùng phối
hợp với nhau. Theo đó, các tác giả đã xác đònh đặc điểm của kết cấu bò động tiếng Việt
như sau:
- Phương thức ngữ pháp thích hợp với việc diễn đạt ý nghóa ngữ pháp bò động
trong tiếng Việt là hư từ và trật tự từ.
- Tính chất của động từ tham gia kết cấu bò động là động từ ngoại động và có
quan hệ nghóa với thực thể nêu ở danh từ làm chủ ngữ của toàn câu, đứng trước
từ bò, được.
- Cấu trúc nghóa của câu bò động:
 Các vai nghóa có khả năng tham gia vào chức vụ ngữ pháp của câu bò động là
thể đối tượng, thể tiếp nhận, thể đích, thể được lợi, thể bò hại, thể vò trí.
 Loại hình sự thể của câu bò động là hành động với hai đặc trưng [+động] và
[+chủ ý].
- Xét về mặt cú pháp, câu bò động là câu có hai kết cấu chủ vò, kiểu: C – V [CV].
Nói chung, theo hai tác giả này, dạng bò động trong tiếng Việt không phải là dạng của
động từ, mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghóa
xác đònh.
Trước đây, Diệp Quang Ban [2, tr. 149-153], cho rằng ý nghóa bò động của câu
tiếng Việt được tạo ra bởi hai điều kiện sau:
- Sự có mặt của một trong hai từ bò, được đã hư hóa;
-

Sau các từ bò, được có mặt một kết cấu chủ– vò, trong đó yếu tố chính trong vò ngữ
là động từ ngoại động, chủ ngữ của động từ phải khác với chủ ngữ của toàn câu


(tức là chủ ngữ đứng trước bò, được), và chủ ngữ của động từ có thể vắng mặt trong
ví dụ sau đây.

nhất [37, tr. 57-58; 64-65].
Tiểu kết: Nhìn chung, vấn đề phân biệt giữa ngữ pháp và từ vựng là chuyện rất quan
trọng, bây giờ nếu phân biệt câu chủ động với câu bò động, nghóa chủ động với nghóa bò
động thì thử xem những sự phân biệt ấy đã ngữ pháp hóa chưa? Ngữ pháp hóa là từ một
thực từ biến thành một hư từ, một từ công cụ.
Ví dụ: từ “cho” là vò từ (động từ) có nghóa chỉ hoạt động - chuyển quyền sở hữu
của mình sang quyền sở hữu của người khác. Nhưng mà “cho” còn được dùng như là một
giới từ.
Ví dụ: Mẹ cởi áo cho. thì “cho” không còn nghóa là chuyển quyền sở hữu của mẹ
sang con, mà sự xuất hiện của “cho” làm vò ngữ này có nghóa “cởi áo giúp con”.
Còn hai từ bò và được không phải là một công cụ ngữ pháp, đó là những vò từ (là
động từ) rất bình thường có thể xếp vào vò từ tình thái (bò là gặp một chuyện không maược là gặp một chuyện may mắn), không có trường hợp nào chúng mất nghóa từ vựng.
3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Người viết luận văn chỉ tập trung vào việc khảo sát những vấn đề có liên quan đến
“Câu bò động” và “Nghóa bò động” trong tiếng Việt. Việc khảo sát về cách dùng hai từ bò
và được trong câu tiếng Việt nhằm xác đònh những “chỉ tố” của “câu bò động“ và “nghóa
bò động” và những cách khác để diễn đạt ý nghóa bò động trong tiếng Việt. Từ đó, xác đònh
rõ là trong tiếng Việt có tồn tại hay không tồn tại “thái bò động” cũng như “câu bò động”.
Dó nhiên, trong khuôn khổ một luận văn Cao học, còn nhiều điều chúng tôi chưa làm
được, ví dụ khó có thể thống kê hết tất cả các mẫu câu có sử dụng các từ bò và được ở
một số văn bản thuộc những thể loại khác nhau với các phong cách khác nhau, đồng thời
không thể trích dẫn hết những quan điểm về thái bò động trong tiếng Việt của những tác
giả trong và ngoài nước; cũng như khó có thể thống kê trọn vẹn các kiểu câu thể hiện
“nghóa bò động” trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người Việt... Chúng tôi hi vọng


rằng đây cũng là vấn đề dành được sự quan tâm và chú ý của nhiều người. Trong tương
lai, nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai và nghiên cứu một cách đầy đủ hơn.
4. NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU
Để hoàn thành được luận văn này, những tài liệu hữu quan đã được sử dụng. Nguồn

- Ngôn ngữ thiên chủ đề và thiên chủ ngữ;
- Ngôn ngữ không thiên chủ đề và cũng không thiên chủ ngữ.
Trong ngôn ngữ học Việt Nam dường như có một thói quen đồng nhất tiếng Việt,
một ngôn ngữ đơn lập tiêu biểu và điển hình, với tiếng Pháp, một ngôn ngữ biến hình đa
âm tiết và đa hình vò điển hình. Chính vì vậy các tác giả theo xu hướng này thường chia
tiếng Việt ra làm hai thái: thái chủ động và thái bò động. Trong khi đó tất cả các tác giả
đi theo hướng ngữ pháp chức năng đều tuyên bố rằng những thứ tiếng “Thiên chủ đề”
(trong đó có tiếng Việt) không có sự phân biệt ấy. Điều này có nghóa là các tác giả đi
theo hướng ngữ pháp chức năng chủ trương tiếng Việt thuộc ngôn ngữ thiên về Đề Thuyết chứ không thiên về Chủ ngữ - Vò ngữ.
Trên cơ sở đó, ta có thể nhìn nhận rằng ngôn ngữ học là một khoa học thực
nghiệm, một khoa học kinh nghiệm, tức là nó căn cứ vào một sự thật khách quan, không
áp đặt bất cứ một tiền đề gì không có bằng chứng trong tiếng nói hàng ngày của người
bản ngữ.
Trong quá trình tiếp cận, khảo sát, phân tích và lý giải đối tượng, chúng tôi cố
gắng tìm đọc các công trình có liên quan đến vấn đề câu chủ động và câu bò động trong
tiếng Việt; quan sát và sưu tầm cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày của
người Việt. Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu cách sử dụng câu có từ bò và được trong các
tiểu thuyết, truyện ngắn, ký văn học của các tác giả tiêu biểu qua từng thời kỳ. Đồng thời
thông qua tự điển tiếng Việt, chúng tôi tập hợp danh sách tất cả những từ làm bổ ngữ cho
được và bò.
Trên cơ sở đó, chúng tôi thống kê, phân tích, lý giải và rút ra các đặc điểm phổ
quát về cách nhìn nhận câu chủ động và câu bò động trong tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng
rằng phương pháp thống kê và cách vận dụng máy vi tính sẽ trợ lực chúng tôi ít nhiều


trong việc tìm ra những câu trả lời tương đối chính xác, giúp ích cho người học và sử
dụng ngôn ngữ. Ngoài ra, chúng tôi kiểm tra tư liệu đã thống kê được bằng phương pháp
phỏng vấn trực tiếp người bản ngữ. Bởi vì văn nói thường sinh động, phong phú, đa dạng,
màu sắc hơn văn viết.
6. CẤÂU TRÚC NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN

nghiệm những giả thiết có tính kinh nghiệm về những xu thế phổ quát và những cách cắt
nghóa các giả thiết ấy.
Charles N. Li và S.A. Thompson (1976) đề nghò một cách phân loại hình ngôn ngữ
mới dựa trên sự phân biệt giữa tính chất “Thiên chủ ngữ” (“subject prominence”) và
“Thiên chủ đề” (“topic prominence”). Hai tác giả bắt đầu bằng việc trình bày một danh
sách những thuộc tính cho phép “vạch rõ sự khác nhau giữa chủ ngữ và chủ đề”
(1976:461ss.). Danh sách ấy có thể tóm lược như sau:
1) (a) Chủ đề phải có tính xác đònh (về nghóa); Chủ ngữ thì không cần có tính này.
(b) Chủ đề không cần có một mối quan hệ tuyển lựa với bất kỳ vò từ nào trong câu;
Chủ ngữ bao giờ cũng có một quan hệ tuyển lựa hết sức hạn chế với vò từ mà nó
làm chủ ngữ.


(c) Vò từ chính của câu quy đònh chủ ngữ của nó: nó quyết đònh việc phân cho chủ ngữ
một vai nghóa nhất đònh (vai “người tác động” chẳng hạn); Chủ đề không bò quy
đònh như vậy (đây là một hệ luận của (b)).
(d) Chủ đề có một vai chức năng cố đònh xuyên qua các câu, cụ thể là chức năng “giới
hạn khả năng ứng dụng của kết cấu Chủ - Vò chính của câu trong một phạm vi nhất
đònh” (1976: 464; theo Chafe); và chức năng này liên quan đến cấu trúc của diễn
ngôn. Vai trò chức năng của chủ ngữ, nếu có, được quy đònh trong phạm vi nội bộ
của câu.
(e) Vò từ rất ít khi cho thấy có sự phù ứng với chủ đề, trong khi đó thì trong nhiều ngôn
ngữ sự phù ứng (hình thái học) giữa vò từ và chủ ngữ của nó là bắt buộc.
(f) Chủ đề thường xuất hiện ở đầu câu; Chủ ngữ không bò gò ép vào vò trí này.
(g) Chủ ngữ đóng một vai trò nổi bật trong các “quá trình ngữ pháp” như phản hồi hoá
(reflexivization), bò động hoá (passivization), tỉnh lược danh ngữ đồng sở chỉ (EquiNP deletion), kết chuỗi vò từ (verb serialization) và mệnh lệnh hoá
(imperativization); Chủ đề không đóng một vai trò nổi bật như vậy.
Kế theo, Li và Thompson đưa ra danh sách các đặc trưng sau đây, được họ coi là tiêu
biểu cho các ngôn ngữ “Thiên chủ đề”:
2) (a) Trong câu, chủ đề được mã hoá bằng một ngữ đoạn xuất hiện trên bề mặt, nhưng

với (1g), nhưng xem thêm (2e));
(d) Nằm trong số các danh ngữ kiểm đònh sự phù ứng của vò từ (nếu có) (ss. (1e));
(e) Thường có “sở chỉ tuyệt đối” tức thường mang một tiền giả đònh là có tồn tại
(existential presupposition);
(f) Thường là chủ đề của câu, vì vật sở chỉ của nó thường là “đã biết sẵn”, tức là nằm
trong số những thông tin cũ.




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status