Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Nghị quyết Hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII về
chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình đã chỉ rõ: Sự gia tăng dân số quá nhanh
là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội,
gây khó khăn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt chí
tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hớng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong
tơng lai không xa đất nớc ta sẽ đứng trớc khó khăn lớn, thậm chí khó khăn lớn về
nhiều mặt.
Vì vậy làm tốt công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình thực hiện tốt gia
đình ít con giảm nhanh tỷ lệ tăng dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề
quan trọng và bức xúc của đất nớc ta và cũng là mối lo chung của toàn cầu.
Là sinh viên năm thứ t chuyên ngành Kinh tế lao động Khoa Lao động và
dân số - Trờng Đại học Kinh tế quốc dân Hà nội, sau một thời gian thực tập tại
phòng Lao động - Thơng binh xã hội huyện Thạch Thành tỉnh Thanh hoá em đã
chọn đề tài: Phân tích tình hình sinh đẻ và những biện pháp chủ yếu nhằm ổn
định mức sinh ở huyện Thạch Thành trong những năm qua. Với mong muốn
tìm hiểu sâu về tình hình sinh đẻ của huyện Thạch Thành, một nhân tố quyết định
sự gia tăng dân số của huyện Thạch Thành nói riêng và của Việt nam nói chung, từ
đó có một vài ý kiến để thực hiện tốt chủ trơng chính sách của Nhà nớc, ổn định sự
gia tăng dân số phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, bằng cách ổn định mức sinh
hợp lý.
Bài luận văn của em đợc kết cấu bởi ba phần sau:
Phần một: Lý luận chung
Phần hai: Phân tích tình hình sinh đẻ ở huyện Thạch Thành năm 1985-
1999.
Phần ba : Một số biện pháp nhằm ổn định mức sinh của huyện Thạch
Thành.
Em rất mong đợc sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lao
động và Dân số, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Anh Dũng để bài luận văn của em đạt
kết quả tốt.
+ Cơ cấu dân số theo tuổi đợc chia theo từng độ tuổi, hoặc từng nhóm tuổi và nó
cũng đợc quyết định bởi các yếu tố mức sinh, mức chết, di dân.v.v.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II.Sinh đẻ và những yếu tố ảnh hởng.
1.Khái niệm.
Sinh sản biểu thị sự sinh đẻ của phụ nữ, và có liên quan đến số trẻ em sinh ra
sống đợc mà ngời phụ nữ có, sinh sản khác với khả năng sinh sản vì: nói đến khả
năng sinh sản là khả năng sinh lý của mỗi cặp vợ chồng, còn nói đến sinh sản là nói
đến hiện tợng tự nhiên sinh vật.
Mức sinh sản không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản, mà còn chịu ảnh hởng
bởi một loạt các yếu tố khác nh:
-Tuổi kết hôn
-Thời gian chung sống của các cặp vợ chồng.
-ý muốn của các cặp vợ chồng.
-Trình độ phát triển kinh tế, xã hội.
-Địa vị của ngời phụ nữ.
-Việc sử dụng cá biện pháp phòng tránh thai.
Khả năng sinh sản của ngời phụ nữ là có giới hạn, thông thờng số con tối đa mà
trung bình một phụ nữ có thể có về mặt lý thuyết là 15 ngời, nếu ngời đó có thể
sinh đẻ ở tuổi bắt đầu có khả năng và cho đến khi hết khả năng sinh đẻ ( 15 đến
49).
Mức sinh đẻ còn phụ thuộc vào điều kiện của từng nớc, từng thời kỳ, mặt khác
nó còn phụ thuộc rất lớn vào bản thân phụ nữ: Có ngời sinh ít, có ngời sinh nhiều,
phong tục tập quán, tâm lý xã hội.
2.Các chỉ tiêu đánh giá mức sinh.
Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá mức sinh sản, mỗi chỉ tiêu khác nhau nó phản
ánh những đặc điểm khác nhau của hiện tợng sinh. Trong dân số học, khi đánh giá
tình hình sinh đẻ, thông thờng ngời ta sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
2.1Tỷ suất sinh thô (CBR)
2.3Tỷ suất sinh đặc trng theo độ tuổi ( ASFR
X
)
B
fx
ASFR
X
= .1000
P
w,x
Trong đó:
ASFR
x
: tỷ suất sinh đặc trng của độ tuổi x
P
w,x
: số lợng phụ nữ trung bình trong năm của độ tuổi x.
B
f,x
: số trẻ em sinh ra trong năm của những ngời phụ nữ ở độ tuổi x.
ASFR
x
phản ánh mức độ sinh đẻ của từng độ tuổi phụ nữ. Chỉ tiêu này phản
ánh mối tơng quan giữa số trẻ em sinh ra trong năm, của các bà mẹ ở các độ tuổi
khác nhau, so với tổng số phụ nữ ở các độ tuổi đó.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ASFR
x
P
w,c ( 15- 49)
: số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
2.7MASFR
x
Ngoài ra để đánh giá đợc mức sinh và kiểm soát đợc hôn nhân. Khi xác định
các tỷ suất sinh đặc trng cho lứa tuổi, nhiều nơi ngời ta chỉ so sánh những trờng hợp
sinh hợp pháp và những phụ nữ có chồng. Đó gọi là tỷ suất sinh đặc trng theo tuổi
cho phụ nữ có chồng MASFR
x
.
2.8 TMFR
Nếu xác định TFR là tổng hợp các tỷ suất sinh theo tuổi thì chúng ta có thể
tính đợc tổng tỷ suất sinh cho phụ nữ có chồng.
Chỉ tiêu này trong dân số học ít dùng vì trong độ tuổi 15 19 nó không
phản ánh chính xác mức độ sinh của ngời phụ nữ.
2.9Tỷ số trẻ em so với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ( CWR )
Chỉ tiêu này phản ánh mối tơng quan giữa số trẻ em từ 0 4 tuổi và phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ. Nó đợc tính toán một cách đơn giản, dễ hiểu, không cần số
liệu chi tiết cụ thể, không cần theo dõi số sinh thờng xuyên hàng năm, không cần
cấu trúc của dân số. Nếu mức sinh cao thì CWR càng lớn. Nhng nó lại rất nhạy bén
với báo cáo sai, đặc biệt sai vê tuổi, hơn nữa tỷ số này chịu ảnh hởng vào mức tử
vong của trẻ em.
3.Các yếu tố ảnh hởng đến mức sinh.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mức sinh bị ảnh hởng bởi nhiều yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp, bao gồm những
biến số sinh học, mức chết trẻ sơ sinh và trẻ em, vai trò của phụ nữ, trình độ văn
hoá, thu nhập và nhiều biến số khác. Giả thích mức sinh có thể giải thíchgiới hạn
(nghiên cứu vi mô). Theo hệ thống của ông, có 4 loại biến số trung gian:
a. Tỷ lệ dân số trong quan hệ tình dục ( hôn nhân hoặc sống chung ).
b. Tỷ lệ ngời trong quan hệ sử dụng biện pháp tránh thai và hiệu quả của
những biện pháp đó.
c. Độ phổ biến nạo phá thai trong dân số
d. Khoảng thời gian trung bình cho con bú của dân số.
Để phân biệt hệ thống này với hệ thống này với hệ thống của Davis và Blake,
Bongaart đã gọi 4 biến số trên là các nhân tố quyết định gần.
3.2. Những biến số có liên quan đến đặc tình gia đình và hoàn cảnh gia
đình.
Những nhân tố gia đình và hoàn cảnh gia đình là nhóm biến số thứ hai.
Trong bậc này có nhiều loại biến số: tuổi, mức chết,ngân sách của gia đình, những
chi phí và thuận lợi có con, địa vị phụ nữ , thu nhập và sở thích.
Tuổi là một trong những biến số quan trọng nhất giải thích mức sinh của cá
nhân trong phạm vi vi mô. Cơ cấu tuổi là một trong những biến số quan trọng nhất
khi giải thích mức sinh phạm vi vĩ mô. Tại cả hai phạm vi, tuổi liên quan chặt chẽ
đến các biến số trung gian. Tuổi liên quan dến kết hôn, li hôn, goá, dậy thì, bắt đầu
có khả năng sinh đẻ, tần suất giao hợp, xác suất thụ thai và mãn kinh.
Mức chết ảnh hởng tới mức sinh thông qua một số cơ chế. Thứ nhất, ảnh h-
ởng đến số ngời sống trong tuổi sinh đẻ qua cơ cấu tuổi- giới tính. Tại phạm vi vi
mô, số con một cặp vợ chồng đẻ ra có thể chịu ảnh hởng bởi xác suất sống sót qua
tuổi sinh đẻ, không có vợ hoặc chồng, chết sớm. Thứ hai, mức chết của trẻ sơ sinh
và trẻ em có thể ảnh hởng đến mức sinh qua cơ chế sinh học và hành vi. Trong xã
hội có mức chết trẻ em cao, thòng bố mẹ đẻ nhiều để đảm bảo mặc dù có con bị
chết, vẫn còn con chăm sóc bố mẹ khi tuổi già.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngân sách, tài sản và thời gian của một gia đình cũng ảnh hởng đến mức
sinh. Ngân sách giới hạn những hàng hoá mua đợc. Quỹ thời gian là số giờ hoặc
ngày có thể làm việc. Khi có con đòi hỏi có cả vật chất và sử dụng thời gian. Yêu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đang phát triển thì bằng chứng cha rõ. Có nhiều nghiên cứu cho thấy quan hệ
nghịch, nhng cũng có nhiều nghiên cứu thấy không có quan hệ hoặc có quan hệ
thuận, ngời phụ nữ tham gia vào lực lợng lao động có nhiều con hơn những phụ nữ
không tham gia. Để giải thích tại sao quan hệ này không nghịch, một số nhà nghiên
cứu giả thiết rằng chỉ trong trờng hợp công việc phụ nữ không phù hợp làm mẹ, sẽ
có quan hệ nghịch. Ví dụ, khi làm ruộng có thể nuôi con đòng thời, nhng khi đi làm
trong nhà máy 7 tiếng đồng hồ một ngày, sáu ngày một tuần thì công việc và trách
nhiệm làm mẹ không phù hợp. Quan điểm khác giả thiết rằng trong các nớc đang
phát triển, đơn vị gia đình thờng là gia đình mở rộng có cả ông bà ở cùng nhà. Khi
mẹ đi làm đã có ngời ở nhà chăm sóc con thì mâu thuẫn không mạnh lắm. Có ngời
khác nói rằng trong các nớc đang phát triển ngời phụ nữ nghèo không có sự lựa
chọn làm việc hoặc không làm việc thì họ nghèo quá, bắt buộc họ phải đi làm để
sống sót đợc. những ngời nghèo nhất thờng là những ngòi có nhiều con nhất.
Thu nhập có thể là biến số đợc nghiên cứu trong quan hệ với mức sinh.
Trong những nghiên cứu vĩ mô, thu nhập hoặc thu nhập bình quân một ngời đợc
dùng làm chỉ tiêu đo mức độ hiện đại hoá. Trong nghiên cứu vi mô thu nhập bình
quân một ngời trong hộ gia đình , hoặc tổng thu nhập của một gia đình là những đo
lờng về những hạn chế nguồn của gia đình . Khi nói đến mức sinh , vai trò của thu
nhập rất phức tạp .Độ vĩ mô hoặc vi mô , thu nhập không ảnh hởng trực tiếp việc
sinh con . Vì sinh con không phải là hành vi trong thị trờng , các gia đình có thể
điều chỉnh lại khi có thêm con để chịu đợc khi có số con khác nhau trong một
ngân sách cố định . Mặt khác, mặc dù các con là gánh nặng khi còn bé , khi .lớn
lên có thể trở thành ngời đóng góp cho ngân sách gia đình .
Thu nhập có thể ảnh hởng đến mức sinh bằng nhiều cách khác nhau.Thứ
nhất, thui nhập đợc sử dụng để đo lờng sự phát triển của xã hội và kinh tế . Khi đó
thu nhập là biến số đại diện nhiều chỉ tiêu phát triển , ví dụ khả năng liên lạc trong
nớc , phân bố lao động ,trình độ cơ khí hoá và cách tổ chức sản xuất . Khi nghiên
cứu vĩ mô, quan hệ dờng nh nghịch , những nớc giàu nhất có mức sinh thấp ,những
nớc nghèo có thu nhập bình quân đầu ngời thấp lại có mức sinh cao . Nhng ngắn
Vai trò của chính sách và chơng trình của Nhà nớc cũng có thể ảnh hởng
quan trọng đến mức sinh . Có chơng trình kế hoạch hoá gia đình khuyến khích sử
dụng biệnh pháp tránh thai , có chính sách cấm phá thai , hoặc cho phép phá thai ,
có tuổi kết hôn quy định, đều là những ảnh hởng trực tiếp của chính sách nhà nớc
đối với mức sinh . Ngoài ra có những chính sách khác có thể ảnh hởng đến mức
sinh . Liệu chính sách về cung cấp đất hoặc nhà ở cho các gia đình có ảnh hởng đến
tuổi kết hôn và số con đẻ ra không ? Giảm học phí cấp hai có ảnh hởng đến số con
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiếp tục học ở trình độ học vấn cao hơn ?Cung cấp nhiều cơ hội làm việc dẫn đến
việc hoãn lại tuổi kết hôn và tuổi sinh con ? Cung cấp điện cho những địa phơng xa
có cho phép họ tìm hoạt động văn hoá phong phú hơn ? Hiểu biết về sức khoẻ , biện
pháp tránh thai , hoặc cách sống của những ngời ở địa phơng khác có ảnh hởng đến
số con mong muốn , số con chết sơ sinh , sử dụng biện pháp tránh thai không ?
Các nhân tố đa dạng ảnh hởng đến mức sinh đợc chia thành ba nhóm : biến
số trung gian , biến số gia đình và biến số hoàn cảnh xã hội . Trong mỗi nhóm có
nhiều biến số khác nhau ảnh hởng theo nhiều hớng . Nghiên cứa về vấn đề này
không dễ dàng nhng rất có ích trong việc xây dựng chính sách công cộng , kế
hoạch hoá phát triển kinh tế -xã hội .
III.Sự cần thiết phải điều chỉnh mức sinh nói chung và mức sinh của Việt nam
nói riêng.
1.ảnh hởng của mức sinh đến sự phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển
dân số.
Trên phạm vi toàn thế giới, hàng năm dân số tăng lên chỉ là do kết quả sinh
nhiều hơn chết. ( Nếu ở một quốc gia thì còn bị tác động bởi sự di chuyển đi và đến
).
Thớc đo mức sinh thờng đợc sử dụng là tỷ suất sinh thô ( CBR ), mức chết
ngời ta cũng đánh giá qua tỷ suất chết thô ( CDR). Tỷ suất tăng tự nhiên dân số
RNI là hiệu của CBR và CDR.
RNI = CBR CDR (%0)
Trong điều kiện bùng nổ dân số và mức tiêu dùng của mỗi ngời dân về ăn, ở,
đi lại, học hành, phòng chữa bệnh.v.v. cao hơn trớc nhiều lần đã buộc cộng đồng
ngời Việt nam khai thác đến mức thô bạo mọi khả năng tự nhiên. Điều này đang
làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng,
nhất là rừng đã và đang bị tàn phá, bị thu hẹp dần diện tích.
Việc suy giảm nhanh chống diện tích rừng đã dẫn đến làm biến đổi khí hậu ở
Việt nam. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè tăng lên nhiều, mùa đông rét đậm
hơn, lũ lụt ngày càng nặng nề. Mất rừng, nhiều loài động vật mất dần và có nguy cơ
tuyệt chủng.
Môi trờng đang bị nhiễm đôc, đặc biệt là ở các đô thị và khu công nghiệp, do
chúng ta thiếu kỹ thuật, thiếu kinh phí để thực hiện công nghệ sạch trong quá trình
sản xuất. Sự gia tăng dân số cao làm mau chóng gia tăng mức tiêu dùng dẫn tới việc
gia tăng dần quy mô sản xuất, khai thác cũng là một trong những nguyên nhân làm
bẩn môi trờng.
1.3Thiếu việc làm nghiêm trọng.
Lao động là một bộ phận quan trọng nhất của dân số và tăng theo chiều tăng
của dân số. Đặc biệt lao động hoạt động nông nghiệp ngày càng tăng cả về lợng
tuyệt đối và tơng đối.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong nông nghiệp đất là t liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế. Song
bình quân ruộng đất của mỗi lao động nông nghiệp lại thấp, sản xuất nông nghiệp
mang tính thời vụ cao, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa lao động và đất đai tất yếu
dẫn đến tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn.
-Về kinh tế: Do nhiều ngời không có việc làm nên tổng sản phẩm quốc dân
thực tế đạt đợc thấp hơn nhiều so với tiềm năng của nó, tình trạng d thừa lao động
đã không khuyến khích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho năng suất
lao động hiện nay còn thấp.
-Về xã hội: Những ngời thát nghiệp, trong đó phần lớn là thanh niên đang ở
trong những độ tuổi có sức lao động và hiếu động, là một trong những nguyên nhân
lắng cũng có nhiều; sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy thoái về môi trờng; sự
bùng nổ về dân số; những hậu quả về xã hội khó lờng khi kinh tế chuyển sang thời
kỳ hậu công nghiệp . Một trong những lo lắng nhất là lo lắng về sự bùng nổ dân
số.
-Dân số tăng quá nhanh:
Tiến trình phát triển dân số thế giới, trong 2 thiên niên kỷ qua cứ nhích dần
và nhảy vọt vào cuối thế kỷ 20. Nếu từ năm đầu công nguyên đến năm 1000 (thiên
niên kỷ thứ nhất) dân số thế giới bình quân tăng 0,2%/năm, thì từ năm 1001 đến
1299 chỉ tăng 0,1% năm, từ năm 1300 đến 1399 tăng theo chiều âm (tức 4 thế kỷ
đầu thiên niên kỷ thứ 2, dân số thế giới không tăng mà lại giảm .); từ 1400 đến
1499 tăng 0,2%/năm; từ 1500 đến 1599 tăng 0,06%; từ 1600 đến 1850 tăng 0,4%
năm; trong những năm 30,40 của thế kỷ 20 tỷ lệ tăng dân số của thế giới một lần
nữa âm (do chiến tranh thế giới lần thứ hai ) nhng sau đó tỷ lệ tăng dân số ở mức
cao cha từng thấy: những năm 60 đạt mức kỷ lục 2%/năm nh những năm 60 của thế
kỷ này thì cứ sau 35 năm dân số thế giới tăng gấp đôi.
tỷ năm 2040 là 13,4 tỷ và năm 2075 sẽ là 26,5 tỷ Nếu vậy thì quá nguy
hiểm.
-áp lực nặng nề của dân số
Càng gần đây, nhân loại càng nhận thức đợc sức ép của dân số, sự nguy hiểm
khi dân số thế giới tăng nhanh đối với phát triển kinh tế, xã hội, với sức khoẻ, với
môi trờng và cuối cùng là với sự tồn vong của chính loài ngời D ới đây xin tóm
tắt một số nguy cơ:
+Dân số tăng nhanh với nghèo đói lạc hậu: Ngời ta tính rằng, Nếu dân số
tăng 1%/ thì GDP phải tăng 4% mới đảm bảo mức sống bình thờng.ở thời điểm
1986 các nớc kém phát triển nh: Lào, Việt nam, Zaia có GDP đầu ng òi/năm dới
100 USD (cả thế giới lúc đó còn 26 quốc gia nh thế ) đều là những nớc có tốc độ
tăng dân số cao.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+Dân số tăng nhanh với thất nghiệp, thiếu việc làm: Đầu những năm 80, và
hết phải điều tiết mức sinh.
Bùng nổ dân số thế giới trong những năm qua làm mất cân đối với việc gia
tăng của cải vật chất, làm cho một bộ phận dân c đa số ở các nớc đang phát triển
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lâm vào cảnh không có công ăn việc làm, đói nghèo, mỗi năm hàng trục triệu trẻ
em chết vì suy dinh dỡng, hoặc bị tàn tật, trên 5.000 bị chết trong quá trình thai sản
vì không đợc chăm sóc đầy đủ của y tế.
Từ sự phân tích ảnh hởng của mức sinh đến sự phát triển dân số và sự phát
triển kinh tế, xã hội. Chúng ta thấy rằng: bức xúc hiện nay cần phải giảm dần mức
gia tăng dân số, đi đến dân số ổn định trong vài thập kỷ tới, làm kinh tế văn hoá -
xã hội phát triển. Trên cơ sở đó nâng cao dần chất lợng cuộc sống của nhân dân.
Muốn đạt đợc mục tiêu ý nghĩa đó, biện pháp tốt nhất, hợp lí nhất là giảm
nhanh tỷ suất sinh thô, hay mỗi cặp vợ chồng tự nguyện chấp nhận thực hiện quy
mô gia đình nhỏ có một hoặc hai con.
IV.Hệ thống các biện pháp điều chỉnh mức sinh.
Mục tiêu về mức sinh có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo từng điều kiện cụ thể
của từng nớc, từng thời kỳ. Nhng đối với Việt nam hiện nay giảm tỷ lệ phát triển tự
nhiên dân số là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách dân số. Con đờng duy nhất
để đạt đợc mục tiêu này là giảm mức sinh, giảm số con trung bình của phụ nữ, bằng
cách thực hiện hệ thống các biện pháp sau đây:
1.Nhóm các biện pháp kinh tế, xã hội.
Sự phát triển dân số là một hậu quả nặng nề. Để giải quyết những hậu quả
nặng nề đó, Nhà nớc với chức năng quản lý của mình phải có những chính sách
hoặc không can thiệp hoặc can thiệp mạnh mẽ vào quá trình phát triển dân số. Mà
sự phát triển dân số liên quan chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Dân
số phụ thuộc vào phát triển kinh tế, xã hội vì vậy phát triển kinh tế, xã hội là viên
thuốc tránh thai tốt nhất.
-Nếu Nhà nớc can thiệp mạnh mẽ, thô bạo đến hành vi sinh đẻ thì sẽ vi phạm
đến nhân quyền của con ngời. Vì vậy Nhà nớc cần phải cân nhắc giữa vấn đề nhân
trong một tổ chức xã hội nào đó. Điều này thuận lợi cho việc triển khai các chính
sách dân số. Dân số là vấn đề cấp bách chung của cả nớc, cần tuyên truyền cho mọi
thành viên trong xã hội, ngay từ niên thiếu để có ý thức về vấn đề lớn lao này.
Nâng cao trình độ văn hoá của toàn dân tộc, đặc biệt là của phụ nữ, đa phụ
nữ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội và các hoạt động xã hội khác là yếu tố
quan trọng làm giảm tỷ lệ sinh. Tổ chức tốt quỹ bảo trợ góp phần làm yên lòng cho
mọi ngời, những ngời không có con, ít con hoặc chỉ có con gái sẽ góp phần xoá bỏ
tâm lý thích đông con và nhất thiết phải có con trai. Đặc biệt nông thôn hình thành
hội bảo thọ, tổ chức bảo hiểm tuổi già, tổ chức hội KHHGĐ. Cần có hình thức động
viên nâng cao danh dự ngời mẹ có 1 đến 2 con, nâng cao địa vị của ngời phụ nữ.
2.Các biện pháp tuyên truyền giáo dục.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các quá trình dân số sinh, tử, kết hôn liên quan đến mọi ngời, mọi gia đình
và do từng ngời quyết định hành vi dân số của mình. Việc sinh sản là quá trình
mang tính chất bản năng và đúng cho mọi loại sinh vật, nhng hạn chế sinh đẻ chỉ có
loài ngời mới có thể thực hiện đợc, ở đây quyết định là ý thức của con ngời cho nên
cần phải tuyên truyền, giáo dục.
Trong xã hội bao giờ cũng có lớp ngời đang trong thời kỳ sinh sản, lớp ngời
sắp bớc vào thời kỳ sinh sản, do vậy việc tuyên truyền giáo dục về dân số phải
mang tích chất phổ thông, liên tục. Để hình thành ý thức mới về dân số, phải làm
cho mọi ngời dân hiểu tình hình dân số nớc ta hiện nay, phải soi sáng mối quan hệ
dân số và kinh tế, dân số và môi trờng, dân số với vấn đề sức khoẻ, nòi giống, dân
số với các vấn đề xã hội khác.
Tuyên truyền để mọi ngời hiểu đợc mục tiêu, các biện pháp của chính sách
dân số, hiểu đợc gia đình quy mô nhỏ là ích nớc lợi nhà.
Muốn tuyên truyền giáo dục dân số có hiệu quả cao, đơng nhiên cần phải có
tri thức dân số. Điều này đòi hỏi phải xây dựng và phát triển khoa học dân số, phải
thờng xuyên tiến hành những cuộc nghiên cứu thực nghiệm nhằm phát hiện kịp thời
những vấn đề thực tiễn nảy sinh, giải đáp những băn khoăn của quần chúng.
Các biện pháp kinh tế, xã hội, hành chính pháp luật, tuyên truyền giáo dục
mới có tác dụng đến ý thức dân số của công dân. Các biện pháp kỹ thuật mới có tác
dụng cuối cùng đến hành vi dân số của họ. Vì vậy đây là biện pháp quan trọng
trong tiến hành quản lý sự phát triển dân số.
Thị trờng hoá phơng tiện tránh thai, tổ chức tốt hệ thống bán lẻ phơng tiện
này, sử dụng Marketing xã hội trong Kế hoạch hoá gia đình.v.v đang là các biện
pháp tổ chức hữu hiệu thực hiện chính sách dân số vì nó liên quan đến hàng chục
triệu con ngời ở khắp mọi nơi. Nếu chỉ sử dụng hệ thống y tế của Nhà nớc thì rất
hạn chế. Ngoài ra còn phải hoàn thiện các tổ chức, uỷ ban dân số từ trung ơng đến
địa phơng.
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần thứ hai
Phân tích tình hình sinh đẻ ở huyện Thạch Thành
năm 1985 1999
I.Đặc điểm điều kiện tự nhiên về kinh tế, xã hội huyện Thạch Thành
tỉnh Thanh hoá ảnh hởng đến phát triển kinh tế xã hội và phát triển dân
số.
1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên
-Thạch thành là một huyện miền núi nằm về phía Bắc của tỉnh Thanh hoá.
Phía Bắc, Tây giáp tỉnh Hoà bình.
Phía Đông giáp huyện Hà trung.
Phía Tây, Tây bắc giáp huyện Cẩm thuỷ, Bá thớc.
Phía Nam giáp huyện Vĩnh lộc.
-Thạch thành có diện tích tự nhiên 593,86 km
2
bằng 5% tổng diện tích tự
nhiên của cả tỉnh Thanh hoá ( diện tích tự nhiên của Thanh hoá là 11.168 km
2
), có
Đảng, sự quản lý điều hành Nhà nớc có kết quả của Uỷ ban nhân dân các cấp, sự
phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị, của các đoàn thể, các ngành, các cấp,
đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc huyện nhà. Vì vậy huyện
Thạch Thành đã đạt đợc các mục tiêu:
-Về kinh tế: Thạch thành là huyện có cơ cấu công nông-lâm nghiệp
dịch vụ, trong đó chủ yếu là nông lâm nghiệp chiếm 90,2 % nguồn lao động của
huyện. Sản xuất còn mang nặng tính độc canh, tự cung, tự cấp cha mang tính chất
sản xuất hàng hoá. Bình quân lơng thực đầu ngời mới khoảng 234 kg, thấp hơn rất
nhiều so với toàn tỉnh. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế còn nhỏ bé và lạc
hậu, đó là nhân tố kìm hãm sự phát triển của huyện.
Bảng 1: Chỉ tiêu kinh tế, xã hội .
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm
1998 1999
Tổng sản lợng quy thóc Tấn 28.541 31.789
Thu nhập bình quân đầu ngời Đồng 940.000 980.000
Bình quân lơng thực đầu ngời Kg 201 243
Tỷ lệ học sinh/1.000 dân Học sinh 198 201
Tỷ lệ bác sỹ/1.000 dân Ngời 0.8 1
Nguồn: Số liệu thống kê kinh tế, xã hội huyện Thạch Thành Phòng thống
kê huyện Thạch Thành.
-Về xã hội: Thạch Thành với dân số 135.592 ngời là một huyện miền núi
đông dân nhất trong 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh hoá. Dân c chủ yếu sống
trong các thôn bản, mật độ dân số chung là 228 ngời/km
2
Bảng 2: Biến động dân số qua các năm
Chỉ tiêu Đ.vị 1985 1989 1995 1999
Dân số trung bình Ngời 95.281 114.090 132.536 135.592
Số sinh Ngời 3.097 3.737 3.698 1.722
Số chết Ngời 410 814 664 599
Tỷ suất sinh %0 32,5 32,75 27,9 12,69
Tỷ suất chết %0 4,3 7,13 5,01 4,42
Tỷ suất tăng tự nhiên %0 28,2 25,62 22,89 8,27
Nguồn: Phòng Dân số kế hoạch hoá gia đình huyện Thạch Thành
Dân số huyện Thạch Thành phát triển trong điều kiện tơng đối ổn định và
đang đợc biểu thị qui luật phát triển. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 1985là 28,2%0
và đã giảm mạnh mẽ còn 8,27%0 vào năm 1999. Tốc độ tăng dân số có xu hớng
giảm mạnh mẽ từ năm 1998 -1999 mức tăng dân số giảm 1,35%0 (năm1998 là
14,04%0, năm 1999 chỉ còn12,69%0). So với mục tiêu đề ra hàng năm giảm 0,7%0
thì tỷ suất sinh năm 1999 đạt và vợt chỉ tiêu 0,65%0.
Tại các vùng khác nhau thì mức sinh và sự gia tăng dân số cũng rất khác
nhau.
Bảng 3: Tỷ suất tăng dân số tự nhiên ở các vùng
Tên đơn vị Tỷ suất sinh %0 Tỷ suất tăng tự nhiên %0
Vùng thị trấn 4,12 3,9
Vùng cao 23,55 15,55
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vùng núi thấp 12,13 8,19
Nguồn: Phòng Dân số kế hoạch hoá gia đình huyện Thạch Thành
Do mức sinh và mức tăng dân số cao, không đồng đều giữa các xã, các bản
làng, không phù hợp với mức tăng trởng kinh tế của từng vùng, đã ảnh hởng đến
nhiều mặt kinh tế, xã hội nhất là ảnh hởng đến đời sống nhân dân
Theo số liệu thống kê của phòng lao động thơng binh xã hội huyện Thạch
Thành cho thấy tỷ suất sinh càng cao thì tỷ lệ nghèo đói càng lớn.