LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giới nói
chung phát triển không ngừng, vì vậy cuộc chiến giữa các doanh nghiệp trên
thị trường cũng cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Nó đòi hỏi sự sáng tạo
và không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất và đa dạng hoá phục vụ nhằm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong xã hội .
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải năng động,
nhạy bén nhất là đối với việc nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng. Bên
cạnh đó, vấn đề tiêu dùng cũng được xem là vấn đề cấp bách hàng đầu. Để
giảm rủi ro trong sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn nhanh, tăng thị phần thì
doanh nghiệp phải có biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ. Muốn vậy, ngoài việc chú
trọng đến chất lượng, mẫu mã sản phẩm thì việc xây dựng một chiến lược
Marketing hoàn chỉnh cho doanh nghiệp là vấn đề tất yếu.
Nhu cầu Marketing xuất phát từ những mâu thuẫn về lợi ích giữa các
chủ thể tham gia trong nền kinh tế, nhất là giữa người bán và người mua
ngày càng diễn ra gay gắt hơn trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm. Một doanh
nghiệp có thể bị phá sản vì không nắm bắt kịp thời thị hiếu của khách hàng,
không tiên liệu được xu hướng tiêu dùng hiện đại và nhất là hoàn toàn bị bất
ngờ trước những đòn cạnh tranh của đối thủ .
Sản phẩm Ngành dệt may Việt Nam hiện nay cũng rất đa dạng về mẫu
mã, chủng loại, nhưng vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm trong nước vừa
phải cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài. Đặc biệt vài tháng tới đây khi
nước ta thực hiện hoàntoàn qui định AFTA thì việc cạnh tranh đó càng trở
nên gay gắt và khó khăn hơn. Chính vì lẽ đó, muốn tồn tại và phát triển thì đòi
hỏi các Công ty dệt may Việt Nam cũng như Công ty May Nhà Bè phải biết
xây dựng một chiến lược Marketing cho mình ngay từ bây giờ để củng cố vị thế
thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm của mình.
Nhìn chung, hầu hết các đơn vị sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện
nay, chưa có phòng Marketing hay bộ phận Marketing chuyên trách,hoạt
động độc lập bên cạnh các phòng ban khác. Ơ một số nơi bộ phận này nằm
nay nội dung của nó đã có nhiều thay đổi và rất rộng lớn, do vậy khi dịch ra thứ
tiếng khác rất khó thể hiện được đầy đủ và trọn vẹn. Do vậy nhiều nước vẫn
dùng nguyên bản tiếng Anh khi dùng thuật ngữ này mà không dịch ra ngôn ngữ
riêng của họ. Ở Việt Nam, hiện nay thuật ngữ Marketing đang được nhiều
người sử dụng để thay thế cho“ tiếp thị”, nhất là trong giới khoa học.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Marketing nhưng không có được khái
niệm thống nhất, vì Marketing đang vận động và phát triển, có nhiều nội dung
phong phú. Mỗi tác giả đều có quan điểm riêng khi trình ra khái niệm của mình.
Marketing được hiểu là những hoạt động trên thị trường nhằm tạo ra sự trao
đổi với mục đích thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người .
Sau đây là một số khái niệm Marketing được chấp nhận sử dụng và phổ biến
hiện nay :
“Marketing là toàn bộ he thống các hoạt động kinh doanh , từ việc
thiết kế, định giá, khuyến mại và phân phối những sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu của những thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu đã
định.”
( Nguồn : Fundamental of Marketing, 1994, tác giả : Bruce J. Walker william
J.Stanton Michael J. Etzel )
Theo CIM ( UK ‘ s chartered Institute of Marketing ):
“ Marketing là quá trình quản trị nhằm nhận biết, dự đoán và đáp ứng những yêu
cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi “.
Theo AMA ( American Marketing Association , 1985 ):
“ Marketing là tiến trình kế hoạch và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và
phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn
những mục tiêu của cá nhân và tổ chức”.
Theo Gronroos (1990) : “ Marketing là những hoạt động để thiết lập,
duy trì và củng cố lâu dài những mối liên hệ với khách hàng một cách có
lợi để đáp ứng mục tiêu của các bên.
Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi và thỏa mãn những điều mong đợi
( Fulfilment of promises )
bắt và sử dụng linh hoạt các vũ khí cạnh tranh thị trường, tăng cường mở rộng
thị trường thu hút khách hàng, gia tăng sức sống và khả năng cạnh tranh thị
trường của doanh nghiệp.
- Chức năng tiêu thụ sản phẩm : Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vấn đề
tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra có một vai trò
đặc biệt quan trọng . Một trong những chức năng và nhiệm vụ cơ bản của hoạt
động Marketing là phải đẩy mạnh quá trình tiêu thụ mở rộng thị trường và tăng
cường khả năng cạnh tranh. Đó là việc xác định một chiến lược giá cả có khả
năng thích ứng và kích thích tiêu thụ mạnh me nhất, là việc tổ chức và hoàn
thiện kênh phân phối, xây dựng và thực hiện các kỹ thuật kích thích tiêu thụ
như quảng cáo, xúc tiến bán hàng …
- Chức năng tăng cường hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh : Toàn bộ
các hoạt động của Marketing luôn hướng tới mục tiêu hiệu quả của sản xuất
kinh doanh. Tuy nhiên, khi giải quyết bài toán hiệu quả kinh doanh , Marketing
hiện đại luôn đảm bảo sự hài hòa giữa các mối quan hệ lợi ích . Đó chính là mối
quan he giữa lợi ích của xã hội, lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của thị trường. Lợi ích của xã hội được thể hiện ở sự tăng trưởng của sản xuất và tiêu
dùng, ở một thị trường và môi trường cạnh tranh lành mạnh , ở việc khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên chống ô nhiễm . Lợi ích của thị trường chính là sự
thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng . Chỉ có thể trên cơ sở thỏa mãn
những lợi ích đó, các doan nghiệp mới có thể thỏa mãn các lợi ích của mình,
thông qua việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược Marketing . Nói một cách
khác, hoạt động Marketing luôn hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của xã hội và
thị trường để thỏa mãn cho nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp.
1.2.2 Vai trò của Marketing
1.2.2.1 Vai trò của Marketing đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, Marketing là công cụ quan trọng nhất giúp họ
hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược thị trường và chiến lược
• Giải pháp về phân phối ( Chiến lược phân phối )
• Giải pháp về xúc tiến ( Chiến lược xúc tiến )
1.4 MARKETING HỖN HỢP ( MARKETING – MIX )
1.4.1 Khái niệm và các thành phần của Marketing hỗn hợp
Marketing hỗn hợp là sự phối hợp hoạt động của những thành phần
Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của thị trường trong một
khoảng thời gian ngắn. Đây chính là biểu hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp
trong việc vận dụng 4 chiến lược của Marketing trong từng giai đoạn cụ thể
của thị trường. Nếu sự vận dung này khéo léo, tài tình, thì doanh nghiệp bán
được nhiều hàng, chiếm lĩnh được thị trường và thu được nhiều lợi nhuận.
Bốn chiến lược hay bốn thành phần của Marketing hỗn hợp đó là: sản phẩm,
giá cả, phân phối, xúc tiến bán hàng. Gọi tắt theo tiếng Anh là 4P ( Product ,
Price, Place, Promotion ).
Các thành phần của Marketing hỗn hợp bao gồm :
- Sản phẩm ( Product ) : doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm đúng theo
yêu cầu của thị trường . Sản phẩm phải hấp dẫn, thu hút người mua và
đáp ứng được nhiều mong muốn của người tiêu dùng .
- Giá cả ( Price ): khi xây dựng giá bán sản phẩm, doanh nghiệp phải
linh hoạt tính toán để vừa mang lại lợi nhuận cho mình, vừa hợp túi tiền
của người mua và bảo đảm tính cạnh tranh trên thị trường .
- Phân phối ( Place ) : tổ chức hệ thống tiêu thụ, để bảo đảm bán được
nhanh, nhiều, tiết kiệm chi phí, thuận tiện cho người mua.
- Xúc tiến ( Promotion ) : tổ chức quảng cáo, thông tin, các hoạt động
khuyến mãi và tạo uy tín cho sản phẩm để lôi kéo, thu hút được nhiều
người mua.
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing hỗn hợp
Marketing hỗn hợp không có nội dung cho mọi trường hợp hay một công
thức nào đó mang tính giáo khoa. Nội dung của Marketing hỗn hợp phụ thuộc
vào các nhân tố ảnh hưởng như :
- Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường . Nếu doanh nghiệp tạo
Định vị
giá cả
Định vị
hình ảnh
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY MAY NHÀ
BÈ
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY MAY NHÀ BÈ
2.1.1 Khái quát về Công Ty May Nhà Bè
- Tên của công ty: Công Ty May Nhà Bè
- Tên giao dịch: Nhà Bè Garment Import – Export Company
- Gọi tắt là: Nha_ Be_ Co
- Địa chỉ: đường Bến Nghé, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Tp.HCM
- Trụ sở chính: Tân Thuận Đông – Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM )
- Điện thoại: 8720077-8729124-8729125
- Fax: (848)8729993
- Email: [email protected]
- Website: http://www.nhabe-textile.com
- Giấy phép thành lập: 225/ CCN- TCLĐ cấp ngày 24/03/1992 của Bộ Công
Nghiệp nhẹ.
- Nhận bằng chứng nhận bảo đảm chất lượng ISO 9002 vào ngày 15/12/2000
- Số tài khoản: 3611110064 Vietcombank
- Số đăng ký kinh doanh: 102550
2.1.2 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
- Công ty May Nha Bè là một doanh nghiệp của nhà nước, là thành viên của
Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam trực thuộc Bộ Công Nghiệp.
- Từ ngày thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, công ty đã có uy tín và
được chấp nhận trên nhiều thị trường quốc tế. Công ty có đông đảo khách hàng
nhờ chất lượng hàng hóa tốt và thời gian giao hàng ngắn, đáp ứng với yêu cầu
của khách hàng. Với các yếu tố này công ty cũng đã chiếm được ưu thế trên thị
Đồng thời công ty cho phép nhận 4500m
2
nha xưởng ở khu vực đường Lạc
Long Quân, Quận 11 và hàng trăm công nhân của Công Ty May Minh
Phụng để củng cố, tiếp tục phát triển về lãnh vực may của Việt Nam và tổ
chức lại sản xuất. Hiện nay công ty có 90 đại lý trong cả nước. Đến năm
2005 tất cả các tỉnh thành trong cả nước đều có đại lí giới thiệu và bán sản
phẩm của Công Ty May Nhà Bè.
2.1.3 Chức năng – nhiệm vụ của Công ty
Chức năng :
- Công ty trực tiếp sản xuất kinh doanh mọi sản phẩm thuộc ngành may mặc.
Công ty chuyên sản xuất các mặt hàng may mặc cao cấp theo hình thức gia
công hoặc mua nguyên vật liệu bán thành phẩm, đáp ứng mở rộng đầu tư
phát triển, đồng thời giải quyết các vấn đề lao động của người dân địa phương.
- Tổ chức sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các mặt hàng dệt may theo ngành nghề
đã đăng ký và mục đích thành lập của công ty là để phục vụ cho xuất nhập
khẩu và đáp ứng nhu cầu trong nội địa.
- Công ty đảm bảo uy tín để giữ vững vị trí trên thị trường, luôn tâm đắc về vấn
đề mẫu mã, chất lượng sản phẩm, nân cao tay nghề của công nhân nhằm thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng.
- Lợi nhuận của công ty một phần giữ lại sử dụng cho tái đầu tư sản xuất,
phần còn lại đóng góp vào ngân sách Nhà nước.Hiện nay, sản phẩm của công ty đã tham gia vào thị trường các nước trên thế
giới và đã đạt được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9002.
Nhiệm vụ sản xuất chính của công ty:
Tổ chức sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng dệt sợi may. Các
sản phẩm chủ yếu của công ty: áo sơ mi cao cấp các loại, jacket, quần áo phụ
nữ, váy đầm, bộ trượt tuyết, trang phục thể thao, các loại quần áo thun, T-shirt,
- Công ty May Nhà Bè có tổng diện tích mặt bằng là: 100.000m
2
, trong đó diện
tích nhà xưởng chiếm 50.000m
2
và phần còn lại dùng làm sân bãi container.
Lực lượng lao động cán bộ công nhân viên có đủ năng lực trình độ quản lý, tổ chức sản xuất, điều hành sản xuất và tay nghề để đáp ứng sức cạnh tranh hiện
nay, có trên 2000 máy móc thiết bị các loại, năm 2002 toàn bộ máy móc thiết
bị của công ty đã được đề xuất thay đổi sang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu
phát triển của xã hội ngày nay.
- Công ty chuyên sản xuất các mặt hàng cao cấp theo hình thức gia công hoặc
mua nguyên vật liệu bán thành phẩm.
- Sản phẩm của Công ty May Nhà Bè được khách hàng tín nhiệm vì chất lượng
cao, mẫu mã đẹp và được người tiêu dùng Việt Nam bình chọn là hàng Việt
Nam chất lượng cao. Đồng thời, công ty đạt được tiêu chuẩn quản lý chất
lượng (ISO 9002) nên sản phẩm của công ty đã tạo lòng tin cho khách hàng
trong và ngoài nước. Sản phẩm chủ yếu là các mặt hàng may mặc truyền
thống như: áo sơ mi cao cấp các loại, các loại quần tây, váy đầm, trang phục
thể thao, T- Shirt, Jacket…
- Hiện nay, công ty đang dự kiến giảm dần hình thức sản xuất gia công và tiến
dần đến sản xuất hàng hóa FOB ( do công ty tự sản xuất và kinh doanh
hình thức mua nguyên phụ liệu và bán thành phẩm ). Và một điều đáng quan
tâm nữa là công ty đang phấn đấu đạt được chứng nhận SA8000 và ISO 14000.
Đây là nền tảng cho sự phát triển và củng cố sự đi lên từng bước vững chắc của
Công ty May Nhà Bè nói riêng và của ngành dệt may Việt Nam nói chung.
2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY :
2.2.1 Cơ cấu tổ chức :
VP.
Đại
diện
HN
P.
Cơ
điện
XN Veston,
XN1, XN2,
XN3, XN4,
XN5, XN6,
XN7, XN8,
XN10,
P.
Bảo
vệ
Công ty
LD
NHABE
AN
GIANG
XN
may
9
P.
Y
tế
P.
Hành
chính
lãnh đạo về các hoạt động ở từng phòng ban do mình phụ trách.
Giám đốc các xí nghiệp trực thuộc : Giám đốc các xí nghiệp trực thuộc trực
tiếp điều hành hoạt động sản xuất của xí nghiệp mình, chịu trách nhiệm trước
Tổng Giám đốc về kết quả hoạt động sản xuất ở đơn vị mình. Giúp cho Giám
đốc có một số cán bộ chuyên trách như tổ trưởng, chuyền trưởng do Giám đốc
đề nghị và đượcTổng Giám đốc phê duyệt. Được quyền:
- Quyết định ngưng sản xuất khi phát hiện những vấn đề làm ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm.
- Xử lý người lao động khi làm việc không đúng quy trình dẫn đến sai
sót về chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
- Quyết định sa thải những lao động vi phạm nội quy của công ty.
- Tổ chức các buổi họp có liên quan đến hoạt động xí nghiệp.
Khối phòng ban :
- Phòng xuất nhập khẩu: Dự thảo các hợp đồng thương mại, tiến hành đàm phán
ký kết hợp đồng xuất khẩu, lên kế hoạch nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết
bị ngắn, trung và dài hạn. Thực hiện xuất nhập khẩu ủy thác, đảm bảo quan hệ
đối ngoại với nước ngoài, tìm thị trường ở nước ngoài.
- Phòng Kế toán Tài vụ: Theo dõi, hạch toán kế toán toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh, quản lý toàn bộ nguồn tài chính của công ty, cân đối các nguồn
vốn, phân tích và tính toán hiệu quả kinh tế xác định các chỉ tiêu giao nộp ngân
sách.
- Phòng Kế hoạch Sản xuất: Phối hợp với phòng kinh doanh xuất nhập khẩu lập
kế hoạch sản xuất ngắn hạn và dài hạn, điều phối, theo dõi, điều chỉnh và cân
đối sản xuất. Cung ứng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, quản lý kho hàng, phối
hợp với phòng kế toán và các bộ phận khác thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm và phát triển thị trường nội địa.
- Phòng Kỹ thuật KCS: Giải quyết các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm nghiên
cứu các mẫu mới, tính toán và quyết định các thông số kỹ thuật của sản phẩm,
thiet kế mẫu đưa vào sản xuất. Nghiên cứu sử dụng các loại máy móc thiết bị,
giá cả sản phẩm, phương thức mua bán làm cơ sở cho hợp đồng thương mại,
chuẩn bị mẫu mã sản phẩm để chào hàng, tổ chức các hệ thống cửa hàng đại lý,
hội nghị khách hàng, hội chợ, triển lãm, quảng cáo...
- Trạm y tế: Có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho tất cả cán bộ công nhân viên
trong toàn công ty.
- Phòng bảo vệ: Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật tự trong công ty, phòng
chốnh cháy nổ, chống mất mát tài sản như máy móc thiết bị và nguyên vât liệu,
bảo đảm an toàn xe cộ cho cán bộ công nhân viên.
2.2.3 Nguồn lực của công ty
• Vốn :
Khi mới thành lập Công ty May Nhà Bè có tổng vốn kinh doanh
11.563.800.000 đồng. Trong đó:
Vốn cố định : 8.513.300.000 đồng
Vốn lưu động : 2.623.500.000 đồng
Vốn khác : 397.000.000 đồng
• Lao động :
Bảng 1: Tình hình nhân sự của công ty:
Đvt: người
Stt Đơn vị Tổng số Nữ Công nhân
bậc 5
Công nhân
bậc 7
1 Cán bộ quản lý 460 329 - -
2 Văn phòng 230 67 - -
3 Kỹ thuật may 3569 2778 158 18
4 Mỹ thuật –Thiết kế 204 140 - -
5 Cắt – Ủi – KCS- Ép 1963 1474 - -
6 Khác 664 288 - -
Tổng cộng 7090 5067
Nguồn : Thống kê nhân lực tháng 03 năm 2004 ( Công Ty May Nhà Bè )
ty rất dè dặt trong tuyển mộ, bởi rất khó khăn cho công tác đào tạo và trong quá
trình lao động.
Bảng 3: Thống kê trình độ của lao động (Công Ty May Nhà Bè )
Đvt: người
Trình độ 6 7 8 9 10 11 12
Số lao động 152 214 368 1185 248 124 1278
Nguồn: Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương
Qua số liệu thống kê trên ta thấy công nhân với trình độ như vậy cũng là tạm
ổn, bởi không phải do phía công ty mà do tình hình dân trí chung còn thấp. Mặt
khác đa số công nhân là ở cáctỉnh lân cận lên thành phố đi làm mà lực lượng
này rất hạn chế về trình độ.Thế nhưng có một điểm lợi thế, đó là lực lượng lao
động này đa số còn trẻ. Theo thống kê thì có đến 3324 lao động kỹ thuật may
trong công ty có độ tuổi dưới 30 tuổi, 195 người có độ tuổi từ 30 đến 40. Chỉ có
50 lao động có độ tuổi trên 40.
• Máy móc thiết bị :
Công ty May Nhà Bè được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại và tiên tiến.
Hiện công ty có trên 8,200 các loại thiết bị hiện đại đặc chủng, chuyên dùng
được sản xuất tại Đức, Ý, Nhật,…(Chưa kể các loại máy móc thiết bị của các
công ty liên doanh với công ty May Nhà Bè).
Bảng 4: Tình hình máy móc thiết bị của Công ty
Đvt: cái
Máy móc thiết bị Số lượng
Máy khâu đơn 3.864
Máy khâu đôi 614
Máy ép Sympatex 16
Máy vắt sổ 785
Máy trải cắt tự động 3
Máy nổ 40
Máy thêu mắt xích 70
Nhật ( chiếm 15%). Còn lại 5% là các thị trường khác
Bảng 5: Giá trị xuất khẩu của công ty trong năm 2004
SỐ LƯỢNG TRỊ GIÁ
(PCS) (USD)
TỔNG 10563361 87573803,79
ĐỨC 760256 8929433,467
HOA KỲ 7297040 53268059,54
NHẬT 528623 13505845
KHÁC 1977442 11870465,78
Nguồn: Phòng Xuất Nhập Khẩu – Công ty May Nhà Bè
Biểu đồ 1: Thị phần năm 2004
Thị trường của công ty có sự thay đổi như trên là do một số nguyên nhân
sau:
- Thị trường EU: Gặp nhiều khó khăn do sức mua của khu vực đồng Euro giảm
mạnh, đặc biệt là thị trường Đức trong khi thị trường này chiếm khoảng 80%
hàng may mặc xuất vào thị trường EU. Điều này dẫn đến giá gia công giảm so
với năm trước khoảng 10%. Một số khách hàng chuyển sang một số nước khác
có giá gia công rẻ hơn.
- Thêm vào đó là việc thị trường EU có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các loại
sản phẩm như áo khoác nữ, quần áo thể thao, quần âu,… nhiều hơn. Trong khi
các sản phẩm này được hạn ngạch với số lượng ít, công ty không thể ký thêm
được các đơn hàng với số lượng lớn.
- Trung Quốc – một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp của ngành dệt may Việt
Nam – lại có thêm một lợi thế khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới
( WTO ). Đây là một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ. Sau
khi Trung Quốc gia nhập WTO, giá gia công hàng dệt may giảm từ 10-15% so
với Việt Nam vì phí hạn nghạch xuất khẩu vào thị trường Châu Âu giảm mạnh.
Dẫn đến một số lượng lớn hàng từ Việt Nam chuyển sang Trung Quốc.
- Mặt khác, Trung Quốc là một thị trường phong phú có khả năng cung cấp đầy
TRỊ GIÁ ( USD )
TỔNG 10.563.361 87.573.804
JACKET 2.314.226 3.4961.346
SHIRT 2.230.793 11305593
VEST 296.637 9.812.121
QUẦN 325.317 22.623.749
KHÁC 246.588 8.870.994,4
Nguồn: Phòng Xuất Nhập Khẩu
Biểu đồ 2: Cơ cấu mặt hàngkinh doanh
2.3.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm
qua
Trong năm 2004, toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty đã cố gắng
vượt qua mọi khó khăn thử thách và tận dụng triệt để những thuận lợi trong
hoạt động sản xuất kinh doanh để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục
tiêu đề ra, kết quả được thực hiện qua bảng giá trị sau:
Bảng 7: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm.
Chỉ tiêu Đvt Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Giá trị tổng sản lượng Triệu
đồng
148.808 271.939 425.479 520.000
Tổng doanh thu Triệu
đồng
Thu nhập bình quân 119,00 107,66 78,00 104,67
Chỉ tiêu
So sánh
Năm 2003/2002
So sánh
Năm 2004/2003
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Giá trị tổng sản lượng 153.540,00 156,46 94.521,00 122,21
Tổng doanh thu 242.561,00 160,52 156.650,00 124,35
Lợi nhuận 2.500,00 120,00 3.000,00 120,00
Nộp ngân sách 1.051,00 121,02 6.949,00 214,84
Thu nhập bình quân 78,00 104,67 50,00 102,86
Tổng doanh thu của công ty năm 2004 đạt mức 800,000 tỷ đồng tăng hơn
năm 2003 là 124.35% tương ứng với 156,650 tỷ đồng. Lợi nhuận của công ty
đạt được 18 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước 13 tỷ đồng. Thu nhập bình
quân của công nhân tăng lên đạt mức 1,800,000đ.
Với sự phát triển và mở rộng trong năm qua công ty đã thu hút thêm trên
3000 lao động chiếm gần 42% lao động toàn công ty. Ngoài ra công ty còn hỗ
trọ cho các đơn vị địc phương về nguồn hàng cũng như công tác quản lý sản
xuất.
- Xí nghiệp Khánh Hoà: 1000 lao động
- Xí nghiệp Bình Thuận: 500 lao động
- Xí nghiệp Đà Lạt : 500 lao động
đồng
Tỷ
đồng
%
2001 8750 7023 -1727 80,26 325 223,51 -01,49 68,77
2002 18905 10858 -8047 57,4 400 412,03 12,03 103,01
2003 13934 24795 10861 177,95 600 643,35 43,35 107,23
Về mặt sản xuất :
Theo như kế hoạch các năm thì tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của
công ty không được tốt lắm. Điển hình như trong năm 2001, theo như kế hoạch
đặt ra thì công ty phải sản xuất đạt được mức 8,75 triệu USD nhưng công ty chỉ
thực hiên sản xuất được 7,023 triệu USD. Chỉ đạt 80,26% so với kế hoạch đã đề
ra. Còn trong năm 2002 thì công ty thực hiện chỉ đạt có 57,4% so với kế hoạch
đã đề ra. Theo kế hoạch thì công ty phải thực hiện đạt mức kế hoạch là 18,905
triệu USD nhưng công ty chỉ thực hiện được 10,858 triệu USD. Điều đó có thể
thấy việc thực hiện kế hoạch sản xuất có nhiều yếu tố tác động: Có thể là do
biến động kinh tế xã hội trong và ngoài nước, cũng có thể là do yếu tố chủ quan
thuộc về công ty như năng suất lao động giảm, hay là do kế hoạch của công ty
đặt ra quá cao so với khả năng thực hiện của công ty, không sát với thực tế tình
hình của công ty.
Tuy nhiên, trong năm 2003 và 2004 vừa qua là một năm khá tốt đẹp đối với
công ty. Với kế hoạch đề ra là phải sản xuất đạt được mức 13.94 triệu USD và
15.89 triệu USD nhưng công ty đã sản xuất vượt mức kế hoạch đến 177,95% và
105%.
Về mặt kinh doanh :