Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 1
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhất thiết phải có nhiều vốn đầu
tư. Tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân là một biện pháp quan
trọng để tạo ra các nguồn lực tài chính dành cho việc đầu tư trong nước. Để
làm “cầu nối” giữa bên cần vốn và bên có vốn nhàn rỗi nhiều loại hình tài
chính trung gian đã ra đời. Hoạt động của chúng kéo tất cả cá nhân trong nền
kinh tế vào cuộc, tận dụng tất cả mọi khoản tài sản nhỏ nhất bị lãng phí của
từng cá nhân vào việc phục vụ cho sự sáng tạo tạo ra của cải vật chất cho
đời sống con người. Việc thu hút vốn là việc tối quan trọng của các định chế
tài chính, là nguồn sống để các định chế tài chính tồn tại và phát triển. Trong
nền kinh tế thị trường ngày nay thì hầu hết tiền tiết kiệm lưu chuyển trong hệ
thống tài chính đến từ các hộ gia đình, trong khi đó những người vay tiền
chính là các doanh nghiệp, hộ gia đình khác. Xuất phát từ thực tế đó, trong
bài tiểu luận này chúng em xin trình bày về những các thức mà các định chế
tài chính huy động tiền tiết kiệm (S) của các hộ gia đình đem cho các doanh
nghiệp và các hộ gia đình khác vay để đầu tư.
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 2
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
I . Bản chất của định chế tài chính
chính
Các tổ chức trung gian tài
hính (ngân hàng thương
mại, công ty bảo hiểm, quỹ
hưu bổng, định chế tiết
kiệm phi ngân hàng,…
Các định chế tiết kiệm khác
(môi giới/ kinh doanh
chứng khoán, ngân hàng
đầu tư và ngân hàng cầm
cố)
Quỹ cho vay
(tín dụng)
Giấy nợ tài
chính
Chủ thể
cho vay
(đơn vị
thặng dư
tiết kiệm)
Hộ gia đình,
doanh nghiệp
và chính
thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng thương mại có thể đo lường uy tín
cũng như sự tín nhiệm của khác hàng đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng thương
mại có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giũ
vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn
góp phần giải quyết đầu vào của ngân hàng
1.2 Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà
còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hạng. Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp
cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ
hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy
động vốn còn cung cấp cho khác hàng một nơi để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời
nhàn rỗi. Cuối cùng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng cơ hội tiếp
cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 4
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
hàng và dịch vụ tính dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc
cần tiền cho tiêu dùng.
2. Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động vốn cổ điển và mang
tính đặc thù riêng có của ngân hàng thương mại. Do vậy, đây cũng là điểm khác biệt
giữa ngân hàng thương mại và các tổ chức tính dụng phi ngân hàng. Chính vì đặc thù
này, ngân hàng thương mại thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi (depository
institutions) trong khi các tổ chức tính dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không
nhận tiền gửi (non-depository institutions). Do nhu cầu và động thía nhận tiền gửi
của khác hàng rất đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khác hàng gửi
tiền, ngân hàng thương mại gửi tiền, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát triển
thành nhiều loại sản phẩn tiền gửi khác nhau
thương mại có số lượng khách hàng rất đông khiến cho tổng số vốn huy động qua
tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kể.
2.2 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân
Tài khoản tiền gửi các nhân, như tên gọi của nó, được mở cho khách hàng cá nhân
có nhu cầu sử dụng. Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận
chuyển tiền vào tài khoản, chẳng hạn nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ
nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước. Khi nhận chuyển tiền, khách hàng được
ghi “Có” vào tài khoản, ngược lại khi rút tiền tài khoản được ghi “Nợ”. Số dư trên tài
khoản này là “số dư có” phản ánh số tiền khách hàng còn gửi ở ngân hàng. Đâu chính
là nguồn vốn ngân hàng có thể huy động qua tài khoản này.
Thông thường số dư tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận tiền lương vào
thời điểm trả lương và giảm dần khi khách hàng rút tiền về chi tiêu. Mặc dù số dư tài
khoản tiền gửi cá nhân thường không lớn nhưng với số lượng tài khoản rất lớn, kết quả
là, ngân hàng có thể huy động được khối lượng vốn đáng kể. Chẳng hạn ngân hàng
thương mại ACB có số lượng tài khoản tiền gửi cá nhân là 100 nghìn tài khoản. Trung
bình mỗi tháng tài khoản có số dư hàng tháng là 2 triệu đồng. Như vậy trong tháng
ngân hàng ACB có thể huy động được khối lượng vốn lên đến 200 tỉ đồng. Một con số
rất đáng kể cho thấy vai trò tích tụ và tập trung vốn của ngân hàng.
Trong những năm gần đây, số lượng tài khoản này ở các NHTM không ngừng tăng
lên nhờ có sự phối hợp tốt giữa ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp cũng như
các tổ chức khác trong việc triển khai tài khoản và trả lương trực tiếp cho nhân viên
vào tài khoản. Mặt khác, các ngân hàng thương mại đã khá thành công trong việc thay
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 6
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
đổi thói quen sử dụng tiền mặt và ngày càng thu hút được nhiều người sử dụng dịch vụ
của ngân hàng. Điển hình là , Ngân hàng Phương Đông – Orientbank đã rất thành
công trong trong việc kết hợp với Đại học kinh tế TPHCM mwor tài khoản và nhận chi
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
Về phía Orientbank, lợi ích chủ yếu là huy động được khối lượng tiền gửi
khá lớn từ trường và những người hưởng lương của trường. Ngoài ra, Orientbank còn
có được những lợi ích mà các ngân hàng khác không thể nào có được đó là quảng bá
hình ảnh và thương hiệu Orientbank cho đối tượng khách hàng rất tiềm năng: Giảng
viên và sinh viên của trường.
Từ kinh nghiệm thành công này, Orientbank có thể mở rộng hợp tác sang
các trường đại học khác, trong khi các ngân hàng thương mại khác bắt đầu dòm ngó
và nghĩ đến việc thâm nhập vào các trường đại học để cạnh tranh với Orientbank. Sự
thâm nhập của các ngân hàng thương mại vào các trường đại học góp phần đánh dấu
cột mốc quan trọng trong đổi mới hoạt động ngân hàng.
2.3 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm
2.3.1 Tiết kiệm không kỳ hạn
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế cho đối tượng khách
hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi mốn gửi ngân hàng vì mục
tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoách sử dụng tiền gửi
trong tương lai. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục
tiêu an toàn và tiện lựi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi. Đối với ngan hàng, vì
loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng
phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dingj tiền gửi để cấp tín
dụng. Do vậy, ngân hàng thường trả lãi suất rất thấp cho loại tiền gửi này.
Mặc dù số dư trên toàn khoản tiền gửi tiết kiệm không kì hạn của khác hàng
thường không lớn (do chỉ hưởng mức lãi suất thấp) nhưng nếu ngân hàng thu hút
được số lượng khác hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động được cũng trở
nên đáng kể.
2.3.2 Tiết kiệm định kì
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiền gửi tiết kiệm định kì được thiết
kế dành cho những khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục đích
3.3 Nâng cao trình độ tư vấn và kĩ năng bán hàng cho nhân viên
3.4 Xây dựng hình ảnh và thương hiệu ngân hàng
3.5 Khuyến mãi thu hút tiền gửi
II. Huy động vốn qua phát hành các loại giấy tờ có giá.
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 9
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
Giấy tờ có giá là chứng nhận của các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong thời hạn nhất định, điều kiện trả
lãi và các điều khoản cam kết khác giữa các tổ chức tín dụng và người mua
1. Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành các loại giấy tờ có giá
Tại sao phải huy động vốn ngắn hạn thông qua các loại giấy tờ có giá? Điều này
trước hết xuất phát từ nhu cầu đầu tư ngắn hạn của các nhà đầu tư rất khác nhau
nên cần có nhiều hình tước khác nhau để thu hút. Thứ đến là, do tập quán và trình
độ phát triển của thị trường vốn ngắn hạn. Cụ thể:
- Huy động vốn thông qua giấy tờ có giá thích hợp hơn ở những nước có nền
tiền tệ phát triển. trong khi huy động tiền gửi tiết kiệm thích hợp hơn ở những
nước có thị trường tiền tệ chưa phát triển.
- ở những nước có thị trường tiền tệ phát triển, giấy tờ có giá thường có tính
thanh khoản cao hơn tiền gửi tiết kiệm. trong khi ở những thị trường tiển tệ
kém phát triển thì ngược lại.
a) Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành kì phiếu
Kì phiếu là một loại giấy tờ có gia do ngân hàng phát hành để huy động vốn
ngắn hạn, trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả lãi được hưởng và vốn gốc cho
nhà đầu tư khi kì phiếu đến hạn
b) Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi
Ngoài kì phiếu, các ngân hàng thương mại còn có thể phát hành các chứng chỉ
B. CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG
1. Quỹ đầu tƣ
Quỹ đầu tư là một mô hình định chế tài chính trung gian tập trung những
nguồn vốn nhỏ bé, lẻ tẻ của nhiều người lại để đầu tư trung và dài hạn, đặc biệt là
các dự án có nhu cầu vốn lớn trong nền kinh tế quốc dân hoặc để đầu tư vào chứng
khoán.
Quỹ đầu tư là một dạng doanh nghiệp thuộc loại công ty cổ phần, nó phát
hành và bán cổ phiếu để lấy vốn hoạt động. nguồn vốn hình thành quỹ đầu tư rất
phong phú, đa dạng: các tập đoàn tư bản, các công ty, dân chúng,… có vốn nhàn
rỗi dùi nhiều hay ít để có thể trở thành các chủ sở hữu quỹ đầu tư bằng việc mua cổ
phiếu do quỹ đầu tư phát hành. Việc đầu tư bỏ vốn mua các cổ phần của quỹ đầu tư
và có các chuyên gia nhận điều hành số vốn đó để nhận tiền lương. Các chuyên gia
quản lý quỹ đầu tư phải nghiên cứu thị trường và ra quyết định đầu tư. Không
giống như các loại dịch vụ khác là phải đáp ứng nhu cầu là phải đáp úng nhu cầu
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 11
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
mong đợi của người mua, các quỹ đầu tư do không thể biết trước diễn biến chính
xác của nền kinh tế và thị trường chứng khoán, nên quỹ dầu tư ko thể hứa hẹn chắc
chắn rằng sẽ có một tỉ lệ thu nhập cố định nào đó, mà các nhà đầu tư sẽ cùng nhau
chhia sẻ khoản thu nhập hoặc lỗ, lợi tức và chi phí.
Quỹ đầu tư là một doanh nghiệp đặc biệt, nó không dùng vốn của mình để
mua máy móc, thiết bị, các yếu tố sản xuất khác để tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh, mà nó dùng vốn để đầu tư dài hạn thông qua góp vốn liên doanh,
mua cổ phần hoặc các loại chúng khoán khác với mục đích thu lợi nhuận.
Do phạm vi hoạt động rất rộng lớn như vậy nên quỹ đầu tư đã trở thành
“công ty của các công ty”, là chủ thể sở hữu một phần hay toàn bộ nhiều công ty và
3. Các công ty bảo hiểm
Thoạt đầu các công ty bảo hiểm ra đời do nhu cầu ổn định sản xuất, kinh
doanh và đời sống với chức năng chủ yếu và duy nhất là lá chắn phòng ngừa sự mất
ổn định trong đời sống kinh tế xã hội, khắc phục những rủi ro hoặc tai nạn bất ngờ.
Lúc này, người ta chưa nghĩ tới vai trò của các công ty bảo hiểm như một tổ chức
tài chính trung gian, thực hiện chức năng thu hút vốn tiết kiệm của xã hội, phục vụ
yêu cầu của các doanh nghiệp.
Ngày nay, cá công ty bảo hiểm là hình thức điển hình của dạng công ty tài
chính ở hầu khắp các nước công nghiệp trên thế giới. Hoạt động bảo hiểm rất rộng,
nó đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Ở những nước phát triển, hầu
hết mọi tài sản đều được bảo hiểm.
Với mục đích nhân đạo của mình, bảo hiểm chia sẻ rủi ro của một người hay
của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng
loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ
chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không
may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Các công ty bảo hiểm đưa ra rất nhiều hình
thức bảo hiểm như là bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,… để
đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người, từ đó huy động được số vốn lớn
từ nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,…. Với nguồn vốn hoạt động rất dồi dào
và khá dễ dàng từ sự đóng góp tự nguyện của các thân chủ, các công ty nhanh
chóng dùng vốn ấy đem cho bay hoặc đầu tư để tạo lãi. Do tập trung được nguồn
vốn lớn từ tất cả các pháp nhân và nhân thể trong xã hội, ngoài nghĩa vụ để lại một
số vốn cần thiết để chi trả bảo hiểm thường xuyên, các công ty bảo hiểm tích cực
tham gia vào các hoạt động mua bán tín phiếu, gởi vào tài khoản tiền gởi ngân
hàng, mua cổ phiếu, trái phiếu.
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 13
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
Bài tiểu luận Kinh tế vĩ mô 14
Giảng đường 67-68-69_Sáng thứ 3
nhập để trả từng phần khi về hưu hoặc mất sức lao động. những chi tiết cụ thể về
huy động vốn và trả vốn có thể rất đa dạng và phong phú nhằm thỏa mãn yêu cầu
của người gửi tiền.
Về phương diện cung ứng vốn tài chính các quỹ này đóng vai trò rất quan
trọng, vì tong quá trình huy động vốn thì số tiền đóng góp và tiền trả thu lãi vượt
quá số tiền lương phải trả hưu trí, các qũy này sẽcòn một khoản vốn dự trữ khá lớn
để xâm nhập vào thị trường tài chính (mua các khoản tín phiếu, trái phiếu hoặc bỏ
vốn vào các tổ chức tài chính khác). Quỹ hưu trí sẽ bắt đầu tính lãi suất cho đương
sự kể từ ngày nhận tiền. Sau đó dùng vốn nói trên để đầu tư vào chững khoán để
tạo ra lãi cho quỹ. Vì tiền lương hưu và lãi suất phải trả hàng tháng hoặc hàng năm
là một con số hầu như được xác định trước và rất định kì,cho nên phần lớn số vốn
của quỹ được xem như có thời gian rất chủ động và rất dài. Do vậy, các quỹ thường
đầu tư vào chứng khoán hoặc tài khoản dài hạn để có lãi cao.
Các công ty hoặc đơn vị kinh doanh ở các nước công nghiệp phát triển luôn
luôn thành lập cho mình một quỹ trợ cấp và hưu trí (Retirement and Pension
Funds) như thế. Thay vì sẽ trả tiền hưu hoặc trợ cấp cả gói, họ thường trả hàng
háng, rồi dùng lượng vốn ấy để kinh doanh hoặc đầu tư. Bằng cách như vậy, các
quỹ không những tạo thêm vốn hoạt động cho nền kinh tế và thị trường tài chính
nói riêng mà còn tạo thêm lợi tức cho những người đã về hưu hoặc có trợ cấp, giúp
họ có một cuộc sống về già sung túc hơn. Đầu tư chủ yếu để làm ra lợi tức của nó
là vào chứng khoán hoặc các tài khoản sinh lãi ổn định khác. Nó cho vay rất ít, chỉ
trong trường hợp có tính an toàn cao. Các quỹ này có nhiều điểm tương đồng với
các công ty bảo hiểm sinh mạng ở phần trên.