Tiểu luận kinh tế vĩ mô vấn đề điều tiết vĩ mô nền kinh tế - Pdf 22

TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
I. Lời mở đầu.
Việt Nam tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa từ một đất nước nghèo vừa
thoát khỏi chiến tranh, nền kinh tế lạc hậu, cơ sở vật chất thiếu thốn. Đã có giai
đoạn vấp phải những sai lầm do chủ quan nóng vội đưa kinh tế đất nước xuống
mức suy yếu và trì trệ nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước đã kịp thời nhận ra
những khuyết điểm sai lầm, tìm con đường đổi mới để khôi phục kinh tế. Thực
tế đã khẳng định Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành quả do đổi mới mang lại
thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế và quan trọng hơn sự phát triển đó là vì
mục tiêu con người. Tuy nhiên làm thế nào để giữ cho sự phát triển đó được
nhanh, bền vững, ổn định? Đó là câu hỏi được đặt ra không phải chỉ đối với các
nhà hoạch định kinh tế mà đó là trách nhiệm của mỗi công dân, đặc biệt hơn là
với sinh viên - thế hệ trẻ và là tương lai của đất nước.
Việc học tập nghiên cứu kinh tế học là việc cần thiết quan trọng trang bị cho
sinh viên những lý thuyết cơ bản về tình hình kinh tế của đất nước nói riêng và
thế giớ nói chung. Kinh tế học vĩ mô là bộ phận quan trọng trong phân ngành
kinh tế học với những lý thuyết về “ Vấn đề điều tiết vĩ mô nền kinh tế” mà đất
nước đã áp dụng trong thời kỳ xây dựng kinh tế những năm qua. Thế hệ trẻ cần
nhận thức rõ được tình hình kinh tế của đất nước, học tập và nắm vững những
kiến thức cơ bản để tương lai trở thành một nhà hoạch định kinh tế có tầm nhìn
và kiến thức sâu rộng để góp phần xây dựng đất nước.
II. Nội dung chính
1. Mục tiêu và công cụ điều tiết vĩ mô:
- Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào
nguồn tài nguyên khan hiếm để sản xuất hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu
của cá nhân và toàn xã hội
- Kinh tế học vĩ mô - một phân ngành của kinh tế học – nghiên cứu sự vận động
và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
- Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vĩ mô gồm:
1

2
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
+ Mục tiêu
- Mục tiêu sản lượng:
Đạt đựoc sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng
Tốc độ tăng trưởng cao và bền vững
- Mục tiêu việc làm
Tạo đựoc nhiều việc làm tốt
Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp
- Mục tiêu ổn định giá cả
Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do.
- Mục tiêu kinh tế đối ngoại:
Ổn định tỷ giá hối đoái
Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
- Phân phối công bằng: Dây là một trong những mục tiêu quan trọng
Lưu ý:
- Những mục tiêu trên thể hiện trạng thái lý tưởng và các chính sách kinh
tế vĩ mô chỉ có thể tối thiểu hoá các sai lệch thực tế so với các trạng thái lý
tưởng
- Các mục tiêu trên thường bổ sung cho nhau, trong chừng mực chúng
hướng vào đảm bảo tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế. Song trong từng
trường hợp có thể xuất hiện những xung đột, mâu thuẫn cục bộ
- Về mặt dài hạn thứ tự ưu tiên giải quyết các mục tiêu trên cũng khác
nhau giữa các nước. Ở các nước đang phát triển, tăng trưởng thường có vị trí ưu
tiên số 1.
+ Công cụ
Để đạt được những mục tiêu trên kinh tế vĩ mô trên, Nhà nước có thể sử
dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Mỗi chính sách lại có công cụ riêng
biệt. Dưới đây là một số chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu mà chính phủ ở các
3

4
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
Công cụ: Thuế quan
Hạn ngạch
Tỷ giá hối đoái
Đối tượng Hoạt động xuất-nhập khẩu và đầu tư nước ngoài
Mục tiêu: Chống suy thoái, lạm phát
Ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán quốc tế
• Một số khái niệm và mối quan hệ giữa các biến số kinh té vĩ mô cơ bản
- Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quuốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ
mà một quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định
Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế
Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa
Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế
- Chu kỳ kinh doanh và sự thiếu hụt sản lượng
Nền kinh tế thị trường của các nước công nghiệp phát triển tiêu biểu thường
phải chống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế. Liên quan đến chu kỳ kinh tế là sự
đình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát.
Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng
lên của sản lượng tiềm năng
Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt
sản lượng
Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế
-Tăng trưởng và thất nghiệp
Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên
nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Như vậy tăng trưởng
nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm đi
- Tăng trưởng và lạm phát
Sự kiện lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng

GNP, GDP, NNP, Y (NI), PI, Yd.
6
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
Trong số những thước đo nay thì: GNP, GDP và Y là những thước đo rất
quan trọng phản ánh thành quả của một nước sau một năm hoạt động. Tuy vậy
những thướ đo này không phải là thước đo hoàn hảo vì bỏ qua những hoạt động
không thông qua thị trường. GNP và GDP là thước đo giá trị thị trường của tất
cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian (tháng, quý, năm).
Cần lưu ý:
- Khi tính GNP và GDP của thời gian nào thì chỉ tính những gì được sản
xuất ra trong đơn vị thời gian đó.
- Chỉ được tính GDP vá GNP giá trị của hàng hoá và dịch vụ cuối cùng,
không tính những chi phí trung gian.
- GNP và GDP theo giá thị trường (GNPmp Và GDPmp) khác với GNP
và GDP theo nhân tố chi phí (GDPfc, GNPfc) ở phần thuế gián thu.
* Ba phương thức xác định GNP, GDP
Căn cứ vào luồng chu chuyển thu nhập giữa các tác nhân kinh tế mà hình
thành ba phương pháp xác định GNP và GDP:
Tính theo luồng sản phẩm cuối cùng
Tính theo luồng chi phí hoặc thu nhập
Tính thao giá trị gia tăng.
Giữa GNP và GDP khác nhau ở tài khoản thu nhập ròng từ nước ngoài.
Chúng ta có thể tính GDP trứoc rồi tính GNP.
Cách 1: Tính GDP theo luồng sản phẩm cuối cùng
GDP = C + I nếu là kinh tế giản đơn
GDP = C + I + G khi có chính phủ
GDP = C + I + G + NX khi nền kinh tế mở
Cách 2: Tính GDP theo luồng chi phí hoặc thu nhập
- Đối với nền kinh tế giản đơn:

* Mối quan hệ giữa các tài khản quốc dân
Chung ta đã tìm được GDP theo giá thị trường (GDPmp) bằng 3 cách trên.
8
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
GNPmp = GDPmp + thu nhập ròng từ nước ngoài
GNPfc = Y = GNPmp - thuế gián thu
NNPmp = GNPmp - khấu hao
NNPfc = NI = GNPfc - thuế gián thu
PI = NI - thuế lợi nhuận công ty - bảo hiểm xã hội + TR
Yd = NI – Td + TR
hoặc Yd = PI – thuế thu nhập cá nhân
Các ký hiệu:
GNPmp, GDPmp: GNP và GDP theo giá thị trường
GNPfc, GDPfc: GNP và GDP theo nhân tố chi phí
NNPmp: Sản phẩm quốc dân ròng theo giá thị trường
NNPfc: Sản phẩm quốc dân ròng theo nhân tố chi phí
NI: Thu nhập quốc dân
PI: Thu nhập cá nhân
Yd: Thu nhập khả dụng
Te: Thuế gián thu
Td: Thuế trực thu
TR: Chi tiêu chuyển khoản của chính phủ
* Các chỉ số giá: CPI, D, PPI
Ip ( = CPI ) : Chỉ số giá hàng tiêu dùng ( chỉ số bán lẻ)
D : Chỉ số giản phát
PPI : Chỉ số giá sản xuất (chỉ số giá bán buôn)
Các chỉ số giá này thể hiện mức giá chung của nền kinh tế. Khi tỷ lệ lạm
phát có thể sử dụng một trong số các chỉ số giá này. Tuy nhiên giữa các chỉ số
giá này có sự khác nhau về phạm vi và cách tính
D =

* Thị trường lao động
- Cầu đối với lao động: là số lượng lao động mà doanh nghiệp mong muốn
và có khả năng thuê tại các mức tiền công khác nhau trong khoảng thời gian
nhất định.
10
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
- Cung ứng về lao động: là số lượng lao động mong muốn và có khả năng
cung ứng lao động tại các mức tiền công khác nhau trong khoảng thời gian nhất
định.
- Thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng khi cung và cầu về lao động
bằng nhau
* Tiền công tối thiểu và những quy định về tiền công tối thiểu
Tiền công tối thiểu là tiền trả tối thiểu để lôi cuốn yếu tố này làm công việc
đó.
Nhìn vào hình vẽ chúng ta thấy mối quan hệ cung - cầu lao động tạo ra điểm
cân bằng giữa lượng lao động cần thuê Lo và mức tiền công Wo. Tiền lương tối
thiểu là quy định của nhà nước. Nếu quy định mức lương tối thiểu W1 thấp hơn
mức tiền công cân bằng Wo thì điều đó không hợp lý. Tại mức tiền công tối
thiểu W1 thì cung về lao động là L1, còn cầu về lao động là L2. Lượng lao động
thiếu hụt so với nhu cầu là L2 – L1. Nếu đặt mức tiền công tối thiểu là W2 cao
hơn mức tiền công cân bằng Wo thì lượng cung ứng về lao động sẽ tăng lên L2,
nhưng lượng cầu về lao động lại giảm xuống L1. Kết quả số lao động dư thừa là
L2 – L1.
Ở một số nước có quy định về mức tiền công tối thiểu trên cả nước hoặc một
số ngành nhất định. Nói chung việc quy định mức tiền công tối thiểu phải dựa
trên cơ sở sản phẩm giá trị biên của lao động cho các doang nghiệp có sức cạnh
tranh trên thị trường. Mức tiền công tối thiểu cao hơn hoặc thấp hơn mức tiền
công cân bằng đều gây ra sự thiếu hụt hoặc dư thừa lao động và cuối cùng là tạo
ra sự thất nghiệp. Hiệu quả kinh tế của từng doanh nghiệp và toàn xã hội chính
là làm sao để sử dụng nguồn lao động có hiệu quả, tạo ra công ăn việc làm và

nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước”. Công thức này về sau được Đại hội VIII của Đảng (6 /
1996) điều chỉnh thành : “ Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định huớng XHCN”.
Tiến lên một bước, Đại hội IX của Đảng (4 / 2001) đã điểu chỉnh thành : “Phát
triển nền kinh tế định hướng XHCN” và xem đây là mô hình kinh tế tổng quát
của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong mô hình này, chúng ta sử
dụng cơ chế thị trường với tư cách là thành quả của nền văn minh nhân loại làm
phương tiện để năng động hoá và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế , nâng
cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. Đồng thời chúng ta đề cao vai
trò qủn lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế nhằm thực hiện
mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Kinh tế xã hội Viêt Nam Trong giai đoan 1995 – 2005 đã có những chuyển
biến rõ rệt cả về chất và về lượng. Cụ thể như sau:
- Đạt đươc tốc dộ tăng trưởng cao
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH. Tức là tăng tỷ trong
của ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư
nghiệp trong GDP.
14
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
-Nâng cao thu nhập của người dân và giảm đói nghèo tích cực. Việt Nam đã
hoàn thành trước thời hạn kế hoạch toàn cầu “ giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào
năm 2015” mà liên Hiệp Quốc đề ra
-Tạo được việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp
-Giáo dục y tế và an sinh xã hội mở rộng.
B. Trình bày mục tiêu của chính sách thu nhập thời kỳ 1995 -2005
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các biện pháp mà chính phủ sử dụng
nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát.
Chính sách này sử dụng nhiều loại công cụ, từ các công cụ có tính chất cứng
rắn như giá, lương, những chỉ dẫn chung để ấn định tiền công và giá cả, những

địa bàn còn lại.
Điều 2:
Mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định này được dùng làm căn cứ
tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương; tính
các mức lương ghi trong các hợp đồg lao động, thực hiện các chế độ khác do
doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền đã được pháp luật lao
động quy định.
Mức tiền lương thấp nhất trả cho ngưòi lao động đã qua học nghề phải
cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu quy định tại Điều 1 Nghị định
này.
Khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện mức lương tối thiểu cao hơn
mức lương tối thiểu quy định tại Điều 1 Nghị định này.
Điều 3:
16
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
Mức lương tối thiểu quy định tại Điều 1 Nghị định này được chính phủ
điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung
cầu lao động trong từng thời kỳ.
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng Liên
Đoàn Lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động và các bbộ, ngành
liên quan trình Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu quy định tại khoản 1
điều này.
Điều 4:
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2006.
Bãi bỏ các quy định trước đây trái với Nghị định này.
Điều 5:
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
NGHỊ ĐỊNH: Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội và điều chỉnh

và 5 Điều 1 Nghị định này được điều chỉnh như sau:
1. Đối với cán bộ, công chức, công nhân, viên chức nghỉ hưu:
1a. Tăng 10% trên mức lương hưu hiện hưởng đối với người có mức lương
trước khi nghỉ hưu dưới 390 đồng / tháng theo nghị định số 235/HĐBT ngày 18
tháng 9 năm 1985, có hệ số lương cũ dưới 3,06 theo nghị định số 35 / NQ-
UBTVQHK9 ngày 17 tháng 5 năm 1993, Quyết định số 69-QD/TW ngày 17
thnág 5 năm 1993, Nghị định số 25/CP và nghị định số 26/CP ngày 23 tháng 5
năm 1993 có hệ số lương mới dưới 3,99 theo Nghị quyết số 730/2004/NQ-
UBTVQHK11 ngày 30 tháng 9 năm 2004
18
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
1b. Tăng 8% trên mức lương hưu hiện hưởng đối với người có mức lương
trước khinghỉ hưu từ 390 đồng / tháng đến dưới 644 đồng / tháng theo Nghị định
số 235/HĐBT; có hệ số lương cũ từ 3,06 đến dưới 5,54 theo Nghị quyết số
35/NQ-UBTVQHK9, Quyết định số 69/QĐ-TW, nghị định số 25/CPvà nghị
định số 26/CP; có hệ số lương mới từ 3,99 đến dưới 6,92 theo Nghị quyết số
730/2004/NQ-UBTVQHK11, Quyết định số 128/QĐ-TW, Nghị định số
204/2004/NĐ-CP và Nghị định số 205/2004/NĐ-CP.
1c. Tăng 6% trên mức lương hưu hiện hưởng đối với người có mức lương
trước khi nghỉ hưu từ 644 đồng / tháng đến dưới 718 đồng / tháng theo Nghị
định số 235/HĐBT; có hệ số lương cũ từ 5,54 đến dưới 6,26 theo Nghị quyết số
35/NQ-UBTVQHK9, Quyết định số 69/QĐ-TW, Nghị định số 25/CP và Nghị
định số 26/CP; có hệ số lương mới từ 6,92 đến dưới 7,64 theo Nghị quyết số
730/2004/NQ-UBTVQHK11, Quyết định số 128/QĐ-TW, Nghị định số
204/2004/NĐ-CP và Nghị định số 205/2004/NĐ-CP.
1d. Tăng 4% trên mức lương hưu hiện hưởng đối với người có mức lương
trước khi nghỉ hưu từ 718 đồng/tháng trở lên theo Nghị định số 235/HĐBT; có
số lương cũ từ 6,26 trở lên theo Nghị quyết số 35/NQ-UBTVQHK9, Quyết định
số 69/QĐ-TW, Nghị định số 25/CP và Nghị định số 26/CP; có hệ số lương mới
từ 7,64 trở lên theo Nghị quyết số 730/2004/NQUBTVQHK11, Quyết định số

phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng theo Nghị định
số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số
09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ.
Điều 3:
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính lương
hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần đối với nguời
hưởng lương theo thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định nghỉ hưu
hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần từ ngày 01 tháng 10 năm 2006 trở đi được
tính theo mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 60 tháng
20
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
trước khi nghỉ việc. Trong đó, các tháng đóng bảo hiểm xã hội theo hệ số lương
và phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên (nếu có) quy định tại Nghị quyết số
35/NQ-UBTVQHK9, Quyết định số 69/QĐ-TW, Nghị định số 25/CP và Nghị
định số 26/CP được điều chỉnh theo hệ số lương và phụ cấp chức vụ, phụ cấp
thâm niên (nếu có) quy định tại Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQHK11,
Quyết định số 128/QĐ-TW, Nghị định số 204/2004/NĐ-CP và Nghị định số
205/2004/NĐ-CP.
Điều 4:
Đối với người nghỉ hưu thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 điều 1 Nghị
định này thì chỉ điều chỉnh phần lương hưu hưởng theo phần lương thuộc thang
lương, bảng lương do Nhà nước quy định. Các mức điều chỉnh thực hiện theo
quy định tại Điều 2, khoản 2 Điều 3 Nghị định số 208/2004/NĐ-CP ngày 14
tháng 12 năm 2004, khoản 1 và khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 3 Nghị định số
117/2005/ NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 và mức điều chỉnh lương hưu theo
Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định này hoặc tính theo mức bình
quân tháng đóng bảo hiểm xã hội của 60 tháng trứơc khi chuyển ra hưởng tiền
lương không theo tiền lương thuộc thang lương, bảng lương do Nhà nước quy
định theo Điều 3 Nghị định này tuỳ thuộc vào thời điểm nghỉ hưu và thời điểm
chuyển ra hưởng tiền lương không theo thang lương , bảng lương do Nhà nước

hưu được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 208/2004/NĐ-CP, quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 117/2005/NĐ-CP, mức tăng 20,7%
trên mức lương hưu đã được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số
117/2005/NĐ-CP, mức điều chỉnh lương hưu quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị
định số 117/2005/NĐ-CP và quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị định
này tuỳ thuộc vào tháng nghỉ chờ.
22
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
3. Đối với người nghỉ chờ đủ tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí và đủ điều
kiện hưởng chế độ hưu trí từ ngày 01 tháng 10 năm 2006 trở đi thì mức bình
quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tinh lương hưu, trợ
cấp một lần khi nghỉ hưu được tính theo quy định tại Điều 3 Nghị định này.
4. Đối với cán bộ xã, phường, thị trấn nghỉ chờ đủ tuổi đời để hưởng trợ
cấp hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21
tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm,
1998 của chính phủ, nếu đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ ngày 01 tháng 10
năm 2004 trở đi thì mức điều chỉnh trợ cấp hàng tháng theo từng thời kỳ
được thưc hiện theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 208/2004/NĐ-CP,
khoản 3 Điều 2 Nghị định 117/2005/NĐ-CP, mức tăng 20,7% trên mức trợ
cấp hàng tháng đã được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số
117/2005/NĐ-CP và mức điều chỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị
định này.
Điều 6:
Đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc theo quyết định số 130/CP
ngay 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủvà Quyết định số 111/HĐBT
ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng thì từ ngày 01 tháng 10
năm 2006, mức trợ cấp hàng tháng được tăng 10% trên mức trợ cấp hiện hưởng
theo nghị định số 119/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ.
Điều 7:
1. Kinh phí điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng áp

2006
Điều 10:
24
TiÓu luËn: Kinh tÕ vÜ m«
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan trực
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
D.Phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở thông tin thu thập được
Thành tựu:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
một trong những thành quả nổi bật của nền kinh tế Việt Nam trong suốt thời
kỳ đổi mới chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Nếu như trước thời kỳ
đổi mới 1976 – 1985 , tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm ở nước ta
chỉ đạt khoảng 2%, thì sau khi đổi mới tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
được ghi nhận là 4,5% trong giai đoạn 1986 – 1990, 8,4% trong giai đoạn 1991
– 1997 và vẫn đạt tới 6,6% trong giai đoạn 1998 – 2004 cho dù nền kinh tế phải
chịu tác động của cuộc khủng hoảng Châu Á.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tê
Cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đã có sự chuyển dịch tích
cực ,với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao ngày càng lớn hơn.
Xem xét cơ cấu kinh tế theo ba nghành ( nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp
– xây dựng và dịch vụ) thì thấy rằng tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong
GDP đã giảm khá đều và tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đã tăng lên
tương ứng. Điều đó cho thấy trình độ phát triển của nền kinh tế đã từng bước
được nâng lên. Tổng cộng tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch
vụ năm 2004 đạt tới 78,24% và tiếp tục đang trong xu hướng tăng lên, cho thấy
nền kinh tế nước ta đang tiến triển trên con đường công nghiệp hoá
Tỷ trọng các ngành trong GDP (%)
Các ngành/ 1986 1990 1995 2000 2004


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status