Báo cáo " DẠNG BỊ ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT (2)" potx - Pdf 12


1

DẠNG BỊ ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ
CÂU BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT (2)
* Nguyễn Hồng Cổn
Bùi Thị Diên 2.Vấn đề câu bị động trong tiếng Việt
2.1 Các quan niệm khác nhau vê câu bị động trong tiếng Việt
Từ trước đến nay vấn đề dạng bị động nói chung và câu bị động trong tiếng Việt là
một vấn đề gây nhiều sự tranh cãi nhất trong giới Việt ngữ học. Mặc dù hầu hết các nhà
nghiên cứu đều thừa nhận rằng tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù
hình thái học như trong các ngôn ngữ châu Âu, nhưng ý kiến của họ lại khác nhau khi nói đến
sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt. Tựu trung, có thể quy các ý kiến khác nhau về hai
quan niệm: phủ nhận và thừa nhận sự có mặt của câu bị động trong tiếng Việt.
2.1.1 Quan niệm cho rằng tiếng Việt không có câu bị động:
Một số nhà nghiên cứu (G. Cardier, M.B. Emeneau, Trần Trọng Kim ) cho rằng tiếng
Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, động từ tiếng Việt không có các
chỉ tố đánh dấu về ngôi, thời, thức, dạng , nên không tồn tại câu bị động như các ngôn ngữ
biến hình (tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v.). Để chuyển được một câu từ dạng chủ động sang dạng
bị động thì các ngôn ngữ biến hình phải dùng đến sự biến đổi hình thái của động từ. Tiếng
Việt vốn là một ngôn ngữ không có hiện tượng biến hình từ nên không thể đáp ứng được tiêu
chí hình thái học khắt khe này của dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp. Chủ
trương không có sự đối lập của dạng chủ động và bị động trong các ngôn ngữ này, L.C.
Thompson (1965: 217) cũng cho rằng những cấu trúc có được và bị chỉ là sự chuyển dịch
tương đương từ những cấu trúc bị động trong ngôn ngữ Châu Âu. L.C. Thompson gọi đó là

đứng sau nó đều là bổ ngữ của nó cả.” Nói cách khác Nguyễn Kim Thản không công nhận bi/
được là dấu hiệu của dạng bị động của động từ tiếng Việt và động từ tiếng Việt không có
dạng bị động. Quan điểm của Nguyễn Kim Thản đuợc Nguyễn Minh Thuyết (1986,1998) ủng
hộ và làm sáng rõ thêm. Tuy nhiên, dù không thừa nhận tiếngViệt có dạng bị động như các
ngôn ngữ châu Âu, nhưng cả hai tác giả đều cho rằng tiếng Việt có cách biểu hiện ý nghĩa bị
động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp (Nguyễn Kim Thản) hay
phương tiện từ vựng (Nguyễn Minh Thuyết). Theo Nguyễn Thị Ảnh (2000), thái bị động với
tư cách là một phạm trù ngữ pháp được biểu đạt bằng các phuơng tiện hình thái học bắt buộc
tuyệt đối chỉ có ở các ngôn ngữ “thiên chủ ngữ”, còn tiếng Việt là một ngôn ngữ “thiên chủ
đề” thì ý nghĩa bị động không có một hình thức biểu đạt riêng như thế. Để khẳng định tiếng
Việt không có thái bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, tác giả đã đưa ra nhiều ví
dụ chứng minh rằng được, bị là những vị từ ngoại động chính danh chứ không phải là các hư
từ đánh dấu "thái bị động". Quan niệm này cũng nhận được sự đồng tình của Cao Xuân Hạo
(2002).

2.1.2 Quan niệm thừa nhận tiếng Việt có câu bị động
Ngược với quan niệm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng trong tiếng Việt
mặc dù không có phạm trù bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học nhưng vẫn có
cấu trúc bị động hay câu bị động. Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận "bị động" như là một
phạm trù ngữ pháp tách biệt trong tiếng Việt. Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu
chủ động - bị động tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dịch với cặp câu chủ động - bị động
trong tiếng Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần của mỗi cặp câu trong
những thuật ngữ chung. Ông cũng cho được, bị, do là những trợ từ bị động. Hoàng Trọng
Phiến (1980) quan niệm “trong tiếng Việt phương thức đối lập bị động và chủ động không
phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ vựng - ngữ pháp”. Theo tác
giả, quan hệ cú pháp trong câu bị động tiếng Việt được biểu hiện như sau:
- Bổ ngữ đối tượng trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương
ứng.
- Vị ngữ bao gồm các từ bị, được, do kèm theo động từ ngoại động.
- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng.

2
: Quyển sách được (do) mẹ tặng con gái.
(3a) D
1
Đ (D
2
Đ
2
): Thầy bảo các em làm việc này. →
(3b) (D
2
Đ
2
) Đp D
1
Đ: Các em làm việc này do thầy bảo.
(Hoàng Trọng Phiến 1980: 166 – 167)

3

Lê Xuân Thại (1989) cũng tán đồng một quan điểm tương tự, khi cho rằng tiếng Việt mặc dù
không có các câu bị động hoàn toàn giống như câu bị động trong các ngôn ngữ châu Âu
nhưng cũng có loại câu có thể gọi là câu bị động với những đặc điểm sau:
- Chủ ngữ của câu biểu thị đối tượng hành động chứ không phải là chủ thể hành động.
- Vị ngữ của câu bị động do các động từ bị, được đảm nhận.
- Sau vị ngữ là một cụm chủ - vị. Ví dụ:
(4) Em học sinh này được cô giáo khen.
(5) Thành phố Vinh bị máy bay giặc tàn phá.
Ngoài ra, tác giả cũng thừa nhận các câu bị động có những biến thể vắng bị/ được, kiểu:
(6) Bữa cơm đã dọn ra.

2.2 Thảo luận thêm về câu bị động trong tiếng Việt
2.2.1 Tiếng Việt có câu bị động không?
Các điểm luận trên đây cho thấy để chứng minh sự tồn tại của cấu trúc bị động trong
tiếng Việt cần làm rõ ba loại ý kiến sau đây:
- Tiếng Việt không có các phạm trù hình thái học do đó không có cấu trúc bị động.

4

- Tiếng Việt là một ngôn ngữ “thiên chủ đề” nên không có cấu trúc “bị động”, hoặc bị
động không phải là hiện tượng cú pháp cần xem xét.
- Được/ bị không phải là hư từ (trợ động từ), mà có vai trò như các động từ tình thái
hay động từ thực nên không thể là dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động.
a) Về loại ý kiến thứ nhất, chúng tôi đã trình bày rõ trong các mục trước rằng không
nên đồng nhất “dạng bị động” với tư cách là một phạm trù hình thái học với cấu trúc bị động.
Ý kiến này cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến từ những góc độ khác nhau (Nguyễn Kim
Thản 1977, Hoàng Trọng Phiến 1980, Lê Xuân Thại 1989, Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị
Thuận 2000). Các chứng cứ về câu bị động trong các ngôn ngữ khác cũng cho thấy, dạng của
động từ chỉ là một trong nhiều phương thức mã hoá về mặt hình thái - cú pháp các bình diện
ngữ nghĩa - chức năng khác nhau của phạm trù bị động. Nếu tuyệt đối hoá tiêu chí hình thái
học, thì ngay cả trong những ngôn ngữ như tiếng Anh hay tiếng Pháp, phạm trù bị động cũng
không đáp ứng đầy đủ tiêu chí khắt khe này. Vì vậy có thể kết luận rằng việc tiếng Việt không
biểu hiện ý nghĩa bị động bằng các phương tiện hình thái học, và vì vậy không có dạng bị
động như một phạm trù hình thái học, không có nghĩa là tiếng Việt không có cấu trúc bị động
hay câu bị động, xét trên phương diện cú pháp . Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở mục 2 khi
bàn về đặc điểm cú pháp của câu bị động tiếng Việt.
b) Về loại ý kiến thứ hai cho rằng tiếng Việt là ngôn ngữ “thiên chủ đề” và (chứ không
phải "thiên chủ ngữ") do đó không có cấu trúc bị động, chúng tôi thấy cần thiết phải thảo luận
thêm. Trước hết, cần phải nhắc lại ý kiến của Li và Thompson rằng hai chức năng chủ đề
(topic: cái mà câu đề cập đến ) và chủ ngữ (subject: chủ thể của hành động hay quan hệ do vị
ngữ biểu thị) không hề loại trừ nhau theo kiểu "trong các ngôn ngữ thiên chủ đề người ta

chúng, nếu nhìn nhận vấn đề dưới góc độ ngữ pháp hoá.
- Về mặt ngữ pháp, bằng nhiều lập luận khác nhau, Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn
Minh Thuyết (1976), Nguyễn Thị Ảnh (2000) và Cao Xuân Hạo (2001) cho rằng được/ bị
không phải là hư từ có chức năng đánh dấu quan hệ bị động mà có vai trò ngữ pháp như một
động từ tình thái, thậm chí là một động từ thực làm trung tâm của vị ngữ. Ngược lại, Dyvik
(1984) đã cố gắng chứng minh rằng hai từ được và bị đang mất dần vai trò trung tâm để trở
thành một trợ động từ có chức năng bị động hoá trên con đường ngữ pháp hoá. Đồng ý với
kiến giải của Dyvik, nhưng chúng tôi cho rằng, thậm chí nếu được/ bị vẫn đóng vai trò là
trung tâm ngữ pháp của vị ngữ như đã được một số tác giả chứng minh, thì điều đó cũng
không hề ngăn cản các từ này hành chức như một dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động. Có thể
liên hệ với tình hình tương tự của các trợ động từ trong vị ngữ bị động của tiếng Anh (to be)
tiếng Pháp (être) hay tiếng Nga (byt'). Một trợ động từ to be chẳng hạn, xét về mặt ý nghĩa
hầu như không có giá trị gì trong việc hình thành nên nghĩa trạng thái bị động vốn do hình
thái của động từ (phân từ quá khứ) đảm nhiệm, nhưng xét về mặt ngữ pháp, nó chính là trung
tâm của vị ngữ bị động. Bằng chứng là trợ động từ to be, chứ không phải là phân từ quá khứ,
có sự biến đổi hình thái theo ngôi, số phù hợp với chủ ngữ. Như vậy, xét về phương diện ngữ
pháp, trợ động từ to be không có gì khác biệt với một vị từ thực làm trung tâm của vị ngữ.
Nhưng điều đó cũng không hề ngăn cản nó hoạt động như một chỉ tố bị động.
- Về mặt ngữ nghĩa, quả thật các từ bị/được vẫn còn mang ý nghĩa “ hưởng thụ” hay
“chịu đựng”. Tuy nhiên ngay cả đặc tính ngữ nghĩa này cũng không ngăn cản khả năng làm
chỉ tố đánh dấu quan hệ bị động nếu ta đặt bị/ được trong bối cảnh của quá trình ngữ pháp
hoá. Trong bài viết “Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ "được, bị, phải” Nguyễn Tài
Cẩn (1978) đã cho rằng "bị" đã chuyển từ cương vị một hình vị sang cương vị một từ, chuyển
từ địa hạt từ vựng sang địa hạt ngữ pháp, vì thế việc "bị" có thể chuyển từ mô hình cấu tạo từ
sang mô hình cấu tạo từ tổ là một việc làm không có gì khó khăn lắm. Đinh Văn Đức (1986:
118 - 119) đã giải thích rõ thêm về quá trình ngữ pháp hoá của các từ bị/được và mối quan hệ
giữa ý nghĩa ngữ pháp bị động và ý nghĩa tình thái của các từ này như sau: “Trong số các
động từ tiếng Việt có một nhóm những động từ kiểu như: cần, muốn, có thể, toan, định, dám,
bị, được, rõ ràng là những động từ trống nghĩa. Ở chúng các ý nghĩa từ vựng là rất ít, chúng
đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa trở thành những hư từ thật sự, những động từ này có

Từ những luận điểm trên đây, chúng tôi nhận thấy rằng: Xét về mặt lý luận cũng như
tư liệu thực tế, chúng ta có đủ cơ sở để nói đến sự có mặt của các câu bị động trong tiếng
Việt.
2.2.2 Nhận diện câu bị động tiếng Việt
Như đã trình bày ở trên, có nhiều quan niệm khác nhau về câu bị động trong tiếng
Việt. Ngay trong số những tác giả thừa nhận tiếng Việt có câu bị động, thì tiêu chí nhận diện
câu bị động của họ cũng khác nhau. Chúng tôi cho rằng, cũng như trong các ngôn ngữ khác,
câu bị động trong tiếng Việt được coi là có quan hệ cải biến với các câu chủ động tương ứng,
mặc dù không phải câu chủ động nào cũng chuyển được thành câu bị động. Dĩ nhiên, các
phép cải biến cú pháp đó phải thoả mãn các điều kiện về nghĩa học và dung học của câu bị
động như đã nói ở trên (mục 1.4)
Xét về mặt hình thức, một câu bị động điển hình của tiếng Việt có thể được nhận diện
và phân biệt với các chủ động dựa trên các tiêu chí sau:
a) Chủ ngữ (N2) của câu bị động là bổ ngữ của các chủ động tương ứng. Tuỳ từng
trường hợp, đó có thể là bổ ngữ chỉ bị thể, nhận thể, đích đến hoặc vị trí (x. thêm Diệp Quang
Ban, Nguyễn Thị Thuận 2000).
b) Vị ngữ (V) trong câu bị động tiếng Việt được cấu tạo trực tiếp từ vị ngữ của câu
chủ động tương ứng bằng cách thêm trợ động từ được/bị vào trước động từ ngoại động.
c) Bổ ngữ (N1) của câu bị động chính là chủ ngữ trong câu chủ động tương ứng. Bổ
ngữ này thường bị tỉnh lược (trong câu bị động không có bổ ngữ tác thể). Nếu không bị tỉnh
lược thì nó thể chuyển vị trí đến trước V (trong câu bị động có bổ ngữ tác thể không có giới
từ) hoặc ở vị trí sau V với điều kiện phải có thêm giới từ bởi (trong câu bị động có bổ ngữ tác
thể giới từ).
Có thể khái quát quá trình chuyển đổi một câu chủ động -ngoại động của tiếng Việt
thành các kiểu câu bị động tương ứng như sau:
N1 V N2 (Câu chủ động)
N2 được/bị V (Câu bị động phi tác thể)
N2 được/bị N1 V (Câu bị động có bổ ngữ tác thể không giới từ)
N2 được bị V bởi N1 (Câu bị động có bổ ngữ tác thể có giới từ)
Dưới đây là một số ví dụ minh hoạ cho các kiểu câu bị động trên:

Nếu đối chiếu câu bị động của tiếng Việt với câu bị động trong các ngôn ngữ thuộc loại hình
khác khác, từ các ngôn ngữ tổng hợp tính cao như tiếng Hy Lạp, tiếng Nga, đến các ngôn ngữ
ít tổng hợp tính hơn như tiếng Anh, ta thấy việc tiếng Việt một ngôn ngữ phân tích tính điển
hình chỉ dùng các phương tiện thuần tuý cú pháp là hư từ và trật tự từ để biểu hiện quan hệ bị
động cũng phù hợp với quy luật chung về sự khác biệt loại hình giữa các ngôn ngữ. Sự khác
biệt này được trình bày trong bảng sau:

Kiểu
bị động
Phương thức ngữ pháp
biểu hiện quan hệ bị động
Ngôn
ngữ
Ví dụ
Tổng
hợp
tính

Hình thái (của từ)
(Thuần tuý hình thái)

Hy
Lạp
Epaideusamen (Tôi dạy)
> Epaideuthemen (Tôi được dạy dỗ) Nga

Rabotcie stroili dom. > Dom stroilsa

hành thể) của sự tình do V biểu thị, trong đó V có thể là một động từ nội động (Tôi bị ngã. Nó
được nghỉ) hoặc động từ ngoại động (Tôi bị nghe lời phàn nàn. Nó được xem phim). Kiểu câu
N
2
được/ bị V là kiểu câu bị động có chủ ngữ N
2
biểu thị vai nghĩa phi chủ thể (đối thể, bị thể,
nhận thể…), với V là một động từ ngoại động (Tôi bị mắng. Nó được khen). Ở kiểu câu thứ

8

hai này, thể từ N
1
biểu thị tác thể có thể xuất hiện trước V hoặc không. Điều đáng lưu ý là,
khi N
1
vắng mặt, kiểu câu bị động N
2
được/ bị V (20b, 21b) sẽ có cấu trúc bề mặt giống với
kiểu câu chủ động N
1
được/ bị V (20a, 21a):
(20a) Tôi bị ngã.
(20b) Tôi bị mắng.
(21a) Nó được xem phim.
(21b) Nó được tặng giấy khen.
Một số nhà nghiên cứu dựa vào đặc điểm này để coi các câu N
2
được/ bị V (như 20b, 21b)
cũng là câu chủ động như các câu N

-Thứ nhất, “do” ở cấu trúc này không có chức năng như được/bị trong câu bị động.
Bằng chứng là do không thể độc lập kết hợp với động từ để cấu tạo vị ngữ bị động. Chẳng
hạn, chúng ta không thể nói:
(22) * Hàng này do cung cấp.
Nói cách khác do luôn được sử dụng gắn liền với sự có mặt của chủ ngữ tác thể trước động từ
vị ngữ.
- Thứ hai, khả năng làm chủ ngữ ở câu có mô hình N
2
do N
1
V của các bổ ngữ trong
câu chủ động rất hạn chế. Chỉ có bổ ngữ trực tiếp mới xuất hiện ở vị trí N
2
còn các loại bổ
ngữ khác (như bổ ngữ nhận thể, công cụ ) bị loại trừ. Chẳng hạn chúng ta không thể chuyển
đổi:
(23) Tôi viết thư cho Nam.
* Nam do tôi viết thư cho.
c) Phân biệt với kiểu câu phi ngoại động (de-transitive) N
2
- V
Câu có mô hình N
2
- V là kiểu câu có một thể từ (thường là danh từ) phi tác thể đứng ở
đầu câu (N
2
chỉ đối thể, nhận thể, công cụ ) và sau nó là một vị từ (V) có ý nghĩa gốc biểu
thị một hoạt động ngoại động hay một hoạt động chuyển tác, thường có các phụ từ, phụ ngữ
đi kèm , ví dụ:


(26b) Nhà cửa cuốn sạch. > Nhà cửa bị cuốn sạch.
CÂU N
2
- V CÂU BỊ ĐỘNG
Các khả năng cải biến trên đây gợi ý rằng cấu trúc N
2
- V có thể là một cấu trúc trung gian
giữa cấu trúc bị động và cấu trúc chủ động chứ chưa phải là cấu trúc bị động điển hình.
Chúng tôi gọi đây là kiểu cấu trúc phi ngoại động (x. Nguyễn Hồng Cổn 2004).

* * *
Trên đây chúng tôi đã điểm luận lại một số vấn đề lý thuyết liên quan đến dạng bị
động và câu bị động trong các lý thuyết ngữ pháp và bàn thêm về câu bị động trong tiếng
Việt. Kết quả từ nhiều công trình nghiên cứu cho thấy dạng bị động nói chung và câu bị động
trong các ngôn ngữ nói riêng khá giống nhau về mặt cấu trúc ngữ nghĩa nhưng khác biệt nhau
về đặc điểm hình thái-cú pháp. Tuy nhiên sự khác biệt về mặt hình thức (hình thái –cú pháp)
của dạng/câu bị động trong các ngôn ngữ không đi ra ngoài quy luật chung là phản ánh các
đặc trưng loại hình của ngôn ngữ đó: Ở các ngôn ngữ tổng hợp tính cao (như tiếng Hy Lạp,
tiếng La tinh), ý nghĩa bị động chủ yếu được biểu hiện bằng hình thái từ, và vì vậy dạng bị
động thường được coi là một một phạm trù hình thái học thuần tuý. Ngược lại, ở các ngôn
ngữ ít tổng hợp tính hơn (như tiếng Anh), ý nghĩa bị động được biểu hiện bằng sự kết hợp
giữa các hình thái từ với các phương tiện cú pháp như hư từ và trật tự từ, tương ứng bị động
được coi là một phạm trù hình thái-cú pháp. Còn trong các ngôn ngữ phân tích tính điển hình
như tiếng Việt, ý nghĩa bị động chủ yếu được biểu hiện bằng hư từ và trật tự từ, và bị động có
dáng dấp của một phạm trù thuần tuý cú pháp. Từ cách nhìn đó, chúng tôi cho rằng mặc dù
trong tiếng Việt không tồn tại dạng bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học thuần
tuý, nhưng ý nghĩa bị động với tư cách là một loại ý nghĩa ngữ pháp (đối lập với ý nghĩa chủ
động-ngoại động) vẫn được biểu hiện bằng các phương tiện ngữ pháp nhất định là hư từ và
trật tự từ, và vì vậy tiếng Việt vẫn có các cấu trúc bị động và câu bị động.


17. Kacala, J., Sloveso a sémantická struktura vety, Veda Vydavatelstvo, Bratislava, 1989.
18. Keenan E. L., Passive in the world's languages, in "Language typology and language
desciption", T. Shopen (ed), vol I, Cambridge University Press, Cambridge, 1985.
19. Krystal, D., Dictionary of Linguistics and Phonetics, Blackwell Publishers, 1997.
20. Lê Xuân Thại, Câu chủ - vị tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, 1994.
21. Li Ch.N. & Thompson S.A., Subject and Topic: a new typology of language,
Academic
Press, New York –Sanfrancisco –London, 1976.
22. Li Ch.N. & Thompson S.A., Madarin Chinese: A Funtional Reference Grammar,
University California Press, Berkely - Los Angeles – London, 1981.
23. Nguyễn Hồng Cổn, Các kiểu cấu trúc phi ngoại động trong tiếng Việt, T/c Khoa học,
Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2/2004.
24. Nguyễn Kim Thản, Ngữ pháp tiếng Việt (tập II), Nxb KHXH, Hà Nội, 1964.
25. Nguyễn Kim Thản, Động từ trong tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977
26. Nguyễn Minh Thuyết, Vai trò của "được", "bị" trong câu bị động tiếng Việt. Trong
"Những vấn đề các ngôn ngữ Phương Đông", Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1986.
27. Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp, Lý thuyết thành phần câu và thanh phần
câu tiếng Việt, Nxb ĐHQG Hà Nội, 1998.
28. Nguyễn Thị Ảnh, Tiếng Việt có thái bị động không?, T/c Ngôn ngữ, số 5/ 2000.

11
29. Nguyễn Phú Phong, Le Syntagme Verbal en Vietnamien, Mouton, The Hague –
Paris, 1976.
30. Palmer, F.R., Grammatical roles and relations, Cambridge University Press, 1994.
31. Tallerman, M., Understanding Syntax, Arnold, London - New York , 1998.
32. Thompson L.C., A Vietnamese Grammar, Seattle & London, 1965.

(*) Bài đăng ở tạp chí Ngôn ngữ số 8/2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status