TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài: Vấn đề huy động vốn tại ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh
Thanh Xuân.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
NHNN NGÕN HàNG Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNO&PTNT VIỆT NAM,
NGÕN HàNG NỤNG NGHIỆP Và PHỎT TRIỂN
NỤNG THỤN VIỆT NAM
NHNO&PTNT THANH
XUÕN
NGÕN HàNG NỤNG NGHIỆP Và PHỎT TRIỂN
NỤNG THỤN CHI NHỎNH THANH XUÕN
TCKT TỔ CHỨC KINH TẾ
UTĐT Ủy thác đầu tư
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ1: BỘ MỎY TỔ CHỨC CỦA CHI NHỎNH NHNO & PTNT THANH XUÕN
Sơ đồ 2: Vốn VND và vốn ngoại tệ trong giai đoạn năm 2005-2008
BẢNG 1: KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NHNO&PTNT CHI NHỎNH THANH
mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn kinh doanh tại ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Thanh Xuân.
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường huy động vốn tại ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn – Chi nhánh Thanh Xuân
Để hoàn thành báo cáo thực tập này, em xin cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tỠNH CỦA
TẬP THỂ CỎN BỘ PHŨNG KẾ HOẠCH KINH DOANH Và CỎC PHŨNG BAN CÚ
LIỜN QUAN TẠI NHNO&PTNT CHI NHỎNH THANH XUÕN, đặc biệt xin cảm ơn
TS.Bùi Liên Hà mặc dù rất bận rộn với công tác giảng dạy và nghiên cứu nhưng đÓ DàNH
THỜI GIAN Hướng dẫn em trong quá trỠNH THỰC HIỆN BỎO CỎO. DO TRỠNH độ
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
cŨN HẠN CHẾ NỜN KHỤNG TRỎNH KHỎI NHỮNG THIẾU SÚT, EM RẤT MONG
NHẬN được sự thông cảm.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Tìm hiểu chung về ngân hàng thương mại
1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Vào năm 1930, Đan Mạch ra luật ngân hàng trong đó có định nghĩa: “Những nhà
băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ
chuyển ngân.”
[1]
Đến năm 1941, các nhà kinh tế Pháp lại khẳng định rằng: “Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác
• Thứ nhất, ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để đầu tư vào
sản xuất kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu khác.
Hiện nay, với vai trò cầu nối, ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế bằng cơ chế tiền gửi có
kỳ hạn và không có kì hạn, rồi tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ và
kịp thời cho quá trình tái sản xuất.
• Thứ hai, ngân hàng thương mại hỗ trợ Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại thực hiện đúng chức năng của mình để hướng tới mục tiêu
lợi nhuận cho chính ngân hàng đồng thời đã góp phần thực hiện các mục tiêu của chính
sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng
kinh tế. Ngân hàng thương mại ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy của nó
trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
theo như những mục tiêu đã hoạch định. Chẳng hạn, việc xoá bỏ cơ chế lãi suất “trần”,
“sàn” , thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản, rồi chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận đã giúp
cho các tổ chức tín dụng linh hoạt hơn trong điều hành lãi suất, ưu đãi cho vay lãi suất thấp
hơn, khuyến khích xuất khẩu, góp phần thực hiện mục tiêu hướng mạnh về xuất khẩu như
chính sách đã đề ra.
• Thứ ba, ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hoà vốn giữa các ngành, các
vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh, các vùng trong
một nước
Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, ngân hàng
thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng
có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn.
• Thứ tư, ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn) cho các tổ
chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh và hoạt động ngân hàng
đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các chủ thể kinh
tế theo hương tối ưu, nhất là đảm bảo các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” qua một hệ thống
đồng bộ về vốn.
vào ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
3.1.2 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời
hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các
khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh
doanh.
3.1.3 Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn
kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay ngân
hàng Nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các
khoản vay từ ngân hàng Nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của
bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn.
3.1.4 Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh
doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường
để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối
tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
3.2 Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích
khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Nghiệp vụ tài
sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
3.2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích
nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán
nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng Nhà nước đề ra.
các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới
dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và
các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh
doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất.
Muốn thực hiện tốt công tác này thì ngân hàng cần có những bước phân tích hai chủ thể
chính trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất hình thành nên nghiệp vụ này là ngân hàng
và khách hàng. Trong hoạt động huy động vốn quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể có liên
quan được quy định như sau:
• Về phía ngân hàng
Quyền mà ngân hàng có được khi khách hàng mở tài khoản tiền gửi ở ngân hàng
mình là được phép chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số dư tiền gửi mà khách hàng
đã chuyển vào tài khoản.
Nghĩa vụ của khách hàng phát sinh cùng với việc thực hiện nghiệp vụ này là phải
đảm bảo an ninh cho số tiền đó. Khi đến hạn ngân hàng phải trả gốc và lãi cho chủ tài
khoản đó. Ngân hàng sẵn sàng trả lãi cho số dư tiền gửi của khách hàng mà không hề lấy
chi phí đảm bảo vì mục đích của ngân hàng không phải là thu tiền dịch vụ gửi giữ mà là
thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình.
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
• Về phía khách hàng
Việc mở tài khoản tiền gửi sẽ làm phát sinh tư cách chủ tài khoản, số dư trên tài khoản
thực chất là khoản có phải đòi của khách hàng đối với khách hàng, đồng thời là khoản nợ
phải trả của ngân hàng đối với khách hàng. Nếu khách hàng chấp nhận tài khoản tiền gửi ở
ngân hàng, điều đó có nghĩa là với tư cách chủ nợ của ngân hàng, khách hàng có quyền
yêu cầu ngân hàng hoàn trả toàn bộ số tiền đã gửi kèm theo lãi đã thỏa thuận.
Như vậy, trong nghiệp vụ huy động vốn khách hàng và ngân hàng luôn có mối quan hệ
mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Quyền lợi của đối tượng này chính là nghĩa vụ phải
thực hiện của đối tượng kia.
2. Các hình thức huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường:
này lại có độ nhạy cảm cao về lãi suất nên trong quá trình huy động cũng có những điểm
khác biệt.
2.2.1. Huy động tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thoả thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng
về lãi suất và thời hạn rút tiền. Về cơ bản, các khoản tiền gửi này thường có kỳ hạn tương
đối dài và không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên
tài khoản vãng lai. Chính vì vậy, mức lãi suất đối với loại tiền gửi này có thể cố định hoặc
linh hoạt tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng với Ngân hàng. Đối với các khoản
tiền gửi có lãi suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trước hạn định.
2.2.2. Huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các
NHTM. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ
cấu tiền gửi vào Ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Việt nam chiếm
khoảng 60- 70% tổng tiền gửi, còn ở Mỹ là khoảng 25%. Lãi suất huy động tỷ lệ thuận với
thời gian gửi tiền sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài hơn. Ngân hàng
thường dùng nguồn vốn có tính ổn định cao này để đầu tư các dự án dài hạn nhưng phụ
thuộc rất lớn vào đặc tính về dân số – xã hội, tình hình kinh tế xã hội, đặc biệt là thu nhập
của dân cư, do đó các ngân hàng áp dụng mọi biện pháp để nâng cao uy tín và danh tiếng
của ngân hàng mình nhằm lôi kéo nhiều khách hàng gửi tiền tiết kiệm nhất.
2.3. Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng như vị trí đặc biệt quan trọng
trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại không chỉ về mặt quy mô đơn
thuần mà còn mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các danh mục trong tài sản nợ.
Vốn vay của ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu vẫn
bao gồm những nguồn cơ bản sau:
2.3.1. Vay từ ngân hàng Trung Ương.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài chính khác
trong nước mình được phép vay tiền từ NHTƯ trong những trường hợp cấp thiết như: thiếu
hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định giá trị đồng bản tệ cũng như ngăn
chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn, NHTƯ thường không muốn cho các
Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM cũng có thể sử dụng những hình
thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ nền kinh tế thông qua
các hoạt động uỷ thác về các dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ… hoặc đứng ra làm
dịch vụ đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán…qua đó
ngân hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ
hoặc chi hộ khách hàng.
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
3. Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động vốn của NHTM.
3.1 Các yếu tố khách quan
3.1.1 Yếu tố pháp lý
Các hoạt động của ngân hàng cũng như bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào đều chịu
sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật. Hoạt động huy động vốn cũng không nằm ngoài phạm
vi đó. Nó chịu sự tác động trực tiếp của các bộ luật như luật các tổ chức tín dụng, luật ngân
hàng nhà nước, các văn bản về pháp lý ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách
tỷ giá, đầu tư…trong đó quy định về việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng, tỷ
lệ huy động vốn so với vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu… nhằm đảm bảo an toàn, sự
bình đẳng cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng
dịch vụ, giảm chi phí, tăng khả năng tự bảo vệ trước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội
nhập.
3.1.2 Yếu tố chính trị
Tình hình chính trị ổn định hay bất ổn, chính sách ngoại giao mở rộng hay thắt chặt
và các quan hệ hợp tác song phương, đa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
của ngân hàng thương mại trong đó có công tác huy động vốn. Chính trị ổn định, chính
sách ngoại giao mở rộng kích thích đầu tư nước ngoài, tăng cường quan hệ hợp tác với các
nước có nền kinh tế phát triển tạo cơ hội thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính lớn như
IMF, WB, ADB, ngân hàng đầu tư Bắc Âu, quỹ OPEC… từ đó đem lại cho ngân hàng
nhiều thời cơ và thách thức mới
3.1.3 Yếu tố kinh tế
có cùng một hệ số an toàn và các dịch vụ tiện ích như nhau thì họ sẽ chọn Ngân hàng nào
có lãi suất huy động cao hơn để gửi. Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh tế, lĩnh
vực có lợi cao bao giờ cũng thu hút được nhiều người tham gia đầu tư, và người tham gia
đầu tư luôn muốn làm thế nào để mình thu được lợi
nhuận cao nhất.
Hơn nữa, lãi suất còn là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô của nguồn vốn
huy động. Thế nhưng, không phải lãi suất huy động nào cũng giống nhau, thông thường lãi
suất tiết kiệm có ảnh hưởng nhiều hơn cả. Người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết
kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và khả năng sinh lợi của dòng tiền đầu
tư vào tiết kiệm so với đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản từ đó đưa ra quyết
định có nên gửi vào ngân hàng hay không, gửi bao nhiêu và gửi theo hình thức nào. Ngược
lại, đối với các tổ chức kinh tế thì lãi suất huy động lại có ảnh hưởng ít hơn vì phần lớn các
doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng đều với mục đích thanh toán là chính. Do đó nguồn
tiền huy động này chịu ảnh hưởng nhiều bởi kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng cũng như
khả năng thanh toán và cho vay vì lượng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế luôn
luân chuyển và biến động theo nhu cầu thanh toán.
Như vậy, để thực hiện cơ chế lãi suất huy động hợp lý tức là vừa thu hút được vốn,
vừa đảm bảo sức cạnh tranh thì các NHTM phải thường xuyên theo dõi thống kê tình hình
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
biến động lãi suất trên thị trường và ngay trên địa bàn hoạt động để có các quyết định điều
chỉnh kịp thời phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trường và đặc điểm riêng của mỗi
ngân hàng. Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần quan tâm đến lãi suất kho bạc, bởi vì trên
thực tế kho bạc thường phát hành tín phiếu trả lãi cao hơn lãi suất huy động của các ngân
hàng thương mại.
3.2.3. Các hình thức huy động vốn.
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có người vì mục
đích bảo đảm an toàn, có người gửi chủ yếu để lấy lãi tiêu xài hàng tháng, có người gửi
tiền vào ngân hàng để đồng vốn ngày càng được sinh sôi nảy nở Vì thế họ có những hình
khai các tiện ích dễ hiểu sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái dễ chịu và không cảm thấy
cực nhọc khó khăn về thủ tục khi gửi tiền. Hơn nữa, nó sẽ giúp cho khác hàng tìm thấy
được một cơ hội hấp dẫn để gửi tiền cho ngân hàng. Tạo điều kiện cho ngân hàng có thể
tiếp xúc và duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng.
Ngoài ra, còn phải kể đến một vài nhân tố thuộc về nội bộ Ngân hàng cũng có
những tác động không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng chẳng hạn như:
chiến lược kinh doanh của ngân hàng, quy mô cơ cấu vốn tự có, cơ sở vật chất kỹ thuật
trang thiết bị của ngân hàng Những yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp sâu sắc đến mô
hình, cơ cấu tổ chức huy động vốn thậm chí là đến cả uy tín của ngân hàng trên thị trường,
nó đảm bảo giữ vững lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng như là giới hạn tối
đa của nguồn vốn huy động.
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN KINH DOANH TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - CHI NHÁNH
THANH XUÂN
I. Giới thiệu về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Thanh
Xuân
1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
Ngày 01/04/1996, xuất phát từ nhu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động của NHNo &
PTNT Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt
Nam ký quyết định số 18/NHN-02 thành lập chi nhỏnh NHNo & PTNT quận Thanh xuõn
trực thuộc NHNo & PTNT Hà Nội, địa chỉ giao dịch 106 Nguyễn Trói - Quận Thanh
Xuõn-Hà Nội.
Ngày 03/07/1996, ngân hàng khai trương và chính thức đi vào hoạt động với tư
cách là một ngân hàng cấp 4. Sau một thời gian hoạt động, ngày 01/01/1999 NHNo &
PTNT Thanh Xuân được nâng cấp lên thành Ngân hàng cấp 3, loại 2. Một năm sau, NHNo
& PTNT quận Thanh Xuân được nâng lên thành ngân hàng cấp 2, loại 4, trực thuộc NHNo
& PTNT Hà Nội .
vụ marketing
- Phũng kế toỏn ngõn quỹ
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM
ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC PHể GIÁM ĐỐC
P. HÀNH
CHÍNH
NHÂN SỰ
P. KIỂM TRA
KIỂM TOÁN
NỘI BỘ
P. KẾ HOẠCH
KINH DOANH
P. KẾ TOÁN
NGÂN QUỸ
CÁC PHềNG GIAO DỊCH TRỰC THUỘC
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao dịch.
Kế toỏn nội bộ
+ Thực hiện cụng tỏc kế toỏn và quản lý chi tiờu nội bộ như chi trả lương cho cán bộ
công nhân viên
+ Bỏo cỏo tổng hợp thu chi hàng thỏng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc.
Kế toỏn giao dịch
+ Xử lý cỏc giao dịch như: nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cỏc cỏ nhõn, cỏc tổ
chức kinh tế, xó hội.
+ Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toỏn cho khỏch hàng.
+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu, uỷ
+ Phũng giao dịch 33 có địa chỉ tại số 5 Nguyễn Quý Đức - Thanh Xuân - Hà Nội.
+ Phũng giao dịch 34 cú địa chỉ tại số 106 Khương Trung - Thanh Xuân - Hà Nội.
+ Phũng giao dịch 46 cú địa chỉ tại số 74 đường Trường Chinh - Hà Nội.
Bốn phũng giao dịch gồm cú 4 trưởng phũng và các giao dịch viên thực hiện các
nghiệp vụ huy động nguồn vốn, cho vay cầm cố các giấy tờ có giá, thực hiện các hoạt động
dịch vụ như chuyển tiền
3. Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong thời gian qua
Với phương châm vỡ sự thịnh vượng và phát triển bền vững của khách hàng và
ngân hàng, mục tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam là tiếp tục giữ vững vị trí ngân hàng
thương mại hàng đầu Việt Nam, tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên trường quốc
tế. Là chi nhánh cấp 1, đứng trong đội ngũ Việt Nam, NHNo&PTNT Thanh Xuân đó nỗ
lực và cố gắng hết mỡnh thực hiện mục tiờu chung và phấn đấu với tư cách độc lập để
ngày một nâng cao hiệu quả hoạt động của mỡnh. Năm 2008 là năm dấu mốc cực kỳ quan
trọng đối với chi nhánh bởi quyết định chính thức điều chỉnh từ ngân hàng cấp 2 thành
ngân hàng cấp 1, nâng quyền phán quyết từ 20 tỷ đồng lên 100 tỷ đồng.
Trong những năm qua, chi nhánh đó làm tương đối tốt công tác huy động vốn. Giai
đoạn 2005-2008, công tác huy động vốn nhỡn chung tăng trưởng qua các năm, năm 2008
tổng nguồn vốn đạt tăng trưởng mạnh đạt tới 930.503 triệu đồng, tăng 541.654 triệu đồng
so năm 2007, đạt 172% kế hoạch TW giao.
Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTN Thanh Xuân giai đoạn 2005-2008
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhỏnh Thanh Xuõn năm
2005-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiờu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1. Tổng thu nhập từ 31.723 37.947 72.256 83.670
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
21
thâm nhập sâu vào đối tượng học sinh, sinh viên trong khi đội ngũ này trên địa bàn là
tương đối nhiều.
Mặc dự cũn nhiều hạn chế trong hoạt động kinh doanh song không thể phủ nhận
những kết quả mà toàn thể cán bộ NHNo&PTNT Thanh Xuân đó nỗ lực phấn đấu đạt
được. Trong năm 2009, trên cơ sở phát huy những thành tích đó cú chi nhỏnh tiếp tục đẩy
mạnh hoạt động công tác phát triển về quy mô, tăng trưởng về chất lượng hiệu quả hơn
nữa.
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Cụng tỏc tớn dụng cũn nhiều khú khăn nên việc phát triển dịch vụ từ tín dụng cũng
phần nào bị hạn chế. Tuy vậy, tổng thu phí dịch vụ thực hiện được là 802 trđ/740trđ năm
2006 và năm 2007 đạt 910 trđ/1264trđ kế hoạch được giao, tổng thu dịch vụ chiếm 8.79%
trên thu nhập rũng.
Cụng tỏc dịch vụ ngày càng phỏt triển theo tất yếu nền kinh tế và sự nhiệt tỡnh tỡm
kiếm của cỏn bộ ngõn hàng theo định hướng của NHNo&PTNT VN, trong đó dịch vụ
chuyển tiền và thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng và thu phí cao tại chi nhánh, ngoài ra
các nghiệp vụ khác như dịch vụ kều hối, bảo lónh, kinh doanh ngoại tệ… đều có khả năng
ngày càng mở rộng.
Chi nhánh đó thu hút được một số khách hàng tham gia nhập khẩu về giao dịch
như: Công ty CP điện tử chuyên dụng HANEL, công ty TNHH Thanh Phương, công ty
TM&XD Vĩnh Phát…Và một số khách hàng xuất khẩu: Công ty TNHH Tín Viên, công ty
TNHH Tùng Thúy…đó một phần cõn đối được nhu cầu ngoại tệ tại chi nhỏnh.
II. Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi
nhánh Thanh Xuân
1. Cơ cấu nguồn vốn
1.1. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền
Là một ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông thôn nên nguồn vốn chủ
yếu là vốn nội tệ. Vốn nội tệ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
là nguồn vốn chủ đạo nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng sử dụng vốn đầu tư trong nước
nghệ mới trong hoạt động của ngõn hàng.
Vỡ ngõn hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nên nguồn
vốn ngoại tệ cũng như các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng cũn khỏ hạn chế.
Trong những năm qua, nhằm đáp ứng và theo kịp tiến trỡnh mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tê của đất nước, ngân hàng đó mở rộng hoạt động, dịch vụ kinh doanh đối ngoại của
mỡnh, kết quả là ngõn hàng đó thu hỳt được một khối lượng ngoại tệ tương đối lớn. Nguồn
ngoại tệ của ngân hàng cũng tăng trưởng khá do ngân hàng huy động them được tử nguồn
gửi dân cư và quan hệ them với nhiều khách hàng mới nên đó giỳp ngõn hàng đáp ứng
Nguyễn Thị Thu Phương Anh2_K44_QTKD
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
được nhu cầu về ngoại tệ. Nhỡn chung, nguồn ngoại tệ tuy chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng
nguồn vốn huy động khá ổn định, luôn duy trỡ ở mức 10% trờn tổng nguồn vốn. Tuy nhiờn
vỡ chỉ thu hỳt qua dõn cư là chính, tiền gửi thanh toán chỉ chiếm tỷ lệ thấp nên lói suất đầu vào
cũn tương đối cao. Do vậy trong thời gian tới ngân hàng cần tỡm kiếm khai thỏc them cỏc khỏch
hàng cú nguồn ngoại tệ thanh toỏn nhằm tăng trưởng nguồn vốn ngoại tệ và hạ lói suất đầu vào
phục vụ cho nhu cầu tín dụng ngoại tệ và tạo thuận lợi cho ngân hàng.
1.2. Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn
Bảng 3: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn từ năm 2005-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiờu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
ST
(Trđ)
TT
(%)
ST
(Trđ)
TT
25