Tiết 45, 46
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
Hoàng Phủ Ngọc Tường
A. Mục tiêu: Giúp học sinh
1. Cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sắc thiên nhiên của sông Hương từ bề dày lịch
sử, văn hóa của Huế và tâm hồn conngười vùng đất cố đô.Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha
thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho
đất nước.
2. Hiểu được những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của HPNT.
3. Nhận biết được đặc trưng thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí trong bài.
B. Phương tiện:
1. GV: SGK, SGV, Thiết kế bài học, Máy tính, máy chiếu, loa
2. HS: SGK; kết quả thực hiện công việc theo nhóm.
C. Phương pháp
1. GV: tổ chức dạy học theo chủ đề; thuyết giảng; nêu vấn đề hướng dẫn học sinh thảo
luận, trình bày theo nhóm.
2. HS: tìm kiếm tư liệu (tranh ảnh, clip, webside…), trao đổi thảo luận theo hướng dẫn của
giáo viên, thuyết trình sản phẩm.
D. Tiến trình dạy học
* Ổn định tổ chức: Kiểm diện HS
* Bài cũ: “Nguyễn Tuân”
- Vài nét về tiểu sử và con người Nguyễn Tuân? (I)
- Nêu nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân? (II.2)
* Bài mới: H xem clip, G giới thiệu vào bài:
Nếu con sông Đà trữ tình và hung bạo gắn liền với ngòi bút uyên bác tài hoa của nhà văn
Nguyễn Tuân, thì dòng Hương Giang êm đềm của xứ Huế mộng mơ lại hết sức sinh động dưới
ngòi bút giàu chất trí tuệ và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hai nhà văn, hai dòng sông
nhưng cùng chung một nỗi niềm yêu thiết tha cảnh sắc thiên nhiên gắn liền với lịch sử dân tộc.
Chúng ta đã được tìm hiểu dòng sông Đà qua những trang viết độc đáo của Nguyễn Tuân, ngày
hôm nay, ta cùng nhau khám phá những vẻ đẹp kì thú của dòng Hương Giang qua trích đoạn
bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
2. Văn bản
- Nhan đề: Lúc đầu có tên “Hương ơi, e phải mày không?”
-> “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” -> sự ngỡ ngàng đến
say đắm của nhà văn trước vẻ đẹp diệu kì của dòng hương
giang.
- Hoàn cảnh sáng tác: viết tại Huế 1/1981, rút trong tập kí
cùng tên.
- Giá trị bài kí: là một trong những bài bút kí đặc sắc
(SGK, tr.178)
- Thể loại: tùy bút (với lối hành văn phúng túng, nhân vật
chính là cái tôi tác giả, đậm chất trữ tình)
- Bố cục: 3 phần
+ Phần một nói về cảnh quan thiên nhiên của sông Hương.
+ Phần hai và ba là phương diện lịch sử và văn hóa của
sông Hương.
- Đoạn trích: phần một cộng với lời kết của tác phẩm. (Tuy
nhiên đoạn trích không chỉ đề cập tới cảnh quan thiên
nhiên sông Hương xứ Huế mà còn thấy được sự gắn bó
với lịch sử và văn hóa của cố đô Huế.)
-> Tiêu biểu cho văn phong của HPNT.
II. ĐỌC- HIỂU
Với cảm xúc vô cùng thiết tha về Huế, tác giả đã sử dụng
triệt để mọi tiềm năng văn hóa và vốn từ giàu có của mình
để phát hiện, diễn tả vẻ đẹp của Huế, tập trung ở dòng
sông Hương.
Nhìn một cách khái quát, sông Hương là dòng sông xinh
đẹp và đa cảm, là dòng sông gợi cảm, lắng sâu và là dòng
sông kiên cường, mạnh mẽ. Tác giả đã phát hiện ra những
vẻ đẹp ấy qua hai cách tiếp cận dòng sông này: thứ nhất là
quan sát trực tiếp, tìm hiểu sông Hương từ thượng nguồn
là địa điểm Điện Hòn Chén. Tại đây có một vực rất sâu.
Sông Hương được cho là rất đẹp khi chiêm ngưỡng nó từ
nguồn và khi nó chảy quanh các chân núi, xuyên qua các
cánh rừng rậm của hệ thực vật nhiệt đới. Con sông chảy
chậm qua các làng mạc như Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ
Dạ, Đông Ba, Gia Hội, chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh. Nó
từng là nguồn cảm xúc của du khách khi họ đi thuyền dọc
theo dòng sông để nhìn ngắm phong cảnh và lắng nghe
những điệu ca Huế truyền thống.
Các công trình kiến trúc hai bên bờ sông gồm thành quách,
thị tứ, vườn tược, chùa chiền, tháp và đền đài... ánh phản
chiếu của chúng trên dòng nước khiến con sông mang theo
nhiều chất thơ và tính nhạc. Nhiều người luôn gắn liền sự
thanh bình, thanh lịch và cảnh vật đẹp đẽ của Huế với
dòng Sông Hương.
- Điểm khác biệt: Khác với nhiều con sông “sông Hương
là thuộc về một thành phố duy nhất”. Nghĩa là sông
Hương gắn liền với Huế. Nói đến Huế là nghĩ tới sông
- Đoạn đầu của đoạn trích miêu
Hương và nghĩ về sông Hương và nói tới Huế.
tả vẻ đẹp nào của con sông
Sông Hương luôn được nhìn và khẳng định trong mối
Hương?
quan hệ với không gian địa lý. Dường như chính sự phong
- Dòng chảy của sông Hương phú của đặc điểm địa lý ở vùng đất mà sông Hương đi qua
chia làm mấy chặng?
đã góp phần hình thành nên vẻ đẹp của dòng sông. Vì vậy,
. Tác giả đã dùng một so sánh táo bạo: sông Hương như
“một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”.. với
“một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”
. Có lúc, người con gái ấy trở nên hiền dịu và đa tình, đó là
khi giữa rừng già, mà dòng sông “trở nên dịu dàng và say
đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ
quyên rừng”
+ Khi ra khỏi rừng: sông Hương nhanh chóng chế ngự bản
năng ở người con gái để “mang một sắc đẹp dịu dàng và
trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa
- Tác giả đã đưa ra lời kết luận
như thế nào?
- Sông Hương ở đồng bằng,
trong mối quan hệ với kinh
thành Huế, được tác giả miêu
tả như thế nào?
- Sự thay đổi tính cách của con
sông được miêu tả như thế
nào?
xứ sở”. Như thế sông Hương đã trở thành cội nguồn bồi
đắp nên văn hóa Huế.
-> Tác giả kết luận: “rừng già đã hun đúc cho nó một bản
lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Dòng sông
đã được thổi bằng ngọn gió tâm hồn dào dạt nhạy cảm và
liên tưởng tự do để càng mạnh mẽ hơn, đắm say hơn ở địa
khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc sớm xanh,
trưa vàng, chiều tím” lúc qua những dãy đồi núi phía tây
nam thành phố và mang vẻ đẹp trầm mặc khi qua bao lăng
tẩm, đền đài mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín
trong những rừng thông u tịch cho đến lúc bừng sáng, tươi
tắn và trẻ trung khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ
ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du
bát ngát tiếng gà”…
=> Sông Hương khi chảy về kinh thành Huế lại mang vẻ
đẹp đa dạng , gắn bó với đặc trưng văn hoá , không gian
kinh thành Huế. Đoạn văn đã bộc lộ nét lịch lãm, tài hoa
- Em có nhận xét gì về cách
trong lối hành văn của tác giả. Độc giả khó cưỡng lại một
miêu tả của tác giả?
sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt động từ diễn tả các dòng
chảy sống động qua những địa danh khác nhau của xứ
Huế. Những hiểu biết tường tận về địa lí đã giúp tác giả
miêu tả tỉ mỉ về dòng sông Hương. Cảnh đẹp như một bức
tranh có đường nét, hình khối. Từ cánh đồng Châu Hóa
qua vùng núi vòng khúc quanh đến Vọng cảnh xuống dãy
đồi, người đọc bắt gặp vẻ đẹp đa màu mà biến ảo phản
quang màu sắc của nền trời phía tây nam thành phố, “trầm
mặc” khi băng qua lăng tẩm, đền đài và mang màu sắc triết
lý, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng
chuông chùa Thiên Mụ. Hai bút pháp kể và tả được kết
hợp nhuần nhuyễn và tài hoa trong đoạn văn đã làm nổi
bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với
thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hoà.
giống và khác nhau của sông
Hương với những dòng sông
đó?
Hình ảnh cây cầu in ngần trên nền trời như những vành
trăng non” là một phát hiện và cảm nhận đầy thi vị của
HPNT. Chiếc cầu hình cánh cung như vành trăng non nối
từ bờ này sang bờ kia của dòng Hương giang tạo nên một
nét đẹp vững chắc nhưng thanh mảnh, duyên dáng như thi
sĩ Nguyễn Bính có lần từng ví von:
Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ.
Chiếc cầu “in ngần” trong câu văn của HPNT là cây cầu
màu trắng hiện lên rực rỡ, lung linh, đầy sức mời gọi, hấp
dẫn khiến người xem như bị hút mắt vào vẻ đẹp ấy không
muốn dời đi.
. Hình ảnh so sánh: đường cong mềm mại của sông Hương
như “tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Chi tiết sông
Hương uốn một cánh cung rất nhẹ diễn tả chính xác dòng
chảy của con sông đoạn từ Cồn Giã Viên đến cồn Hến,
sông Hương lượn một cách nhẹ nhàng.
-> Cách so sánh, ví von độc đáo đầy sáng tạo: diễn tả sự
thuận tình nhưng không nói ra vì e lệ. Đó không chỉ là vẻ
đẹp mềm mại, trữ tình, yêu kiều của sông Hương mà còn
là tính cách của con người Huế: thiết tha, tình tứ mà dịu
dàng và kín đáo.
+ Tác giả đã so sánh: Nằm ngay giữa lòng thành phố yêu
quý của mình, sông Hương cũng giống sông Xen của Pari, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét,…
Giống nhau: đều nằm giữa lòng thành phố.
Điểm khác: trong cách biểu đạt tài hoa của tác giả, sông
tình, khéo trang điểm mà không lòe loẹt.
=> Sông Hương được miêu tả với một tâm hồn đa cảm:
vừa vui tươi khi gặp những biền bãi vùng ngoại ô, vừa
hiền hòa trong những đường cong khi đi qua vùng không
gian những cồn đảo, vừa ngập ngừng muốn đi muốn ở khi
gặp được nét riêng văn hóa Huế, vừa sâu lắng trong những
khúc nhạc đêm khuya, vừa mơ màng lưu luyến khi phải rời
xa thành phố, vừa vương vấn quyến luyến đến độ phải tạo
ra một khúc quanh để vòng lại thành phố thân thương.
* Dưới ngòi bút đầy tài hoa của tác giả, vẻ đẹp dòng sông
được phát hiện rất đa dạng, mang cái đẹp nữ tính. Đây là
nét riêng của dòng sông qua cái nhìn rất riêng của tác giả.
- Em có nhận xét gì về vẻ đẹp Nếu dòng sông Đà của Nguyễn Tuân có h ai nét tính cách
của sông Hương trong cái nhìn nổi bật là hung bạo và trữ tình thì ta thấy con sông Hương
qua cảnh sắc thiên nhiên?
cũng có một đời sống và tính cách phong phú, nhưng trong
sự phong phú ấy có thể thấy một nét thống nhất là chất nữ
tính rất đậm: khi là một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng; khi
là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại; khi dịu
dàng và trí tuệ như “người mẹ phù sa của một vùng văn
hóa châu thổ”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng,
chiều tím”; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ
yên tĩnh v.v... Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi
khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa
Thiên Mụ, có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ
xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long, có vẻ đẹp “mơ màng
trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những
bờ tre, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ. Dù ở trong
G nhận xét kết quả
a. Qua văn hóa: là dòng sông có cốt cách văn hóa rất
riêng: đằm thắm và lắng sâu.
- Gắn liền với những địa chỉ văn hóa của Huế:
+ Lăng tẩm, đền đài, miếu mạo.
+ Vùng ngoại ô Kim Long với cây trái tốt tươi.
+ Khu nhà vườn Vĩ Dạ với thiên nhiên đầy sức sống.
- Là “người tài nữ dánh đàn lúc đêm khuya”. Cái nhìn này
trước hết có cơ sở thực tế: sông Hương là dòng sông âm
nhạc. Đây là nét không thể lẫn của sông Hương với các
dòng sông khác trên đất nước ta: tuy dòng sông nào cũng
gắn với điệu hò câu hát, nhưng có được sự tồn tại song
song của hai dòng nhạc cung đình và dân gian như sông
Hương thì không thể có hai. Chúng đều được sinh thành
trên mặt nước sông Hương và nó chỉ vang lên hay nhất
trong những khoang thuyền, chỉ bộc lộ trọn vẹn sức lay
động của nó với những ai đã từng lênh đênh trên sông
nước trong những đêm khuya.
Có lẽ ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi những chiếc thuyền
độc mộc lững lờ trôi trên dòng sông cổ xưa, những câu hò
G tích hợp giới thiệu về âm mênh mang sông nước cũng đã ra đời, làm sản sinh những
điệu mái nhì, mái đẩy da diết của Huế sau này. Âm điệu
nhạc Huế (văn hóa)
đặc trưng đó cũng thấm đượm trong những làn điệu lý
Huế, ca Huế, âm nhạc truyền thống cung đình Huế và còn
lan mãi đến tận những bài nhạc Huế bây giờ.
Bằng một giai điệu mượt mà, trầm bổng, chậm rãi và
Canh tư xích cửa then vàng
Một mình vò võ đêm trăng xế lần
Canh năm mê mẩn tâm thần
Đêm tàn, trăng lụn, rạng đông lên rồi.
Lý năm canh, lý hoài nam, lý hoài xuân, lý nam xang, lý
vọng phu, lý đoản xuân, lý tương tư, lý hành vân, lý trách
ai, lý giao duyên, lý tiểu khúc, lý ngựa ô, lý mười
thương, ...những điệu lý Huế vừa mang theo âm hưởng
những câu hát giao duyên quen thuộc của miền bắc, vừạ
tiếp nhận vô thức âm nhạc sầu não trong dòng nhạc
Chămpa đã tiếp tục sinh sôi, nẩy nở, làm phong phú thêm
những điệu lý muôn màu muôn vẻ của phương Nam.
Và đến một ngày dòng sông Hương chuyển mình, rộn ràng
với những đoàn thuyền ngự của vua chúa, thướt tha với
những tà áo dài bồi hồi hương phấn của kinh thành, những
điệu lý Huế lại một lần nữa được các nho sĩ, quan lại say
mê nghệ thuật trau chuốt nâng niu, lời ca ngày càng thêm
mựợt mà, tao nhã, đường nét giai điệu ngày càng uyển
chuyển, luyến láy điệu nghệ hơn.
Từ đó, một hệ thống ca nhạc có tính bác học và cung đình
là ca Huế đã ra đời. Dù vẫn mang âm hưởng đậm đà của
những điệu hò, điệu lý, nhưng thang âm và điệu thức của
ca Huế đã được nâng cao và phát triển phong phú với hệ
thống những điệu Nam, điệu Bắc, hơi dựng, hơi ai; hệ
thống nhạc cụ tam tấu: tranh- nhị- nguyệt, tứ tuyệt: tranhtỳ- nhị- nguyệt, ngũ tuyệt: tranh- tỳ- nhị- nguyệt- tam, lục
tuyệt: tranh- tỳ- nhị- nguyệt- tam- bầu, gắn với sáo, kèn,
song loan, sanh tiền, trống, tam âm, ... đa dạng, đòi hỏi
một lối chơi điệu nghệ, luôn phải tuân thủ những niêm luật
riêng, không bao giờ lặp lại
+ “Dòng sông trắng - lá cây xanh” (Chơi xuân - Tản Đà)
+ “Như kiếm dựng trời xanh” (Trường giang như kiếm lập
thanh thiên - Cao Bá Quát).
+ Là sức mạnh hồi sinh trong thơ Tố Hữu
Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Ngày mai muôn lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
+ “Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu” (Thu Bồn)
-> Thơ ca viết về sông Hương có vẻ đẹp đa dạng nhưng
G thuyết giảng, tích hợp bồi đều thống nhất ở một điểm, đó là tình yêu thiết tha với
dưỡng tình yêu quê hương đất sông Hương và xứ Huế. Đây là một biểu hiện của tình yêu
nước.
quê hương đất nước.
- Ngay đến cả cái tên của dòng sông cũng có một vẻ rất
riêng của con gái để làm bâng khuâng một tâm hồn thi sĩ
và gợi nguồn thi cảm trong chính hồn văn của HPNT, để
trong suốt quá trình tìm hiểu về con sông, không ít lần nhà
văn bày tỏ niềm xúc động và những suy nghĩ chủ quan
đậm đặc chất nghệ sĩ: không chỉ nhớ thương, nhà văn còn
vô cùng xao xuyến mà liên tưởng mùi nước thơm với mùi
da thịt, không chỉ hình dung dòng sông Hương là người
con gái mà còn thấy sông Hương hiện lên là người con gái
thần tiên. Và khi ấy, cái tên của dòng sông lại gắn với một
huyền thoại đẹp, để dòng sông trở thành con sông huyền
thoại được yêu quý bởi người đôi bờ “vì yêu quý con sông
Hương được ghi là “linh giang”.
Nhóm 1,2 nhận xét
Sông Hương hoang vắng xưa kia thuộc châu Lý, được Chế
G nhận xét kết quả
Mân, vua Chămpa trao cho nhà Trần như một phần tặng
phẩm để cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, nhưng sau
G tích hợp kiến thức lịch sử
cái chết của Chế Mân, quan hệ Việt Nam – Chămpa trở
nên căng thẳng. Mảnh đất mới ở biên cương phía nam với
“toà thành Hoá Châu nằm khoá chặt lấy cửa sông” Linh
Giang, tên gọi thuở đó của sông Hương, là nơi diễn ra
những trận thuỷ chiến ác liệt, cả với quân Chămpa và quân
Minh. Trong vòng hơn 150 năm (1307-1471) trên 15 lần
Chămpa xâm lấn Hoá Châu. Trương Phụ, tên tướng hung
bạo của nhà Minh từng đưa đại quân vây đánh Đặng Dung
G tích hợp kiến thức lịch sử
G tích hợp kiến thức lịch sử
tại thành Hoá Châu, đã thề thốt “Ta sống cũng là ở Hoá
Châu, chết cũng là ở Hoá Châu. Hoá Châu chưa lấy được
mặt mũi nào về thấy chúa thượng”. Vì vậy thành Hoá
Châu với cụm dân cư trù phú “chuyên nha phủ thự nối
nhau… xóm hoa nội biếc, đất tốt dân đông, chợ nọ cầu kia,
vật hoa người quý, la liệt ở hai bờ nam bắc” mà Dương
Văn An mô tả vào thế kỷ XVI trong Ô Châu Cận Lục, liên
tục bị chiến tranh chà đi xát lại, cuối cùng chỉ còn là một
vùng phế tích với những thành đất, móng gạch, những tên
15-3-1874, thực chất là hiệp ước đầu hàng, quy định Pháp
sẽ bổ nhiệm một khâm sứ ở gần vua nước Nam. Bên dòng
G tích hợp kiến thức lịch sử
sông Hương xuất hiện toà Khâm sứ Pháp và mối “giao
hảo” đầy tính xâm lược ngày càng gay gắt. Năm 1883
Pháp đánh cửa biển Thuận An. Cuộc tử chiến ở thành Trấn
Hải thất bại, nhà Nguyễn phải cử đại diện đến toà khâm
lần lượt ký Hiệp ước 1883, 1884; hoàn chỉnh dần quá trình
đầu hàng để bảo vệ “đế thành” (!).
Con sông “nhất phiến uyên nguyên hộ đế thành” mà Thiệu
Trị mơ tưởng trở thành “nhất giang lưỡng quốc” (một sông
hai nước). Bên bờ nam là bộ máy xâm lược của thực dân,
bên kia là chiếc ngai vàng bốn tháng ba vua đang lung lay.
Tình hình nầy thúc giục phái chủ chiến trong triều đình phải
sớm hành động. Đêm 22 tháng năm Ất Dậu (4-7-1885)
những chiếc thuyền dũng cảm dưới sự chỉ huy của Tôn
Thất Lệ, em ruột Tôn Thất Thuyết, đã đưa đại bác và binh
lính sang bờ nam, đánh vào toà khâm. Cuộc tiến quân thất
bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở Quảng
Trị, phát động phong trào Cần Vương, để lại bên bờ sông
Hương một kinh thành tàn lụi, lần lượt đón các hoàng thân,
quốc thích, quan lại thoả hiệp trở về, lập lại bộ máy thống
trị bù nhìn dưới bóng thực dân. Hình ảnh những chiếc
thuyền rồng rực rỡ màu vàng son, rộn ràng ca nhạc do các
đội lệ thuyền kéo trên sông Hương dần dần nhường chỗ cho
cảnh sinh hoạt đồi truỵ. Sông Hương thời mất nước được
chính người dân Huế diễn tả với niềm phẫn uất, cay đắng:
truyền lại bầu máu nóng cho “lớp hậu thế”. Tăng Bạt Hổ,
người từng lăn lộn ở Nhật trong những ngày đầu của phong
trào Đông Du, lặng lẽ từ biệt cuộc đời trên một chiếc
thuyền lênh đênh giữa sông Hương. Dòng sông lại vang
vọng những điệu hò da diết, ray rứt:
Chiều chiều
Trước bến Văn Lâu ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai mong?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông?
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.
Phải qua một thời nung nấu ngay trung tâm của Xứ uỷ
Đảng Cộng sản Đông Dương ở Trung Kỳ, phải đợi đến cao
trào cách mạng tháng Tám 1945, sông Hương mới sống
dậy, náo nức với hàng vạn bước chân rầm rập qua cầu
Trường Tiền, hàng trăm chuyến đò cập bến Đập Đá, Thừa
Phủ, đưa người dân đổ về sân vận động dự mitting “ra mắt”
Uỷ ban khởi nghĩa Thuận Hoá ngày 23-8-1945. Bảy ngày
sau, hàng vạn đồng bào Thừa Thiên Huế, thay mặt cả nước,
tận mắt nhìn Bảo Đại giao ấn kiếm cho đại diện của Chính
phủ Cách mạng lâm thời trong khí thế đổi đời của cách
mạng; nhìn cờ đỏ sao vàng bay trên đỉnh cao của Kỳ đài
Huế, in màu đỏ lồng lộng giữa trời xanh, dội bóng xuống
dòng sông Hương.
+ Thời chống Mỹ: nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến
công tết Mậu Thân 1968.
Trong kháng chiến chống Mỹ, chiến khu đầu nguồn sông
Hương một lần nữa lại tiếp thêm sức sống, chỉ đạo, động
viên nhân dân Huế đi vào cuộc chiến đấu mới, liên tục làm
bùng nổ phong trào đấu tranh chống Mỹ-Nguỵ. Dọc hai bờ
sông Hương những cuộc mitting, biểu tình, chiếm đài phát
Sông Hương: sông Hương trong lịch sử và trong cảm nhận
của nhà văn đã trở thành “dòng sông của thời gian ngân
vang, của sử thi viết giữa màu cỏ biếc”. Khi Tổ quốc gọi,
“Nó tự hiến đời mình làm một chiến công”. Đó là dòng
sông anh hùng trong chiến đấu. Để rồi khi hòa bình, nó trở
về là người con gái dịu dàng của đất nước.
-> Trong dòng chảy thời gian, sông Hương đã đi trọn vẹn
cuộc sống và lịch sử của dân tộc, của đất nước. Chính diện
mạo và chiều sâu của lịch sử dân tộc khi in bóng xuống
dòng sông đã mang lại cho sông Hương một tầm vóc lớn
lao, một ý nghĩa thiêng liêng và một tinh thần bất diệt. Đặt
con sông trong dòng chảy của lịch sử cũng là một cách để
HPNT làm nổi bật vẻ đẹp riêng, sức sống riêng, linh hồn
riêng của con sông quê hương.
* Trong tác phẩm, sông Hương đã được đặt trong cái nhìn
tổng thể và toàn diện: lịch sử và văn hóa, sinh hoạt và
phong tục, văn chương và đời sống, con người và thiên
nhiên… Trong các mối liên hệ ấy, sông Hương vừa tươi
đẹp, vừa thơ mộng và quyến rũ trong các sắc thái thiên
nhiên, vừa sâu lắng trong các giá trị văn hóa, vừa phong
phú đến bất ngờ trong khả năng gợi hứng thú sáng tạo cho
những người nghệ sĩ, vừa kiên cường bất khuất trong thế
đứng và tinh thần khi đối diện với ngoại xâm. Nhưng
dường như sông Hương vẫn còn những điều bí ẩn chưa
được khám phá hết nên nhà văn vẫn gợi niềm bâng khuâng
trong tâm hồn con người.
3. Đặc sắc nghệ thuật và hình tượng cái tôi tác giả:
a. Đặc sắc nghệ thuật:
G tích hợp bồi dưỡng lòng yêu những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái
quê hương đất nước
thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh,
những Nguyễn Du, những Bà huyện Thanh Quan, những
Tố Hữu...đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây
trời.
G chốt ý
Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của
Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình
dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình.
- Điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt:
+ Điểm nhìn không gian: dòng chảy sông Hương
+ Điểm nhìn thời gian: lịch sử…
+ Điểm nhìn bên ngoài – bên trong -> vừa thực vừa mơ.
- Giọng điệu trần thuật: trữ tình, giàu chất suy tưởng, triết
luận, sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, đặc biệt có
những hình ảnh đặc sắc, mới lạ.
- Ngôn ngữ: giàu có, giàu chất thơ, chất nhạc.
=> Phong cách kí HPNT: phóng túng, tài hoa, uyên bác,
lãng mạn.
III. Tổng kết:
1. Cảm nhận và hiểu được vẻ đẹp của Huế, của tâm hồn
người Huế qua sự quan sát sắc sảo của HPNT về dòng
sông Hương HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên
nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu
lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.