A.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thập kỷ mới của thế kỷ XXI tình hình thế giới và khu vực có
nhiều biến chuyển ảnh hưởng mạnh đến hòa bình và an ninh thế giới. Cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã làm nhiều nước tại châu Âu, Châu Mỹ lâm
vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng dẫn đến chính quyền sụp đổ khắp nơi. Tuy
nhiên trong hoàn cảnh đó, những quốc gia thuộc Châu Á- Thái Bình Dương ( CATBD) lại nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng và vươn lên thành siêu cường, chi
phối nền kinh tế thế giới đặc biệt là Trung Quốc. Bên cạnh đó tại nơi này xung đột
lãnh thổ, biên giới được tích tụ lâu ngày dần lộ diễn và nổ ra sau hàng loạt những
sự kiện khơi mào của Trung Quốc. Tranh chấp chủ quyền biển đảo diễn ra nóng
hơn bao giờ hết tại Biển Đông giữa năm nước một bên; giữa Nhật-Trung; TrungHàn; Nhật- Hàn. Và trầm trọng hơn là xung đột trên bán đảo Triều Tiên có dấu
hiệu leo thang sau hàng loạt vụ nổ súng, đấu khẩu của 2 bên. Tất cả những điều
này đã biến nơi đây thành địa điểm dễ xảy ra chiến tranh thế giới thứ 3.
Hơn thế nữa sự nổi lên của Trung Quốc trong những năm gần đây cả về
kinh tế và quân sự; đặc biệt qua những phát ngôn, hành động đã làm cộng đồng
quốc tế e ngại. Trung Quốc trở thành nơi tập trung chú ý của hành động quốc tế.
Chính trong hoàn cảnh đó, Mỹ tuyên bố quay trở lại khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương sau nhiều năm vắng bóng với những chính sách cụ thể, rõ ràng. Vậy vì sau
Obama lại quay trở lại vào thời điểm này?; nó có tác động gì đến tình hình khu
vực và thế giới không? Tất cả sẽ được thể hiện trong tiểu luận “ Chính sách đối
ngoại của Obama với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương hiện nay”
Tiểu luận còn nhiều sai sót, có những đánh giá mang tính chủ quan. Mong
được sự đóng góp của thầy cô!
1
2. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á, Đông Nam Á, Australasia và châu
Đại Dương. Đôi khi thuật ngữ này còn được sử dụng để chỉ những quốc gia
vùng Nam Á, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ dù các nước này nằm xa hoặc gần như
không có liên hệ đến vùng Thái Bình Dương.
1.1. Vị trí địa lý- Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Khu vực CA-TBD nằm ở phía Đông lục địa Châu Á, tiếp giáp Thái Bình
Dương. Từ xa trong lịch sử nơi đây đã trở thành địa bàn giao tranh của nhiều lực
lượng lớn trên thế giới do vị trí chiến lược của mình.
Nơi đây có những cường quốc phát triển bậc nhất thế giới như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,… với tiềm năng kinh tế, quân sự cực kỳ mạnh.
Đặc biệt tại đây còn có các căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ những đồng minh
thân thiết như Nhật, Hàn, Đài Loan, Philippin,Austrailia.
Có tuyến đường vận tải biển then chốt nối liền Châu Á với Châu Mỹ. Đặc
biệt Biển Đông là con đường chiếm tới 60% lượng hàng hóa, nguyên nhiên liệu
cung cấp cho các nước lớn. Chiếm giữ được khu vực này sẽ chi phối cả vùng
Châu Á, Châu Mỹ, Thái Bình Dương rộng lớn.
Tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng, phong phú đặc biệt là dầu mỏ, khí
đốt,… đã gây ra sức cạnh tranh rất lớn giữa các cường quốc đặc biệt là trong thế
kỷ XXI khi mà nguồn năng lượng này đang cạn kiệt dần.
CA-TBD cũng là khu vực tập trung sự trỗi dậy về kinh tế của nhiều nước,
điển hình là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc cũng những con rồng châu Á đang
có sức phát triển như vũ bão như Singapore, Hồng Kong, Đài Loan… Bên cạnh
3
đó, đây cũng là một khu vực đa dạng về thể chế chính trị với nhiều quốc gia theo
đuổi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội như CHDCND Trung Hoa, CHXHCN
Việt Nam, CHDC Triều Tiên, CHDCND Lào.
Điều kiện tự nhiên:
Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này
tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới. Hiện nay, xuất khẩu
của khu vực châu Á-Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế
giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực châu Á-Thái Bình Dương và
Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng của thế giới.
Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ hội để kinh tế
các nước xung quanh phát triển. Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới
sau khi đã vượt Pháp, Anh và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng
10%/năm trong hai thập kỷ qua. Quý III/2010, Trung Quốc chiếm ngôi vị á quân
kinh tế của Nhật Bản xét về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP. Nhưng mặt khác nó
gây ra sự e ngại và lo lắng đối với các nước trên thế giới trước sự cạnh tranh gay
gắt thậm chí là sự lấn át trên nhiều phương diện.
Thứ ba, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả
năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều đó trở
thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai.
Xã hội:
Mức sống người dân: Khu vực CA-TBD có số dân số khoảng gần 4 tỷ
người (1/2 dân số thế giới) vì vậy mà nhu cầu cực kỳ lớn trở thành thị trường thu
hút đầu tư, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó bước sang thế kỷ 21,
CA-TBD đang khẳng định là nơi có mức sống cao nhất trên thế giới. Số triệu phú
đô la ở khu vực này đã lên tới 3 triệu người trong năm 2009, tăng 25,8% so với
năm 2008 và lần đầu tiên vượt châu Âu. Tỷ lệ nghèo đói trên toàn khu vực tiếp tục
giảm với số lượng người sống bằng số tiền ít hơn 2 USD là 565 triệu vào 2010.
5
Tôn giáo: CA-TBD là khu vực có một bức tranh tôn giáo vừa đa sắc vừa
đặc biệt. Tại đây có sự xuất hiện của hầu hết những tôn giáo lớn trên thế giới.
Chính bởi sự phong phú như vậy nên vấn đề dân tộc, tôn giáo ở đây cũng không
kém phần phức tạp. Xung đột sắc tộc luôn khiến cho khu vực này rơi vào tình
hộ hoạt động Đài Loan độc lập đồng nghĩa với sự xâm lược.
Biển Đông là một điểm trong yếu địa chiến lược giữ vai trò quan trọng và
đang gây tranh chấp. Có vị trí chiến lược về giao thông vận tải biển, là con đường
huyết mạch trong vận tải biển quốc tế từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Chứa đựng trong nó nguồn tài nguyên to lớn về trữ lượng dầu mỏ ước tính là 4 tỷ
m3 và khoảng 300 tỷ m3 khí đốt. Độc chiếm biển Đông là mục tiêu lâu dài của
Trung Quốc tại Đông Nam Á. Nước này đã áp dụng rấy nhiều các biện pháp chiến
lược có tính hai mặt khôn khéo để đạt được điều này. Sự phức tạp của vấn đề biển
Đông mang tính tổng hợp, tranh chấp ở biển Đông được coi là điểm dễ bùng nổ
trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và CA-TBD nói chung.
1.3. Những điểm nổi bật của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương hiện nay
Lý do thứ nhất, xuất phát từ việc Mỹ ngày càng chuyển trọng tâm chiến
lược sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau hơn nửa thế kỷ tập trung vào
châu Âu (thời Chiến tranh lạnh) và một thập niên tập trung vào Trung Đông (thời
chống khủng bố). Ngay từ khi đưa ra chiến lược xoay trục từ Tây sang Đông, Mỹ
đã không úp mở khi thừa nhận rằng tương lai của Mỹ cũng như thế giới sẽ phụ
thuộc vào châu Á - Thái Bình Dương, ít nhất trong vài ba thập niên tới. Chính khu
vực này, chứ không phải bất cứ nơi nào khác trên thế giới, trở thành thao trường
củng cố, hay ở góc độ nào đó cũng sẽ thách thức, vị thế siêu cường số 1 của Mỹ.
Trong năm qua, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nhiều lần tiến hành các
chuyến thăm, đôi lúc cấp tập, tới các nước châu Á. Chỉ 2 tuần sau khi tái đắc cử
nhiệm kỳ 2, Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng đã chọn đi thăm 3 nước châu Á
gồm Thái Lan, Myanma và Campuchia. Các chuyến thăm này không chỉ giúp Mỹ
7
củng cố quan hệ với các đồng minh cũ, tìm kiếm thêm các đồng minh mới, mà còn
tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác trên cả ba lĩnh vực: Kinh tế, chính trị
và quân sự.
mới. Ở Nga, Trung Quốc và Mỹ đều sẽ diễn ra cuộc chuyển giao quyền lực, chứng
kiến những đổi thay to lớn và điều đó sẽ ảnh hưởng đến tham vọng chính trị và vị
trí của các nước này trên chính trường quốc tế. Sức mạnh nổi lên của Trung Quốc,
sự phục hồi của Nga tiếp tục làm cho Mỹ bận tâm. Nhưng quan trọng không kém,
mỗi nước đều đối mặt với những vấn đề khổng lồ về kinh tế, nhất là sau cuộc
khủng hoảng nợ công tại Mỹ và các biến động lớn về kinh tế, tài chính trên toàn
thế giới.
Có thể nói, 2012 là năm khởi đầu thế trận mới ở châu Á - Thái Bình Dương
với những sự kiện đáng chú ý với cả các nước trong khu vực và thế giới. Với
những diễn biến đó, cộng thêm những chuyển động chính trị phức tạp tại khu vực
này trong thời gian tới sau khi cả cả ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
đều đã bầu ra ban lãnh đạo mới giữ quan điểm cứng rắn, chắc chắn châu Á - Thái
Bình Dương sẽ vẫn là “điểm nóng” của thế giới trong năm 2013 và có thể cả nhiều
năm tiếp theo.
9
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA OBAMA VỚI CHÂU Á
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Đôi nét về chính sách đối ngoại của tổng thống Mỹ G.Bush đối với khu
vực châu Á- Thái bình dương
George Walker Bush sinh ngày 6 tháng 7 năm 1946 là chính khách và tổng
thống thứ 43 của Hoa Kỳ. Ông thuộc Đảng cộng hòa và là thành viên của một gia
đình danh giá và quyền thế nhất nước Mỹ. Năm 2000 ông được đảng Cộng hòa
chọn làm ứng cử viên tổng thống và trở thành ông chủ Nhà Trắng sau khi đánh bại
ứng cử viên Al Gore của đảng Dân chủ. Năm 2004, ông lại một lần nữa giữ chức
Tổng thống khi tái đắc cử sau khi thắng Thượng nghị sĩ John Kerry.
Trong thời kỳ Bush làm tổng thống, Mỹ xác định CA-TBD chính là điểm
trọng yếu số một sau khi “xoay trục” chính sách đối ngoại từ Âu sang Á. Các
vực bất ổn về chính trị và mong manh về kinh tế, Đông Nam Á vẫn quan trọng đối
với an ninh quốc gia của nước Mỹ, Mỹ có lợi ích kinh tế rất lớn và đang gia tăng
thương mại lẫn đầu tư ở Đông Nam Á. Ở một khía cạnh nào đó, chính sách của
chính quyền Bush vẫn là sự kế thừa các định hướng đã được xác lập dưới thời
Clinton. Tuy nhiên do chống khủng bố được coi là ưu tiên chiến lược hàng đầu,
nên chính sách an ninh quân sự đối với khu vực được nhân mạnh hơn cả so với
các lĩnh vực khác như kinh tế, dân chủ nhân quyền.
Tuy nhiên có thể khẳng định dưới thời Tổng thống Mỹ Bush, chính sách
hướng về CA-TBD chưa thực sự rõ rêt, mạnh mẽ. Nó chỉ được khẳng định từ cuối
thời Bush, nhất là sau khi Obama lên làm tổng thống.
2.2. Chính sách đối ngoại của Obama với Châu Á – Thái Bình Dương
2.2.1. Sơ qua về Tổng thống Obama và chính sách đối ngoại của ông
Barack Hussein Obama sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961, là Tổng thống
đương nhiệm Hoa Kỳ. Ông là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ
11
này. Năm 2004, Obama gây tiếng vang toàn quốc khi đọc bài diễn văn then chốt
tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ vào tháng 7, sau đó vào tháng 11, ông đắc cử
vào Thượng viện Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống khởi đầu từ năm
2007, đến năm 2008, Obama thắng sít sao Hillary Rodham Clinton để nhận sự đề
cử của Đảng Dân chủ. Ông đánh bại ứng cử viên Cộng hòa John McCain trong
cuộc tổng tuyển cử, và tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ ngày 20 tháng 1,
2009. Đến năm 2012, ông đắc cử nhiệm kỳ thứ hai sau chiến thắng trước ứng cử
viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney.
Các chính sách đối ngoại của Obama rất rõ ràng, ông và bộ máy của mình
liên tục thực hiện những chuyến công du nhằm công bố một “kỷ nguyên mới”
trong bang giao giữa Hoa Kỳ với Nga và Châu Âu. Chính quyền Obama đã tìm
cách né tránh hay ít ra hạn chế chủ nghĩa đơn phương và quân phiệt mà chính
khai. Ngày 21 tháng 1 năm 2010, tại cuộc điều trần trước quốc hội, Trợ lí Ngoại
trưởng phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương Kurt M. Campbell nói rất
rõ: “nhân dịp thế kỷ của châu Á-Thái Bình Dương đang đến, trong môi trường
quốc tế mới, Mỹ cần phải tăng cường và làm sâu sắc hơn nữa vai trò lãnh đạo và
sự tham gia chiến lược của mình ở khu vực này.” Từ đó có thể thấy, mục tiêu chủ
yếu của chiến lược an ninh châu Á Thái Bình Dương của mình là: muốn tăng
cường quyền lãnh đạo và quyền khống chế của mình đối với khu vực châu Á-Thái
Bình Dương.
Ngày 12 tháng 1 năm 2010, trong bài phát biểu ở Honolulu, Hillary Clinton
đã trình bày rõ ràng trọng điểm và nguyên tắc công việc của Mỹ ở khu vực châu
Á-Thái Bình Dương, trên thực tế những nguyên tắc và trọng điểm này là nội dụng
cơ bản của chiến lược an ninh châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ:
Một là, tăng cường hệ thống liên minh của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình
Dương, và thúc đẩy quan hệ đối tác của Mỹ ở khu vực này. Mỹ coi các nước đồng
minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philíppin và Thái Lan là lực lượng dựa vào chủ
13
yếu để Mỹ tiếp tục duy trì và phát huy tầm ảnh hưởng ở khu vực châu Á-Thái
Bình Dương. Vì vậy, trên cơ sở đó Mỹ không cắt giảm quân đồn trú ở khu vực
châu Á-Thái Bình Dương, không ngừng cải tiến chất lượng quân đồn trú của Mỹ ở
khu vực này. Tháng 2 năm 2009, Mỹ và Nhật Bản đã ký “Hiệp định quốc tế về đảo
Guam”, kế hoạch trong 6 năm tới sẽ chuyển sĩ quan, binh lính và người thân của
đội hải quân lục chiến Mỹ đồn trú ở căn cứ Futenma tại Okinawa về đảo Guam.
Mỹ tích cực hợp tác với Hàn Quốc trong vấn đề thuyết phục Triều Tiên từ bỏ hạt
nhân và đàm phán 6 bên, khích lệ Hàn Quốc phát huy vai trò tích cực trong việc
duy trì ổn định an ninh khu vực Đông Bắc Á và xóa bỏ hoàn toàn hạt nhân. Để mở
rộng lại ảnh hưởng ở châu Á, Chính quyền Obama còn chú trọng phát triển quan
hệ với các nước không phải đồng minh của Mỹ. Hillary nêu rõ: “Ngoài hiệp ước
đồng minh, Mỹ sẽ tăng cường quan hệ với các nước chủ chốt khác, chúng tôi sẽ
là dựa trên cơ sở xem xét lại chính sách ngoại giao và chính trị cường quyền của
chủ nghĩa đơn phương Bush con; là sự mở rộng và khẳng định lại đối với chiến
lược an ninh châu Á-Thái Bình Dương của Chính quyền Clinton. Phạm vi tư duy
của chiến lược này là chủ nghĩa tự do mới, tức là nhấn mạnh hợp tác ngoại giao,
chứ không phải đe dọa bằng vũ lực; coi trọng việc tiếp xúc hiểu biết lẫn nhau, chứ
không phải đối kháng cô lập; thừa nhận lợi ích chung, chứ không phủ nhận mâu
thuẫn, xung đột; nhấn mạnh việc phát triển cơ chế đa phương, chứ không đơn
thuần dựa vào liên minh quân sự song phương, từ đó đạt được mục tiêu cuối cùng
là tăng cường quyền lãnh đạo và khống chế của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình
Dương.
15
CHƯƠNG 3: SỰ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH CỦA OBAMA Ở KHU VỰC
CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG.
3.1. Triển khai chính sách từ đầu nhiệm kỳ.
Ngay từ nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên vào năm 2008, Tổng thống Mỹ
Obama đã "sửa sai" những hậu quả đối ngoại ở khu vực CA-TBD mà chính
quyền tiền nhiệm Bush để lại. Cách tiếp cận của Oa-sinh-tơn dựa trên một "lý lẽ"
đơn giản: Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương, có những quyền lợi không thể
tách rời khỏi trật tự kinh tế, an ninh và chính trị của châu Á, do đó, sự thành công
của Mỹ trong thế kỷ 21 gắn liền với sự thành công của châu Á.
Trong tình thế vừa thúc đẩy hợp tác, lại vừa e ngại trước sự trỗi dậy của
"đối thủ chiến lược" Trung Quốc, việc điều chỉnh chính sách của Oa-sinh-tơn đối
với khu vực châu Á - Thái Bình Dương được các nhà quan sát cho rằng, đây là
hành động vừa nhằm cân bằng tầm ảnh hưởng của Mỹ, lại vừa nhằm đích "kìm
hãm" tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với khu vực. Hàng loạt đồng minh và đối
tác đã được Oa-sinh-tơn "mời gọi" để tham gia "cuộc trở lại" ngoạn mục và nhiều
toan tính tại châu Á - Thái Bình Dương. Trong số này phải kể đến Ô-xtrây-li-a, Ấn
tranh thủ ảnh hưởng của Trung Quốc trong các đối sách với CHDCND Triều Tiên
để duy trì sự ổn định trên bán đảo Triều Tiên. Mặt khác, Mỹ chú ý theo dõi sự phát
triển của quân đội Trung Quốc, không để làm mất cân bằng trong cán cân lực
lượng giữa Trung Quốc và Đài Loan. Mỹ đặc biệt lo ngại về quy mô và mục tiêu
chiến lược của chương trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc cũng như hành
động của Trung Quốc trong vũ trụ, trong không gian áo, trên Hoàng Hải và biển
Đông. Do đó, Mỹ sẽ sẵn sang thể hiện ý chí và đầu tư nguồn lực để đối phó với
hành động của Trung Quốc đe dọa lợi ích của Mỹ cũng như an ninh cuả các đồng
minh của Mỹ ở CA-TBD.
Nhật Bản:
Vào cuối nhiệm kỳ của tổng thống G.Bush, quan hệ Mỹ Nhật tồn tại mối
bất đồng trong chính sách với CHDCND Triều Tiên. Nhưng khi B.Obama lên cầm
17
quyền, ông đã nhanh chóng giải tỏa một số quan ngại trên nhằm củng cố quan hệ
đồng minh với Nhật Bản qua các chuyến thăm, tuyên bố và một số thỏa thuận cụ
thể. Ngoại trưởng Clinton khẳng định Nhật Bản tiếp tục là đồng minh quan trọng
số một của Mỹ, quan hệ Mỹ- Nhật là “hòn đá tảng” trong chính sách của Mỹ trong
khu vực CA-TBD và trong “nỗ lực toàn cầu của Mỹ”.
Trước xu thế muốn độc lập hơn trong nội bộ Nhật Bản, tổng thống Obama
nhấn mạnh yếu tố “bình đẳng” trong quan hệ đồng minh và khẳng định đây là
“nền tảng” cho an ninh và thịnh vượng của cả Mỹ và Nhật Bản. Cụ thể, Mỹ cam
kết sẽ tiếp tục bảo vệ Nhật Bản và giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều
Tiên một cách tổng thể, trong đó có cả vấn đề người Nhật bị bắt cóc, ủng hộ Nhật
Bản là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, tăng cường trao đổi
thông tin và phối hợp trong Đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều
Tiên, hợp tác giải quyết các vấn đề khủng hoảng kinh tế, năng lượng sạch, an ninh,
biến đổi khí hậu và các vấn đề toàn cầu khác.
Đông Nam Á:
ninh hàng hải rất rõ ràng. Chúng tôi có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, phát
triển kinh tế và thương mại không bị cản trở và tôn trọng luật pháp quốc tế. Chúng
tôi tin rằng luật pháp và tập quán quốc tế, như đã phản ảnh trong Công ước của
LHQ về Luật biển đã đưa ra hướng dẫn rõ ràng về việc sử dụng thích hợp lĩnh vực
hàng hải và quyền tiếp cận nó. Bằng cách tôn trọng những hướng dẫn này, chúng
ta có thể bảo đảm rằng tất cả các nước đều được quyền sử dụng vùng biển quốc tế
một cách công bằng”.
Mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư với khu vực:
Nhằm thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ vào 2015, Mỹ
đang tìm kiếm cơ hội để tăng cường quan hệ kinh tế với khu vực (năm 2010, kim
ngạch xuất khẩu của Mỹ tới châu Á là 320 tỷ USD, tạo ra 850 nghìn việc làm).
Mỹ đang hướng tới các hiệp định thương mại mới với Hàn Quốc (giảm 95% thuế
đối với xuất khẩu của Mỹ và giúp tạo ra 70 nghìn việc làm trong 5 năm tới, giúp
19
tăng 10 tỷ USD xuất khẩu hàng năm của Mỹ). Với hiệp định TPP, Mỹ không chỉ
nhằm tạo ra tăng trưởng kinh tế, mà tăng trưởng với chất lượng cao hơn.
Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục thông qua APEC, G20 và các quan hệ song
phương để thúc đẩy mở cửa thị trường, giảm rào cản thương mại, tăng cường
minh bạch và thực hiện cam kết thương mại công bằng.
3.2. Chính sách từ cuối 2012 đầu 2013:
Cùng với sự sụt giảm về tăng trưởng, thay đổi ê kíp lãnh đạo ở nhiều nước
cuối năm 2012, những va chạm liên tục trên biển Hoa Đông hay Biển Đông liên
quan tới chủ quyền, tình trạng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên trong suốt mấy
tháng đầu năm 2013 đang góp phần tạo ra những xáo trộn tại châu Á – Thái Bình
Dương.
Đặc biệt, những diễn biến vừa qua cho thấy, những toan tính, dự định của nhiều
nước đang dần bộc lộ và một hệ quả tất yếu là, dường như, châu Á – Thái Bình
Dương đang bắt đầu bước vào một guồng quay mới. Chính vì vậy ngay từ đầu
26-3-2013 Tổng thống Obama quyết định thông qua đạo luật hạn chế nhập hàng
công nghệ từ Trung Quốc; ngày 8-4-2013 chính phủ Mỹ lại tiếp tục cấm nhập hơn
70.000 mô tô và xe địa hình ATV do Trung Quốc sản xuất).
Biển Đông: Hoa Kỳ đã có những động thái hợp tác chặt chẽ hơn với quân
đội Việt Nam và Philipine, hai nước có tranh chấp với Trung Quốc về lợi ích tại
Biển Đông.
3.3. Tác động của chính sách đối ngoại của Obama với châu Á- Thái Bình
Dương
Trung Quốc: Đối với Bắc Kinh, chính sách chuyển trọng tâm của tổng
thống Obama là tàn dư của ý tưởng Chiến tranh lạnh đã lỗi thời. Bắc Kinh tin rằng
do lo sợ về sự trỗi dậy của Trung Quốc mà Washington đang cố tìm cách đổ thêm
dầu vào các cuộc căng thẳng ở khu vực để cô lập Trung Quốc và khích lệ các nước
mà Trung Quốc có tranh chấp lãnh thổ. Phía Trung Quốc khẳng định một chiến
21
lược nhằm kiềm chế Trung Quốc chắc chắn sẽ thất bại. Những năm gần đây, Mỹ
rõ ràng đã thực hiện chiến thuật bao vây Trung Quốc thông qua chiến lược quân
sự. Cùng với ý đồ làm suy yếu Trung Quốc, là nước giữ vai trò lãnh đạo khu vực,
Mỹ cũng tăng cường ủng hộ về ngoại giao đối với những nước có tranh chấp lãnh
thổ với Trung Quốc, thậm chí muốn đóng vai trò trung gian hòa giải trong cuộc
xung đột này. Mỹ càng công khai ý đồ can dự vào tranh chấp lãnh thổ giữa Trung
Quốc với các nước láng giềng, thì càng có khả năng làm tình hình căng thẳng hơn,
dẫn đến xung đột quân sự.
Nhật Bản: Sự trỗi dậy mạnh mẽ này của Trung Quốc cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến người đồng minh thân cận nhất của Mỹ- Nhật Bản. Hiện nay, vụ tranh
chấp quần đảo Điếu ngư/Senkaku giữa Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng căng
thẳng. Sự hiện diện gần như liên tục của các tàu Trung Quốc xung quanh các đảo
này đã làm cho lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản bị căng mỏng hết cỡ.. Giữa
tình hình đó, Mỹ thận trọng không đứng về bên nào, vì lo sợ bị cuốn vào cuộc
ngầm chạy dầu diesel mà giới chức Đài Loan thực sự cần thì Mỹ đã không bán.
Bán đảo Triều Tiên: Sau khi lãnh đạo mới của Triều Tiên lên nắm quyền thế
giới bên ngoài hầu như không biết gì nhiều, một chương trình hạt nhân và tên lửa
đạn đạo thường được đưa ra để làm căng thẳng khu vực và một thái độ ngang tàng
đối với Mỹ. Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận là Mỹ vẫn đang tiếp tục
can thiệp vào tình hình căng thẳng trên bán đảo này. Hiện nay Mỹ có khoảng
28.500 quân đóng ở HÀn Quốc và 70% vũ khí của nước này nhập từ Mỹ. Hiện
nay khi căng thẳng đang leo thang, Triều Tiên tuyên bố tình trạng chiến tranh
trong nước và các bên liên tục có những cuộc tập trận thì Mỹ lại càng can thiệp
sâu hơn. Hàn Quốc và Mỹ liên tục có những cuộc tập trận chung. Tổng
thống Mỹ Obama từng khẳng định, không ai muốn có chiến tranh với Triều Tiên,
nhưng sẽ làm tất cả những gì có thể để tự vệ. Mỹ cũng hối thúc Trung Quốc và
Nga tích cực hơn nữa trong việc gây ảnh hưởng với Triều Tiên. Mỹ và Trung
Quốc cũng đã nhất trí cùng thực hiện một nỗ lực chung để duy trì hòa bình, ổn
định và thúc đẩy phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên. Cũng có nhiều chỉ trích
23
dành cho chính sách của Mỹ tại bán đảo Triều Tiên, đặc biệt là việc tình hình bán
đảo Triều Tiên trong năm 2010 xấu đi hoàn toàn là do lỗi của Mỹ. Tuy nhiên, đến
năm 2011, Chính quyền Obama đã ý thức được rằng sách lược dùng vũ lực đế gây
sức ép với Bắc Triều Tiên là không khả thi, vì thế Mỹ đã bổ nhiệm đặc phái viên
mới của ngoại trưởng phụ trách Triều Tiên và Trưởng đoàn đàm phán của Mỹ
tham gia Đàm phán Sáu bên về vấn đề hạt nhân của bán đảo Triều Tiên để khôi
phục lại sự tiếp xúc giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên.
24
C.