TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CAN THIỆP GIÁ CỦA CHÍNH PHỦ NHẰM BÌNH ỔN GIÁ SẮT THÉP - Pdf 22

Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
MỤC LỤC
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1.Các khái niệm 1
1.1.1. Chính sách 1
1.1.2. Phân tích chính sách 1
1.2.Các chính sách can thiệp giá của chính phủ 1
1.2.1. Giá trần (giá tối đa) 1
1.2.2. Giá sàn (giá tối thiểu) 2
1.2.3. Trợ giá và hạn ngạch sản xuất 2
1.2.3.1.Trợ giá 2
1.2.3.2.Hạn ngạch sản xuất 2
1.2.4. Đánh thuế (đặc thù là thuế đánh trên mỗi đơn vị sản phẩm) 3
1.2.5. Trợ cấp 3
1.2.6. Hạn ngạch và thuế nhập khẩu 3
1.2.6.1.Thuế nhập khẩu 3
1.2.6.2.Hạn ngạch nhập khẩu 4
1.2.7. Hạn ngạch và thuế xuất khẩu 4
1.2.7.1.Thuế xuất khẩu 4
1.2.7.2.Hạn ngạch xuất khẩu 4
1.3.Ưu và nhược điểm của các chính sách can thiệp 5
II.THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG SẮT THÉP Ở VIỆT NAM 8
2.1.Đặc điểm ngành thép Việt Nam 8
2.1.2. Hiện trạng dư thừa và thiếu hụt 11
2.2.Diễn biến giá cả và chính sách can thiệp của chính phủ 14
2.2.1. Diễn biến giá cả trong vòng năm năm trở lại 14
2.2.2. Chính sách can thiệp của Chính phủ 14
2.2.2.1.Quy định giá trần đối với những thành viên Hiệp hội thép 14
2.2.2.2.Bảo hộ hàng trong nước: đánh thuế nhập khẩu 15
III.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh

chính thức được gọi dưới cái tên “chính sách”. Chính sách cũng có thể hàm chứa
những tính toán, định hướng của Chính phủ, mối quan tâm đến một số nhóm đối
tượng đặc biệt nào đó hay đơn thuần chỉ là sự áp đặt mang “tính gia trưởng” của
Nhà nước.
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một
nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson
2003).
1.1.2. Phân tích chính sách
Phân tích chính sách là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học, các phương
pháp và kỹ thuật đa dạng để xử lý thông tin thực tế về chính sách và trong quy trình
chính sách, từ đó rút ra những điều cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu lực và
hiệu quả của chính sách (Lê Chi Mai - 2001).
Các bước thực hiện: xác định vấn đề, mục tiêu cụ thể
- Đưa ra các lựa chọn
- Dự đoán các kết quả
- Đánh giá tác động
- Đưa ra lựa chọn và kiểm soát việc thực thi.
1.2. Các chính sách can thiệp giá của chính phủ
Trong thực tế, hầu hết các thị trường không hoạt động hoàn toàn tự do. Hệ thống
kinh tế ở hầu hết các nước không hoàn toàn là hệ thống kinh tế thị trường tự do
thuần túy mà là hệ thống kinh tế hỗn hợp. Chính phủ thường can thiệp trực tiếp hay
gián tiếp vào thị trường bằng một số biện pháp. Sự can thiệp này nhằm mục đích
bình ổn giá cả trên thị trường hàng hóa và dịch vụ .
1.2.1. Giá trần (giá tối đa)
Để tránh tình trạng giá cao bất thường đối với một số hàng hóa và dịch vụ thiết
yếu, chính phủ có thế ấn định giá trần, theo luật giá không được tăng vượt giá trần
đã định.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 1
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
 Mục đích: Bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng

 Tác động: Lượng cung giảm, lượng cầu giảm.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 2
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
1.2.4. Đánh thuế (đặc thù là thuế đánh trên mỗi đơn vị sản phẩm)
Thuế trên từng mặt hàng (hay thuế tính theo đơn vị hàng hóa) là khoản tiền do
người tiêu dùng hoặc người sản xuất trả trên mỗi đơn vị hàng hóa tại thời điểm bán
 Mục đích:
Một hình thức phân phối lại thu nhập hay hạn chế việc sản xuất hay tiêu dùng
một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
 Tác động:
- Người sản xuất sẽ chịu phần lớn khoản thuế nếu cầu co giãn nhiều hơn so với
cung
- Người tiêu dùng sẽ gánh chịu phần lớn khoản thuế nếu cầu ít co giãn so với
cung .
1.2.5. Trợ cấp
Là hình thức hỗ trợ cho người sản xuất hay tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch
vụ nào đó. Trợ cấp có thể xem như là một khoản thuế âm, tác dụng tương tự như
thế, nghĩa là bên nào co giãn ít hơn sẽ hưởng trợ cấp nhiều hơn.
 Mục đích: Hỗ trợ cho người sản xuất hay tiêu dùng
 Tác động:
Người mua hay người bán hưởng lợi từ chính sách trợ cấp của chính phủ phụ
thuộc vào độ co giãn của cung và cầu. Người sản xuất sẽ hưởng phần lớn khoản
trợ cấp nếu cầu co giãn nhiều so với cung.
1.2.6. Hạn ngạch và thuế nhập khẩu
1.2.6.1. Thuế nhập khẩu
Là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có
nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu
 Mục đích:
- Bảo hộ các ngành sản xuất trong nước
- Là công cụ kinh tế khuyến khích hay hạn chế đối với sản xuất và tiêu dùng.

- Giá trong nước giảm
- Lượng cung trong nước giảm
- Lượng cầu trong nước tăng
- Lượng xuất khẩu giảm
1.2.7.2. Hạn ngạch xuất khẩu
Là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một
nhóm hàng được phép xuất sang thị trường nước ngoài trong một thời gian nhất
định thông qua hình thức cấp giấy phép.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 4
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
 Mục đích:
- Bình ổn giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước.
- Là công cụ kinh tế khuyến khích hay hạn chế đối với người tiêu dùng và người
sản xuất.
 Tác động:
- Giá trong nước giảm
- Lượng cung trong nước giảm
- Lượng cầu trong nước tăng
- Lượng xuất khẩu giảm
1.3. Ưu và nhược điểm của các chính sách can thiệp
ST
T
Chính sách
can thiệp
giá
Ưu điểm Nhược điểm
1 Giá trần
Bình ổn được giá cả của các mặt
hàng thiết yếu khi giá trị trường
quá cao trong một thời gian nhất

việc mua và lưu trữ hàng hóa dư
thừa trên thị trường
- Ảnh hưởng đến nhà xuất khẩu
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 5
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
trong nước nếu Chính phủ bán “phá
giá” một phần trong sản phẩm đã
mua.
4
Hạn ngạch
sản xuất
- Làm cho giá cả sản phẩm tăng
đối với một số mặt hàng giá quá
thấp
- So với trợ cấp giá bằng cách
mua sản lượng lợi ích của người
sản xuất đều không thay đổi.
- Người tiêu dùng bị thiệt hại vì mua
với giá cao
- Gây ra những tổn thất xã hội
- Có thể chi phí Chính phủ phải trả
nhiều hơn so với trợ cấp giá.
5 Thuế
- Bình ổn giá cả hàng hóa và dịch
vụ khi lượng cầu hoặc lượng cung
quá lớn trên thị trường.
- Xác định một cách tương đối
chính xác ai phải chịu phần lớn
khoản thuế để phân phối lại thu
nhập, hạn chế sản xuất hay tiêu

phủ
- Có thể biến một doanh nghiệp
trong nước thành một nhà độc
quyền.
8 Thuế nhập
khẩu
- Chống lại các hành vi phá giá
bằng cách tăng giá hàng nhập
khẩu của mặt hàng phá giá lên tới
mức giá chung của thị trường.
- Bảo hộ cho các lĩnh vực sản
xuất then chốt, chẳng hạn nông
nghiệp
- Khuyến khích sản xuất phi hiệu
quả trong nước
- Do sự yếu kém của một số nhà sản
xuất trong nước gây ra tổn thất lợi
ích ròng của toàn xã hội.
- Làm cho người tiêu dùng giảm sút
độ thoả dụng do phải tiêu dùng ít.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 6
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
- Bảo vệ các ngành công nghiệp
non trẻ cho đến khi chúng đủ
vững mạnh để có thể cạnh tranh
sòng phẳng trên thị trường quốc
tế
- Cải thiện cán cân thương mại
- Tăng thu ngân sách cho nhà
nước

an toàn lương thực hay an ninh
quốc gia được đặt lên trên hết.
- Khuyến khích công nghiệp
trong nước phát triển, tăng cường
xuất khẩu thành phẩm hơn là xuất
khẩu sản phẩm thô. Hạn chế nhập
khẩu
- Tăng ngân sách cho chính phủ.
- Gây ra tổn thất xã hội
- Cán cân thương mại khôn g được
cải thiện
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 7
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG SẮT THÉP Ở VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm ngành thép Việt Nam
2.1.1. Thực trạng phát triển ngành thép
Ngành thép Việt Nam còn rất non trẻ, được xây dựng từ những năm 60 của thế
kỷ 20, với sự ra đời mẻ gang đầu tiên vào năm 1963, nhưng phải đến năm 1975 mới
có mẻ thép đầu tiên ra đời tại công ty gang thép Thái Nguyên. Trong giai đoạn từ
1975 đến 1990, ngành thép Việt Nam phát triển rất chậm, phần lớn sử dụng nguồn
thép của các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, sản lượng trong giai đoạn này duy trì ở
mức 40.000 – 80.000 tấn/năm.
Từ năm 1990 đến nay ngành thép Việt Nam có nhiều đổi mới và tăng trưởng
mạnh. Sự ra đời của Tổng Công ty thép Việt Nam năm 1990 đã góp phần quan
trọng vào sự bình ổn và phát triển của ngành. Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển
mình của ngành thép với sự ra đời của 4 công ty liên doanh sản xuất thép là , Liên
doanh thép Việt Nhật (Vinakyoei), Việt Úc (Vinausteel), Việt Hàn (VPS) và Việt
Nam – Singapore (Nasteel) với tổng công suất khoảng 840.000 tấn/năm. Từ 2002 -
2005 nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài được
thành lập, ngành thép Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ với tổng công suất lên

hiện nay hoạt động sản xuất của công ty chưa liên tục). Như vậy công suất sản xuất
thép tấm của cả nước đến nay mới là 1,1 triệu tấn. Trong khi đó nhu cầu hiện nay
khoảng 4-5 triệu tấn, nếu hoạt động hết công suất thì nước ta vẫn phải nhập khẩu
khoảng 80% thép dẹt. Ngành thép Việt Nam hiện nay mới chỉ tập trung sản xuất các
sản phẩm thép dài do đầu tư vào sản phẩm này cần vốn ít, thời gian xây dựng nhà
máy ngắn, hiệu quả đầu tư tương đối cao. Đối với sản phẩm thép dẹt, để đảm bảo
hiệu quả thì yêu cầu công suất nhà máy phải lớn, cần vốn đầu tư lớn, nhưng thời
gian thu hồi vốn lâu, các doanh nghiệp trong nước không đủ vốn đầu tư nên đến nay
chưa phát triển. Tuy nhiên hiện có nhiều tập đoàn lớn đang đầu tư vào xây dựng các
nhà máy thép quy mô lớn hoặc khu liên hiệp và tập trung nhiều vào sản phẩm thép
dẹt, nên trong tương lai cơ cấu sản xuất thép dài và thép dẹt tại Việt Nam sẽ không
mất cân đối như hiện nay.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 9
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
Tại các nước công nghiệp phát triển cơ cấu tiêu thụ là khoảng 55% là thép dẹt và
45% là thép dài. Tuy nhiên ở Việt Nam do nhu cầu xây dựng cơ bản lớn nên tỷ lệ
trên là khoảng 50% thép dẹt và 50% thép dài. Theo chiến lược quy hoạch ngành
thép 2007 - 2015 có định hướng tới 2025 thì năm 2025 cơ cấu tiêu thụ thép dài và
thép dẹt của Việt Nam sẽ tương tự như các nước phát triển hiện nay.
Cũng giống với các nước đang phát triển khác, sự phát triển của ngành Thép
Việt Nam bị coi là đi theo chiều ngược khi công nghiệp cán có trước công nghiệp
luyện, phần lớn do hạn chế về vốn đầu tư, do chính sách phát triển ngành. Ý kiến
khác lại cho rằng ngành Thép sở dĩ phát triển ngược là do Việt Nam không có chính
sách bảo hộ đúng mức cho phần gốc là luyện phôi thép, cho nên mặc dù thời gian
gần đây ngành Thép phát triển được là nhờ nguồn phôi nhập khẩu, không tận dụng
được lợi thế giàu tài nguyên của Việt Nam.
Tuy có bước chuyển biến đáng kể trong phát triển ngành Thép, nhưng ngành
Thép Việt Nam lại lệ thuộc 60% vào phôi thép nhập từ nước ngoài, 40% là do trong
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 10
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh

Mặc dù năng lực sản xuất các sản phẩm thép hiện có vượt quá xa với nhu cầu
thực tế của thị trường trong nước. Tuy nhiên, việc cấp giấy phép xây dựng ở các địa
phương vẫn được tiếp tục. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, đến cuối tháng
8/2009, có tới 32 dự án thép khác được địa phương cấp phép, nhưng chưa có ý kiến
chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng. Ngoài ra cả nước còn có 65 dự án
gang, thép, công suất từ 100.000 tấn mỗi năm trở lên đã đi vào sản xuất, hoặc đang
triển khai đầu tư. Trong đó có 17 Dự án thuộc danh mục được quy hoạch, 16 dự án
được ý kiến thỏa thuận của Bộ Công Thương.
Hiện có 3 dự án sản xuất thép tấm cán nóng, có trong quy hoạch, nhưng khả
năng triển khai đang gặp nhiều khó khăn. Đó là các Dự án Nhà máy thép liên hợp
Hà Tĩnh của Tập đoàn Tata, Dự án Khu liên hợp Cà Ná - Ninh Thuận của Lion
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 11
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
Group -Vinashin và Dự án Nhà máy thép tấm cán nóng Bà Rịa - Vũng Tàu
(VNSTeel mua lại của Tập đoàn Essar).
Nhiều chuyên gia đã dự báo, nếu tính sản lượng thép sản xuất và mức độ đầu tư
quá lớn vào ngành thép thời gian qua, đến năm 2030 ngành thép sẽ gặp “khủng
hoảng thừa”. Thế nhưng cho đến nay, hàng chục dự án thép vẫn được cấp phép.
Nếu cứ đầu tư dàn trải không hiệu quả như thời gian qua, ngành thép sẽ có 6 “điểm
yếu”. Đó là ngành công nghiệp có giá trị gia tăng rất thấp; Phát triển ngành thép
Việt Nam không thu nhận được nhiều từ quá trình chuyển giao công nghệ; số lao
động được giải quyết việc làm không đáng kể khi mỗi nhà máy luyện thép lớn chỉ
cần khoảng 1.000 nhân công; huỷ hoại môi trường; tiêu tốn hàng loạt các loại tài
nguyên quý báu như đất, nước, năng lượng…
Sản xuất thép được bắt đầu bằng việc luyện phôi thép mà nguyên liệu chính
được dùng ở đây là quặng sắt hoặc thép phế liệu. Một nguyên liệu quan trọng không
kém được sử dụng trong quá trình luyện là than cốc. Tuy nhiên hiện nay các công ty
kinh doanh trong ngành mới chỉ dừng lại ở bước thứ hai tức là chủ yếu vẫn nhập
khẩu phôi thép từ nước ngoài về thực hiện gia công, chế tạo sản phẩm (phôi sản
xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu, 60% còn lại là nhập khẩu).

2.2.2. Chính sách can thiệp của Chính phủ
Ngành thép được coi là một trong những ngành xương sống, mặt hàng thiết yếu
của nền kinh tế bởi nó cung cấp đầu vào cho các ngành xây dựng, sản xuất máy
móc công nghiệp, đóng tàu và công nghiệp quốc phòng. Sản phẩm của ngành gồm
hai loại chính là thép xây dựng và thép công nghiệp. Nếu như sản xuất thép xây
dựng có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc với các ngành như xây dựng và bất
động sản thì thép công nghiệp lại có sự tương quan đến tốc độ phát triển ngành
công nghiệp. Những sản phẩm làm từ thép vô cùng phong phú về thể loại và kích cỡ
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng đa dạng trong nước. Là một trong những ngành
kinh tế quan trọng nên đứng trước thực trạng trên Chính phủ có những chính sách
cải thiện, bình ổn giá cả.
2.2.2.1. Quy định giá trần đối với những thành viên Hiệp hội thép
Đầu năm 2007, giá thép chỉ ở mức 8,5 triệu đồng/tấn thì đến cuối năm tăng vọt
lên ở mức 13-14 triệu đồng/tấn,. Giá thép trên thị trường thế giới tăng mạnh, đã tác
động đến thị trường thép trong nước, trong khi đó nhu cầu về thép trong nước vẫn
tăng mạnh từ 17% - 19%.
Sang đầu năm 2008, giá thép trên thế giới tăng cao và đạt đỉnh vào đầu tháng 7
với giá chào phôi thép lên 1.000-1.100 USD/tấn, thậm chí là 1.200 USD/tấn. Trong
khi đó, Chính phủ đưa ra hàng loạt biện pháp kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh
xã hội hướng tới tăng trưởng bền vững, trong đó yêu cầu các doanh nghiệp giữ giá
bán thép. Chính điều này tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá thép trong nước và giá
thế giới.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 14
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
Đến cuối tháng 7 năm 2008, khủng hoảng toàn cầu bùng phát. Giá nguyên liệu
bất ngờ giảm mạnh. Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 8 đến tháng 12, giá nguyên
liệu thép đã giảm 2/3 (giá phôi chỉ còn khoảng 300 USD/tấn) so với thời kỳ đỉnh
cao. Do nhu cầu thép giảm mạnh nên các nhà sản xuất vẫn không tiêu thụ được sản
phẩm .
Ngành thép hiện nay đang phải đối mặt với tình trạng dư cung nội địa tại thị

Trong quý 1/2009, thép nước ngoài được nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam với mức
bình quân 38 nghìn tấn/tháng thép cuộn phi 6,8 làm cho thị phần tiêu thụ thép cuộn
của các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước giảm sút từ 25 – 30% xuống còn
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 15
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
20%, đặc biệt là thép cuộn từ Trung Quốc, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
trong nước bắt đầu thấy chao đảo.
Trong 3 tháng đầu năm, tiêu thụ thép giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008, có
lúc chỉ còn một nửa. Với thép xây dựng, sản phẩm có thị trường tiêu thụ lớn nhất,
trong tháng 1/2009, tiêu thụ thép xây dựng chỉ bằng 56,24% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, tình trạng còn ảm đạm hơn với thép cán nguội (50,4%), ống thép
hàn (44,29%) và tôn mạ kẽm, sơn phủ màu (41,87%).
Cung lớn hơn cầu, nhưng khả năng cạnh tranh không cao, các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thép trong nước chịu thêm sức ép từ nhập khẩu thép xây dựng.
Theo đánh giá của Hiệp hội Thép, Việt Nam là một trong những nước bị thép ngoại
cạnh tranh khốc liệt nhất.
Do có giá bán rẻ hơn thép sản xuất trong nước từ 500-700 nghìn đồng/tấn.
Lượng thép cuộn nhập khẩu năm 2009 từ các nước ASEAN và Trung Quốc vào
Việt Nam tăng vọt lên khoảng 500 nghìn tấn, tương đương khoảng 11% sản lượng
sản xuất, tiêu thụ của năm 2009 (4,6 triệu tấn), đẩy thị phần tiêu thụ thép cuộn xây
dựng trong nước giảm từ 25% xuống dưới 20%.
Trong khi đó, thị trường Việt Nam ngày càng liên thông, ảnh hưởng nhanh và
trực tiếp của việc tăng giảm giá những nguyên liệu cơ bản sản xuất thép như quặng
sắt, than mỡ, phôi thép, thép phế và một số vật tư phụ kiện khác.
Ở trong nước, thị trường thép còn chịu tác động lớn từ biến động giá cả nguyên
liệu đầu vào quan trọng như điện, than, xăng dầu. Thêm vào đó, việc tăng lương
cho cán bộ công nhân viên cũng làm tăng chi phí đầu vào…
Diễn biến giá bán thép xây dựng (loại cuộn) năm 2009.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 16
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh

với mức tiêu thụ của tháng 3. Giá phôi thép thế giới giảm mạnh kéo theo sự điều
chỉnh giá trong nước. Hơn nữa, lực mua yếu mặc dù Q2 thường là mùa cao điểm
trong khi các doanh nghiệp còn tồn kho khá nhiều dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về
giá giữa các đơn vị trong nước nhằm giải phóng hàng tồn kho, giải quyết các vấn đề
về tài chính và hoạt động, càng đẩy giá thép trong nước xuống sâu hơn.
Tháng 7-2010 giá thép tăng tới 13 triệu đồng/tấn, bước sang tháng 8, giá thép
được dự báo là sẽ chững lại do ảnh hưởng của mưa bão, các công trình xây dựng
không thể đẩy nhanh tiến độ.
Nhưng tháng 8 vừa qua, cả giá bán và lượng thép tiêu thụ đều tăng mạnh so
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 17
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
với dự báo của VSA. Chỉ trong một tháng, các công ty thép đã điều chỉnh tăng giá
bán thêm từ 700 nghìn đến 1 triệu đồng/tấn. Thép xây dựng được các nhà máy bán
ra phổ biến ở mức 13,3- 13,9 Triệu đồng/tấn (chưa bao gồm VAT). Giá tăng mạnh
đã khiến lượng tiêu thụ mặt hàng này cũng tăng đáng kể trong tháng qua, lên mức
khoảng 460 nghìn tấn, cao hơn khá nhiều so với mức dự báo là 350- 400 nghìn tấn
trướcđó.
Tiếp tục đi ngược lại dự báo, những ngày đầu tháng 9, thay vì tăng, giá thép
trên thị trường lại có dấu hiệu chững. Hầu hết các nhà máy vẫn giữ nguyên giá bán
hồi tháng 8. Có nhà máy mặc dù không giảm giá bán, nhưng lại tăng chiết khấu cho
các đại lý.
Nguyên nhân khiến giá thép không tăng những ngày đầu tháng 9 là do những
ngày qua, giá phôi thép trên thế giới chỉ còn khoảng 600 USD/tấn, giảm đáng kể so
với mức giá 610- 630 USD/tấn hồi trung tuần tháng 8. Thép phế từ mức 420
USD/tấn, cũng giảm xuống chỉ ở mức 400- 405 USD/tấn.
Tuy vậy, hiện nay 45-47% phôi thép và 70- 80% thép phế nước ta vẫn phải
nhập khẩu, nên biến động của giá thế giới thời gian tới sẽ tác động nhiều đến giá
bán của mặt hàng thép xây dựng trong nước.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 18
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh

thuật nhằm hạn chế các sản phẩm nhập khẩu kém chất lượng. Nghiên cứu phương
án lập quỹ bình ổn giá thép nhằm can thiệp khi giá thế giới biến động mạnh và đồng
thời chống lại hiện tượng đầu cơ trong nước.
Nhóm 3 k19 đêm 9 Page 19
Phân tích chính sách can thiệp giá GVHD: Ts.Hay Sinh
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Hay Sinh (2010), Bài giảng Kinh Tế Vi Mô, ĐH Kinh tế TPHCM
- Robert S. Pindyck - Daniel L.Rubinfeld (1999), Kinh tế học vi mô
- Vũ Ngọc Anh (2008), những nét cơ bản về chính sách, Viện nghiên cứu
phát triển TP.HCM
- Website Hiệp hội thép Việt Nam, http://www.vsa.com.vn
- Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, www.fetp.edu.vn
- Cục quản lý cạnh tranh, www.qlct.gov.vn
- Tài liệu khác từ internet, số liệu phân tích các công ty chứng khoán:
http://satthep.net/
http://www.satthep.com.vn/
http://vneconomy.vn/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status