MC LC
I. Thng mi quc t
I.1 Khỏi nim
I.2 Ni dung
I.3 Chc nng
I.4 c im
II. Bo h thng mi
II.1 Khỏi nim
II.2 Mc tiờu ca chớnh sỏch bo h
II.3 Chớnh sỏch bo h hp lý v s cn thit phi ỏp dng chớnh sỏch bo
h hp lý vi sn xut trong nc
II.3.1 Chớnh sỏch bo h hp lý
II.3.2 S cn thit ca chớnh sỏch bo h hp lý trong quỏ trỡnh hi nhp
II.4 ỏnh giỏ chung chớnh sỏch bo h ca Vit nam trong thi gian va
qua
II.5 Mt s gii phỏp bo h hp lý cho Vit Nam trong quỏ trỡnh hi nhp
II.5.1 Cỏc bin phỏp k thut v kim dch ng thc vt
II.5.2 Cỏc bin phỏp chng bỏn phỏ giỏ
II.5.3 T v
II.5.4 Tr cp
II.5.5 Thu thi v
II.5.6 Cỏc bin phỏp liờn quan n mụi trng
II.5.7 S dng i ng cỏn b cú trỡnh trong vic qun lý thc thi cỏc
chớnh sỏch bo h Vit Nam
III. T do húa thng mi
III.1 Khỏi nim
III.2 Ni dung ca t do húa thng mi
III.3 Thực tiễn tiến hành tự do hoá thơng mại ở Việt Nam trong những năm
gần đây
III.3.1 Tầm quan trọng của tự do hoá thơng mại đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam
- Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,
lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng...)
- Xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng phát minh
sáng chế, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp thiết
bị máy móc, dịch vụ du lịch và nhiều loại dịch vụ khác....)
- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công. Khi trình độ
phát triển còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì cần phải chú
trọng các hoạt động gia công thuê cho nước ngoài, nhưng khi trình độ ngày càng
phát triển cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình.
Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thường rất
ngắn, đầu vào và đầu ra của nó gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi
là một bộ phận của hoạt động ngoại thương.
- Tái xuất và chuyển khẩu. Trong hoạt động tái xuất, người ta tiến hành nhập
khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước
thứ ba. Như vậy, ở đây có hành động mua và hành động bán nên mức rủi ro có thể
lớn và lợi nhuận có thể cao. Còn trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi
mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải, quá cảnh, lưu kho lưu bãi,
bảo quản... Bởi vậy, mức độ rủi ro trong hoạt động chuyển khẩu nói chung là thấp
và lợi nhuận cũng không cao.
- Xuất khẩu tại chỗ. Trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể chưa
vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt
động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn,
cho khách du lịch quốc tế.... Hoạt động xuất khẩu tại chổ có thể đạt được hiệu quả
cao do giảm bớt chi phí đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu
hồi vốn nhanh.
I.3. Chức năng của thương mại quốc tế
3
Thương mại quốc tế có hai chức năng cơ bản sau đây:
dầu mỏ và khí đốt.
- Tăng nhanh tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp chế biến, nhất là máy
móc thiết bị.
4
Bốn là, Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm
vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt
chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao nhận, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh
toán, các dịch vụ sau bán hàng....
Năm là, Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc
đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục, đòi
hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới. Các sản phẩm có
hàm lượng khoa học khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong
khi các sản phẩm nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh.
Sáu là, sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do
hóa thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành
những hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn.
II.
BẢO HỘ THƯƠNG MẠI
5
Chính sách bảo hộ từ xưa tới nay luôn tồn tại như một chính sách thiết yếu
và quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mọi quốc gia bởi tất cả các
quốc gia dù mạnh hay yếu, dù phát triển hay đang phát triển đều muốn xây dựng
và phát triển các ngành sản xuất trong nước đồng đều và bền vững. Bước sang thế
kỉ XXI, khi mà tiến trình toàn cầu hoá và khu vực hoá cũng đã đi được một chặng
Chính sách bảo hộ được đặt ra nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước
tránh được sự cạnh tranh từ bên ngoài, góp phần phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng
trưởng cho nền kinh tế nội địa. Việc đánh thuế nhập khẩu và việc áp dụng các hàng
rào phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu đối với một số loại hàng hoá dịch vụ
sẽ làm cho giá bán của những hàng hoá dịch vụ này tăng lên cao hơn so với hàng
hoá được sản xuất trong nước. Do đó, thay vì tiêu dùng những hàng hóa dịch vụ
với giá cao, người tiêu dùng trong nước sẽ quay sang dùng những hàng hoá dịch vụ
cùng loại được sản xuất trong nước với giá rẻ hơn. Khi nhu cầu tiêu dùng hàng hoá
dịch vụ nhập khẩu giảm sút các nhà nhập khẩu sẽ hạn chế số lượng hàng hoá dịch
vụ nhập khẩu và ngược lại, các nhà sản xuất trong nước chủ nhà sẽ có điều kiện
mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của mình.
Chính sách bảo hộ còn góp phần tạo việc làm cho một bộ phận dân chúng
nước chủ nhà. Nhờ các ưu đãi từ chính sách bảo hộ nên một số ngành sản xuất
trong nước sẽ mở rộng quy mô sản xuất và kéo theo đó là nhu cầu về nguồn nhân
lực sẽ tăng lên.
Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ hạn chế việc nhập khẩu và tiêu
dùng một số loại hàng hoá dịch vụ không thực sự cần thiết hoặc không phù hợp với
thuần phong mỹ tục của nước chủ nhà. Đồng thời, số lượng hàng hoá nhập khẩu
hạn chế do áp dụng các chính sách bảo hộ sẽ làm giảm việc tiêu dùng ngoại tệ và
góp phần cân đối cán cân thanh toán nước chủ nhà.
Chúng ta không phủ nhận rằng các chính sách bảo hộ đã mang lại lợi ích
không nhỏ cho nền kinh tế nước chủ nhà trong những giai đoạn nhất định. Tuy
nhiên, việc thực hiện các chính sách bảo hộ không phải lúc nào cũng đạt được kết
quả như mong muốn. Vấn đề đặt ra là phải áp dụng một chính sách bảo hộ hợp lý
để bảo hộ sản xuất trong nước một cách hữu hiệu nhất
II.3 Chính sách bảo hộ hợp lý và sự cần thiết phải áp dụng chính sách bảo hộ
hợp lý với sản xuất trong nước.
II.3.1. Thế nào là Chính sách bảo hộ hợp lý?
hợp lý, tức là bảo hộ nhằm tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy phát triển chứ không phải
để “nuông chiều” các ngành sản xuất trong nước. Bảo hộ hợp lý không phải chỉ là
tạo ra những rào cản ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào nước
mình, hoặc trợ cấp dưới mọi hình thức cho sản xuất nội địa, mà quan trọng hơn là
những biện pháp bảo hộ đó phải đạt được mục tiêu phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng
cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội địa trên thị trường trong nước lẫn quốc
tế. Điều này cũng có nghĩa là không nên bảo hộ những ngành sản xuất “ốm yếu”,
không có tiền đồ phát triển và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Tuy
nhiên, với các ngành sản xuất “non trẻ”, khi mới bước vào thị trường, nhất là thị
trường thế giới, thường gặp không ít những khó khăn và rất cần sự hỗ trợ của nhà
nước dưới các hình thức khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
của mình. Kinh nghiệm cho thấy không quốc gia nào trên thế giới tăng trưởng
nhanh nhờ vào bảo hộ. Chính vì thế, bảo hộ phải tạo đà cho tự do hoá thương mại,
là cơ sở để phát triển bền vững trong tự do hoá thương mại.
WTO hướng tới sự tự do hoá toàn cầu trên các lĩnh vực, từng bước xoá bỏ
các rào cản đối với thương mại. Gia nhập WTO, các nước thành viên phải tuân
theo những qui tắc cơ bản của tổ chức này, thực hiện những cam kết để hạn chế tối
đa các rào cản thương mại, tiến tới hội nhập vào “ngôi nhà chung”, không phân
8
biệt đối xử. Song, gia nhập WTO không có nghĩa là các nước phải hoàn toàn xoá
bỏ sự giúp đỡ và bảo hộ đối với các ngành sản xuất trong nước, mà điều quan trọng
là phải biết dựa theo quy tắc của WTO để xây dựng một chính sách bảo hộ hữu
hiệu sao cho vừa thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, vừa không vi phạm
nguyên tắc tự do hoá thương mại mà WTO đã đề ra.
Tóm lại, chính sách bảo hộ hợp lý theo quy định của WTO là chính sách bảo
hộ mang lại lợi ích và hiệu quả kinh tế cho đất nước, đồng thời tuân thủ đầy đủ các
quy định của WTO cũng như các cam kết mà các quốc gia đã ký kết.
Dựa trên các chuẩn mực quốc tế, các quy định của WTO và thực tiễn bảo hộ
vực, ngành nghề để có được sự lựa chọn chính xác nhất.
Thứ hai: Quan điểm bảo hộ phải mang tính nhất quán và được đầu tư một
cách thoả đáng.
9
Sau khi đã lựa chọn được đối tượng bảo hộ thì phải khẳng định và theo đuổi
đến cùng mục tiêu bảo hộ của mình thông qua việc lập kế hoạch ưu tiên cho các
ngành sản xuất được lựa chọn: Các ưu tiên đặc biệt về thuế, các chương trình đầu
tư và vay vốn ngân sách nhà nước, ưu tiên sử dụng ngoại tệ để mua máy móc thiết
bị và công nghệ tiên tiến hoặc cung cấp tín dụng với lãi suất thấp để nhập khẩu
công nghệ tiên tiến… Việc áp dụng đồng bộ những giải pháp này trong thời gian
nhất định sẽ thúc đẩy các đối tượng được bảo hộ phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều
lao động và hạ giá thành sản phẩm. Nói cách khác, tính hiệu quả trong sản xuất
kinh doanh, giải quyết việc làm sẽ được nâng lên. Bên cạnh đó, một lần nữa tầm
quan trọng của việc lựa chọn đối tượng được bảo hộ lại được khẳng định vì những
ngành nghề được bảo hộ nếu có tác dụng lan truyền tới nhiều lĩnh vực trong xã hội
thì hiệu quả của các chính sách bảo hộ lúc này sẽ vô cùng to lớn. Tuy nhiên, nếu
như những giải pháp trên làm tăng tính hiệu quả của việc bảo hộ thì đổi lại, sẽ gây
ra sự mất công bằng đối với các ngành nghề khác trong toàn bộ nền kinh tế. Vấn
đề là phải chấp nhận đánh đổi tính công bằng trong một giai đoạn nhất định để theo
đuổi mục tiêu bảo hộ của mình và khi các ngành sản xuất này đã thực sự phát triển,
đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế đất nước bù đắp cho các lĩnh vực còn lại.
Thứ ba: Các doanh nghiệp được bảo hộ cần sự trợ giúp của chính phủ về
nhiều mặt.
Chính phủ phải cung cấp cho doanh nghiệp một cách đầy đủ các thông tin
như giá cả, đặc điểm thị trường, các rào cản phi thuế… và chuyển dần các hình
thức trợ cấp khu chế xuất sang hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu, nghiên cứu thị
trường, xúc tiến thương mại, Mặt khác, cũng có thể áp dụng các rào cản phi thuế
quan như quy định về bán phá giá và thuế chống bán phá giá, trợ cấp và thuế đối
Đứng trước làn sóng mạnh mẽ của tự do hoá thương mại trên thế giới, một
chính sách bảo hộ mậu dịch hợp lý có khả năng bảo vệ thị trường nội địa chống lại
sự cạnh tranh, chèn ép của hàng hoá nước ngoài, từ đó tạo điều kiện cho các ngành
sản xuất trong nước phát triển. Nền kinh tế được bảo hộ sẽ tránh được các cú sốc
từ bên ngoài, có được môi trường tương đối ổn định để dần dần lớn mạnh. Chính
sách bảo hộ hợp lý sẽ cải thiện đáng kể các ngành sản xuất nội địa. Bất cứ một
quốc gia nào trên thế giới đều có những chiến lược phát triển kinh tế nhất định,
trong đó luôn xác định những lĩnh vực ưu tiên đặc biệt. Nhưng để các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đạt được hiệu quả tối ưu và nâng cao khả
năng cạnh tranh trong nước và quốc tế, Nhà nước cần phải có những ưu đãi đặc
biệt.
Bảo hộ là công cụ phổ biến được chính phủ các nước sử dụng để nâng đỡ
các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh hưởng đến
nền kinh tế nước chủ nhà hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài
chính lớn, thông qua đó cải thiện ngành sản xuất nội địa. Ví dụ như Trung Quốc
duy trì mức bảo hộ rất cao cho ngành công nghiệp ô tô, Nhật Bản duy trì mức bảo
hộ cao với ngành sản xuất nông nghiệp, Hoa Kỳ dù là một nền kinh tế mạnh nhất
thế giới, khởi xướng cho xu thế tự do hoá thương mại và có tầm ảnh hưởng lớn
trong WTO, nhưng vẫn áp dụng những biện pháp bảo hộ hàng sản xuất trong nước
như phim ảnh, sắt thép, ô tô, may mặc, nông sản…
Bên cạnh đó, đối với các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và EU, mục
tiêu chính trong chính sách bảo hộ là duy trì việc làm cho những tổ chức hay nhóm
người nhất định, ổn định tương đối thu nhập và giảm bớt sức ép về chính trị của
các tổ chức đoàn thể. Để bảo hộ ngành công nghiệp dệt may vốn là ngành công
11
nghiệp thu hút khá nhiều lao động, EU đã đưa ra những thoả thuận về hạn ngạch
xuất khẩu với các nước khác, đặc biệt là các nước có nguồn nguyên liệu phong phú
và nguồn nhân công rẻ.
Bên cạnh những điều đã đạt được, việc thực hiện chính sách bảo hộ của Việt
Nam trong thời gian gần đây vẫn tồn tại những bất cập lớn như:
12
Làm giảm sức cạnh tranh của sản xuất trong nước: nhiều ngành công nghiệp
bị hạn chế khả năng tiếp cận với đầu vào nhập khẩu giá rẻ, buộc phải chuyển
sang sử dụng sản phẩm thay thế trong nước đắt hơn, làm tăng chi phí sản
xuất, giảm lợi thế cạnh tranh.
Khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu trong khi định hướng chiến lược
phát triển kinh tế của Việt Nam là sản xuất hướng về xuất khẩu. Tác động
hạn chế nhập khẩu của các biện pháp phi thuế đã khiến nhiều chủ đầu tư rút
nguồn lực khỏi lĩnh vực sản xuất phục vụ xuất khẩu để đổ xô vào lĩnh vực
thay thế nhập khẩu, gây tổn thất đáng kể cho ngành xuất khẩu.
Không tạo ra động lực khuyến khích cạnh tranh trong các ngành được bảo
hộ cao, ngăn cản những nỗ lực chủ động cải tiến, hợp lý hoá sản xuất, tự
nâng cao khả năng cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất nội địa
Các biện pháp bảo hộ của Việt Nam còn rất nhiều điểm chưa phù hợp với
thông lệ của các tổ chức kinh tế quốc tế như WTO, APEC...
II.5. Một số giải pháp bảo hộ hợp lý cho Việt Nam trong quá trình hội nhập
II.5.1. Các biện pháp kỹ thuật và kiểm dịch động thực vật
Theo các Hiệp định của WTO về các hàng rào kĩ thuật đối với thương mại
(Agreement on Technical Barriers to Trade - TBT) về vệ sinh kiểm dịch động thực
vật (Agreement on Sanitary and Phytosannitary Measures - SPS), các nước được
phép sử dụng các quy định, tiêu chuẩn kĩ thuật, các biện pháp vệ sinh kiểm dịch
thích hợp hoặc cần thiết để bảo vệ sức khoẻ, đời sống của con người, động thực
vật, bảo vệ môi trường và quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, các biện pháp đó
không được áp dụng nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện hay hạn chế vô lý
đối với thương mại quốc tế.
Trên thực tế, Việt Nam nên có chính sách đồng bộ hơn về tiêu chuẩn kỹ
Tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn, kỹ thuật, luật pháp, kinh nghiệm
cho các cán bộ thuộc các cơ quan chức năng liên quan đến việc áp dụng các
biện pháp “vùng xám”.
Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác điều tra, kiểm tra hàng
hoá nhằm thực thi nghiêm túc các quy định về tiêu chuẩn, quy cách hàng
hoá của các cơ quan quản lý chức năng.
Đổi mới phương thức trợ cấp xuất khẩu hiện nay theo hướng tập trung có
trọng điểm. Vì thế, trợ cấp xuất khẩu hướng vào những ngành kinh tế được
bảo hộ có định hướng xuất khẩu (là mục tiêu của chính sách thương mại)
chứ không chỉ đơn thuần dựa trên kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp
như hiện nay.
Nâng cao việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cơ quan
thực hiện đàm phán quốc tế đảm bảo khả năng thực thi cơ chế bảo hộ vùng
xám, tránh gây ra các tranh chấp có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường mại
quốc tế.
II.5.2. Các biện pháp chống bán phá giá
Từ thực tiễn chống bán phá giá của các nước nêu trên cũng như đối phó với các
vụ kiện chống bán phá giá, chúng ta có thể rút ra bài học tổng quát cho Việt Nam sau
đây:
14
Luật pháp và thực tiễn chống bán phá giá ở hầu hết các nước này đều tuân thủ
theo những quy định của WTO, chỉ khác nhau những vấn đề mà trong quy định của
WTO chưa quy định, không quy định rõ hoặc cho phép các Chính phủ được quyền
quyết định. Có thể nói rằng những quy định về chống bán phá giá của WTO là cốt lõi,
nền tảng để các quốc gia ban hành, sửa đổi cũng như áp dụng các quy định về chống
bán phá giá của mình. Để tiến hành chống bán phá giá có kết quả, cần thiết phải ban
hành Đạo luật chống bán phá giá. Nội dung của luật chống bán phá giá cần phải phù
hợp với các quy định chung, cơ bản của Luật chống bán phá giá của WTO (GATT
15
chuyên gia kinh tế đến các doanh nghiệp hướng dẫn cách thức điều tra trước, giúp các
doanh nghiệp làm tốt công tác chuẩn bị theo yêu cầu của bên đi kiện đối với việc sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm ở đơn vị mình, tạo điều kiện tốt cho việc kiểm tra thuận lợi và
lập luận kháng cáo sau này.
Bên cạnh đó, sự ủng hộ chi viện kịp thời của Bộ, Ngành là rất quan trọng.
Có thể dẫn ra ví dụ của Trung Quốc trong vụ kiện nước táo đặc của nước này,
Lãnh đạo Bộ hợp tác Kinh tế Mậu dịch và các Ngành hữu quan đã kịp can thiệp và
chi viện có hiệu quả các doanh nghiệp trong thời điểm quyết định, góp phần to lớn
làm cho vụ kiện tiến triển theo hướng khách quan, công bằng và có lợi cho Trung
Quốc.
Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ có một điều khoản rất chung chung trong Luật
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có nói về thuế đối kháng và thuế chống bán phá
giá. Để bảo vệ thị trường và sản xuất trong nước trước những hàng nhập khẩu bán
phá giá, chúng ta cần khẩn trương xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về
chống bán phá giá (có thể là Luật hoặc Pháp lệnh) với các mục tiêu sau:
Thứ nhất: Đảm bảo duy trì sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng trên thị
trường.
Thứ hai: Ngăn chặn một công ty hoặc một ngành sản xuất nước ngoài dùng
hành động bán phá giá để chiếm lĩnh thị trường nước ta, nhằm bảo vệ cho các
ngành sản xuất công nghiệp trong nước.
Thứ ba: Là công cụ để chống lại tình trạng Chính phủ hoặc các Hiệp hội
nước ngoài trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu của họ, dẫn đến hành động bán phá giá
gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của Việt Nam.
Thứ tư: Là công cụ để áp dụng biện pháp trả đũa đối với những quốc gia,
vùng, lãnh thổ nào áp dụng biện pháp bán phá giá mang tổ chức kỳ thị, phân biệt
đối xử đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Việc ban hành Luật chống bán phá giá của Việt Nam nếu được ban hành
hiện thông qua hỗ trợ các ngành cung cấp đầu vào hay đảm bảo đầu ra cho sản
phẩm.
Mặc dù các quy định về trợ cấp tại Hiệp định SCM và Hiệp định Nông
nghiệp của WTO khá chi tiết nhưng một số hình thức trợ cấp vẫn còn chưa chịu sự
điều chỉnh cụ thể bởi các quy tắc quốc tế thống nhất. Có thể kể ra ở đây là các hình
thức trợ cấp liên quan tới tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo
hiểm xuất khẩu. Chính vì thế mà nhiều nước vẫn đang tiếp tục áp dụng những hình
thức trợ cấp này nhằm tránh né các cam kết về cắt giảm trợ cấp xuất khẩu.
Một điểm đáng lưu ý là WTO thừa nhận trợ cấp là một công cụ phát triển
hợp pháp và quan trọng của các thành viên đang phát triển. Dưới giác độ pháp lý,
Việt Nam có thể được hưởng những đãi ngộ đặc biệt và khác biệt về trợ cấp dành
cho nước đang phát triển khi trở thành thành viên của WTO.
Do đó, Việt Nam có thể nghiên cứu kinh nghiệm của các nước khác để sử
dụng hiệu quả các biện pháp trợ cấp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. Để
đáp ứng yêu cầu của WTO, bên cạnh việc tiếp tục duy trì các hình thức trợ cấp
không ảnh hưởng tới thương mại (như trợ cấp nghiên cứu giống mới trong nông
nghiệp, phương pháp sản xuất mới, xóa đói giảm nghèo, khắc phục thiên tai,...) thì
những hình thức hỗ trợ cho xuất khẩu (như trợ giá, hỗ trợ lãi suất, thưởng thức xuất
17
khẩu, ...) cần phải từng bước loại bỏ, có thể thay vào đó là những hình thức trợ cấp
khác phù hợp với các quy định của WTO. Trong vấn đề này, Việt Nam cần phải
phát huy mạnh mẽ vai trò của các Hiệp hội ngành hàng, nhất là trong lĩnh vực tiêu
thụ sản phẩm. Nhà nước cần cho phép và khuyến khích các Hiệp hội ngành hàng tự
thành lập các quỹ hỗ trợ, Quỹ phòng ngừa rủi ro cho ngành hàng của mình, nhất là
những ngành hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn (như gạo, cà phê, cao su,
chè, thuỷ hải sản....) Những hỗ trợ từ các Quỹ của Hiệp hội cho các thành viên khi
giá cả thị trường biến động thất thường mà nguồn thu của Quỹ là do các thành viên
đóng góp tự nguyện, hoặc từ các khoản tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong ngoài
ra căn cứ xác đáng bác bỏ những biện pháp viện lý do để bảo vệ môi trường để hạn
chế hàng nhập khẩu của Việt Nam.
Một thực tế không thể phủ nhận được là ngày càng có nhiều biện pháp phi
thuế quan mới ra đời thì tính phức tạp của việc áp dụng và quản lý các biện pháp
phi thuế quan ngày càng trở nên khó khăn hơn. Thực tế đặt ra cho các nhà hoạch
định chính sách Việt Nam là cần có một định hướng đúng đắn cho sự áp dụng và
quản lý đó. Trên đây là một số định hướng cơ bản có tính tham khảo, góp phần vào
việc quản lý nhà nước về thương mại quốc tế ngày càng có hiệu quả hơn.
II.5.7. Sử dụng đội ngũ cán bộ có trình độ trong việc quản lý thực thi các
chính sách bảo hộ ở Việt Nam
Trước hết là đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách bảo hộ, bởi mỗi một
quyết định đề ra sẽ có tác động to lớn tới các ngành sản xuất trong nước và theo
chi phí cơ hội thì các biện pháp bảo hộ này sẽ gây thiệt hại và lãng phí cho xã hội.
Bởi vậy, nếu một chính sách bảo hộ đề ra là sai lầm thì thiệt hại sẽ còn được nhân
lên nhiều lần. Ngoài ra, để thực thi được chính sách bảo hộ hợp lý, phù hợp với
quy định và thông lệ quốc tế đòi hỏi người hoạch định chính sách phải có kinh
nghiệm và sự am hiểu rộng, nếu không sẽ rất khó khăn cho Việt Nam trong giai
đoạn muốn hội nhập vào các tổ chức kinh tế lớn như WTO, khi mà vị thế của
chúng ta về kinh tế và chính trị còn thấp. Các cán bộ cấp cao này phải là người có
kiến thức sâu rộng, có kĩ năng đàm phán, thuyết phục.
Với các cán bộ thực thi như cán bộ Hải quan, các Bộ ngành phụ trách về
phân bổ hạn ngạch, trợ cấp thì phải được tiến hành đào tạo và nâng cao đạo đức,
trách nhiệm và phải có kĩ năng xử lý trước mọi tình huống và đạo đức nghề
nghiệp để phòng tránh tác động xấu của hạn chế nhập khẩu là buôn lậu, gian lận
thương mại ...
Như vậy, theo kinh nghiệm của các nước đi trước, từ thực tiễn áp dụng các
biện pháp bảo hộ của các nước Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra
một số kinh nghiệm cho Việt Nam sau đây:
Việc áp dụng các biện pháp bảo hộ của các quốc gia này đều tuân thủ
theo những quy định của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO. Tuy nhiên cũng có
đạt đợc chế độ thơng mại tự do. Tuy nhiên, khó có thể định nghĩa chính xác thế nào
là thơng mại tự do bởi việc xoá bỏ triệt để tất cả mọi rào cản đối với thơng mại gần
nh là bất khả thi, hay nói đúng hơn đó chỉ là mục đích hớng tới trong tơng lai.
Trớc hết, có thể hiểu theo nghĩa hẹp, tự do hoá thơng mại là chế độ mà trong
đó việc bán hàng trong nớc cũng nh xuất khẩu đợc khuyến khích nh nhau. Cụ thể
chế độ đó đợc hoàn thiện bằng cách giảm bớt thuế quan đối với hàng nhập khẩu và
xoá bỏ trợ cấp đối với hàng xuất khẩu. Nh vậy, về nguyên tắc đây là một chế độ
không có sự can thiệp của nhà nớc. Từ đó, quá trình thực hiện tự do hoá thơng mại
chính là quá trình cải cách nhằm đa chế độ thơng mại của một nớc tiến gần đến
trạng thái trung lập, u tiên nh nhau đối với hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong
nớc. Theo cách hiểu nh trên thì tự do hoá thơng mại là cần thiết đối với bất kỳ nớc
nào khi chế độ thơng mại của nớc đó có sự phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu
và hàng xuất khẩu, giữa ngời sản xuất trong nớc với nớc ngoài, giữa nớc này với nớc khác. Nếu tự do hoá thơng mại đợc tiến hành ở nhiều nớc, kết quả đạt đợc sẽ là
sự phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn trong phạm vi nội bộ một nớc cũng nh
trên thị trờng quốc tế.
Ngoài ra, theo cách tiếp cận khác, tự do hoá thơng mại có thể hiểu là quá
trình giảm mức bảo hộ nói chung và thu hẹp khoảng cách về mức bảo hộ giữa các
ngành khác nhau. Nh vậy, tự do hoá thơng mại gắn liền với cải cách chính sách thơng mại trong mối quan hệ hoà hợp với cải cách chính sách vĩ mô. Trên thực tế các
nớc thờng tiến hành song song hai chiến lợc. Một mặt, các nớc tiến hành giảm thuế
và các rào cản khác đối với thơng mại, mặt khác, chính phủ vẫn áp dụng nhiều
chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu, bao gồm cả việc trợ cấp và cho u đãi đối
với các ngành có định hớng xuất khẩu. Từ đó, tự do hoá thơng mại có thể đợc hiểu
là những cải cách nhằm xoá bỏ dần dần mọi cản trở đối với thơng mại, bao gồm
thuế quan và phi thuế quan, đợc nghiên cứu trong mối liên hệ với các chính sách
khác của chính phủ.
III.2. Nội dung chính của tự do hoá thơng mại:
21
cách biệt lập mà phải đặt trong khuôn khổ những vấn đề rộng lớn sau đây:
- Các chính sách tài chính, tín dụng hợp lý (vừa kích thích đầu t phát triển, vừa
ổn định kinh tế vi mô).
- Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng và đầu t thơng mại trong các ngành xuất
khẩu.
- Tạo thị trờng có tính cạnh tranh và môi trờng ổn định cho đầu t và kinh doanh.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở trong nớc và
ra nớc ngoài. Việc này trớc tiên có tác dụng giúp các doanh nghiệp trong nớc hiểu
22
rõ để từ đó thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình kinh doanh.
Đồng thời phải thông báo chính thức, toàn diện về hệ thống pháp luật của nớc mình
cho các doanh nghiệp và cộng đồng nhà đầu t nớc ngoài, tránh tình trạng hiểu sai,
hoặc không đầy đủ dẫn tới những khó khăn trongviệc hội nhập kinh tế nói chung và
tự do hoá thơng mại nói riêng.
Giảm dần thuế quan
Chính sách thuế là một bộ phận của hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nớc, nó phản ánh cách thức Nhà nớc sử dụng công cụ thuế tác động vào nền kinh tế tác động tới quá trình sản xuất, lu thông, phân phối, và tiêu dùng trong dân c - để
thực hiện các mục tiêu kinh tế đặt ra cho từng thời kì. Chính sách thuế biểu hiện ở
thuế suất, những u đãi miễn giảm thuế, phạm vi áp dụng, cách thức tiến hành thu
thuế...
Trong quá trình hội nhập, yêu cầu hàng đầu trong mọi tổ chức kinh kế quốc
tế đặt ra đối với các quốc gia thành viên là giảm dần các biện pháp bảo hộ - cả các
biện pháp thuế quan cũng nh các biện pháp phi thuế quan - để hàng hoá các nớc
thành viên có thể cạnh tranh tự do và bình đẳng trên thị trờng nớc đó. Vì vậy, chính
sách thuế - đặc biệt là thuế quan thu hút đợc sự quan tâm đặc biệt khi xem xét đến
vai trò của các chính sách kinh tế vĩ mô trong quá trình hội nhập. Chính sách thuế
có vai trò thúc đẩy hoạt động thơng mại cũng nh tác động đến sự vận động của
luồng vốn quốc tế. Ngoài ra, nó còn ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh và xuất
khẩu của các doanh nghiệp trong nớc khi tham gia hội nhập.
nhập khẩu và hạn ngạch, chuyển các biện pháp phi thuế sang thuế quan và giảm dần các
các mức thuế theo lộ trình trong từng lĩnh vực.
Trớc hết là về giấy phép nhập khẩu. Mặc dù không còn đợc sử dụng nhiều
nh trớc đây, nhng trong một số lĩnh vực, việc cấp giấy phép nhập khẩu cũng còn
nhiều khó khăn, bất cập, gây ra nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp. Các thoả
thuận về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu yêu cầu giấy phép nhập khẩu phải đơn
giản, minh bạch. Đồng thời, các chính phủ phải công bố các thông tin đầy đủ cho
các nhà kinh doanh biết quy trình và điều kiện tiến hành xin cấp giấy phép. Và các
nớc cũng nên thông báo cho các tổ chức quốc tế về thơng mại khi thay đổi hoặc
ban hành những quy định mới về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của nớc mình.
Còn đối với hạn ngạch, đầu tiên sẽ là quá trình thuế quan hoá, nghĩa là đ a vào áp
dụng một mức thuế hạn chế nào đó thay thế cho hạn ngạch rồi sau đó tiến tới cắt bỏ
hàng rào thuế quan đó.
III.3. Thực tiễn tiến hành tự do hoá thơng mại ở Việt Nam trong những năm
gần đây
III.3.1 Tầm quan trọng của tự do hoá thơng mại đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam
*) Trong lĩnh vực ngoại thơng:
Để đánh giá mức độ cũng nh những nhân tố dẫn đến thành công của một nớc
sau hơn một thập kỷ đổi mới, các nhà nghiên cứu luôn đánh giá cao vai trò của
các quan hệ kinh tế đối ngoại. Việt Nam cũng không là trờng hợp ngoại lệ. Chúng
ta luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngoại thơng với các nớc trên thế giới và hiện
nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại thơng với hơn 120 quốc gia và lãnh thổ. Song
song với quá trình này là những cải cách về chính sách, cụ thể là việc áp dụng các
biện pháp khuyến khích xuất khẩu. Kết quả là tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất
khẩu giai đoạn 1986 2000 đạt khoảng 20%/năm làm cho tổng kim ngạch ngoại
thơng gia tăng đáng kể trớc đây chỉ bằng 20% GDP, nay đã tăng lên bằng 80%
GDP. Hiện nay, hoạt động ngoại thơng có vai trò có ý nghĩa then chốt trong một số
24
Vốn đầu t
đăng ký (triệu
1783
20413
8836 4500 4059 1477
41068
USD)
Nguồn: Kinh tế thế giới 1998 - 1999, đặc điểm và triển vọng.
Kinh tế thế giới 1999 - 2000, đặc điểm và triển vọng.
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài đang trở thành bộ phận quan trọng
thúc đẩy nền kinh tế nớc ta phát triển. Doanh thu xuất khẩu của bộ phận kinh tế có
vốn FDI ngày càng tăng cao: thời kỳ 1988 1991 là 52 triệu USD, năm 1996 là
786 triệu USD, và năm 2001, con số này vào khoảng 1,5 tỷ USD. Đồng thời, nguồn
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài mà chúng ta nhận đợc còn giúp phát triển các hoạt
động kinh tế đối ngoại khác, du lịch, hàng không Bên cạnh đó, tỷ lệ đóng góp
của khu vực có vốn FDI vào GDP và nguồn thu ngân sách ngày một tăng. Nhờ
nguồn vốn này, chúng ta có thêm 25 vạn chỗ làm, góp phần làm giảm tình trạng
thất nghiệp ở Việt Nam. Và một tác động không thể thiếu, đó là nó mang vào nền
kinh tế chúng ta những phong cách kinh doanh mới trên thế giới, những kinh
nghiệm quản lý và cả cách nhìn nhận mới.
*) Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
25