Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô KINH TẾ VĨ MÔ TRONG CUỘC ĐẠI SUY THOÁI MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU SO SÁNH - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KINH TẾ VĨ MÔ TRONG CUỘC ĐẠI SUY THOÁI
MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU SO SÁNH
BEN S.BERNANKE
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Quốc Hùng
Nhóm 4:
1. Nguyễn Thị Thu Hà
2. Nghiêm Phúc Hiếu
3. Tôn Thất Khánh Hoàng
4. Lê Thị Hữu
5. Lê Thị Tố Quyên
6. Đặng Phương Thảo
7. Trần Thị Tố Uyên
KINH TẾ VĨ MÔ TRONG CUỘC ĐẠI SUY THOÁI
MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU SO SÁNH
BEN S.BERNANKE
Để hiểu về cuộc đại suy thoái giống như là chiếc Chén Thánh (kinh thánh ) trong kinh tế
vĩ mô. Không những cuộc đại suy thoái đã tạo ra một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt mà
còn tạo ra một quy mô mà không phải lúc nào cũng có thể được đánh giá một cách đầy
đủ - Kinh nghiệm trong những năm 1930 vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng tới niềm tin của các
nhà nghiên cứu vĩ mô, những khuyến nghị về chính sách, và các đề tài nghiên cứu. Bên
cạnh những vấn đề thực tiễn, việc tìm thấy một lời giải thích cho cuộc đại khủng hoảng
toàn cầu những năm 1930 vẫn còn là một sự thử thách thú vị.
Tìm hiểu về cuộc đại suy thoái đã được thực hiện. Tiến trình (khoảng thời gian) này có
một số lượng lớn nguồn tài liệu, bao gồm những sự đổi mới trong khung lý thuyết và
phân tích lịch sử một cách cẩn thận. Tuy nhiên, sự tiến bộ gần đây có ý nghĩa quan trọng
nhất là việc thay đổi trọng tâm nghiên cứu về cuộc đại khủng hoảng, đi từ sự nhấn mạnh
về truyền thống liên quan tới các sự kiện ở Mỹ tới hướng tiếp cận so sánh bằng cách xem
xét kinh nghiệm của các quốc gia cùng một thời điểm. Sự mở rộng trọng tâm này rất
quan trọng vì 2 lý do như sau: Đầu tiên, dù cho cuối cùng chúng ta đồng ý với Romer

thực tế theo các điểm cân bằng cung cầu thị trường đã đem lại sự điều chỉnh không hoàn
hảo trong mức lương danh nghĩa so với những sự thay đổi trong giá cả. Tuy nhiên, dường
như 2 kênh này, sự điều chỉnh mức lương danh nghĩa chậm (trong bối cảnh so với tốc độ
của thất nghiệp hàng loạt) thì đặc biệt khó khăn. Chúng ta không thể hiểu được cuộc
khủng hoảng cho đến khi chúng ta có thể cung cấp một cơ sở hợp lý cho những hành vi
về lương ngược đời này. Tôi kết luận về bài nghiên cứu với một vài suy nghĩ về việc làm
thế nào về hướng nghiên cứu so sánh này có thể giúp chúng ta có những hướng giải quyết
vấn đề tồn đọng quan trọng trên.
1. Tổng cầu : Bản vị vàng và cung tiền thế giới
Trong những năm suy thoái kinh tế, sự thay đổi trong sản lượng và giá cả đã tạo ra 1 mối
tương quan dương trong hầu hết các quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra
những cú sốc trong tổng cầu. Mặc dù có nhiều nhân tố tác động đến tổng cầu tại các quốc
gia khác nhau trong mỗi giai đoạn khác nhau, nhưng ở đây tôi tập trung chủ yếu vào
những nhân tố rất quan trọng trong việc tạo ra những cú sốc về tiền tệ.
Nhiều năm qua, các cuộc tranh luận chính về cuộc đại suy thoái ở Mỹ cho rằng là nguyên
nhân do các yếu tố tiền tệ. Thật dễ dàng để thấy rằng lượng cung tiền, sản lượng và giá cả
giảm xuống nhanh chóng khi thắt chặt tiền tệ và tăng nhanh khi nền kinh tế hồi phục;.
Trong nghiên cứu kinh điển về lịch sử tiền tệ của Mỹ, Friedman và Schwartz (1963), đại
diện cho những người ủng hộ chính sách tiền tệ đã cho rằng nguyên nhân chính của việc
thắt chắt chính sách tiền tệ là do việc hoạch định chính sách không hiệu quả và sự khủng
hoảng kéo dài trong hệ thống NH đã làm giảm giá và sản lượng. Đối lập với Friedman và
Schwartz, Temin cho rằng phần lớn sự thắt chặt chính sách tiền tệ phản ánh sự phản ứng
một cách bị động của tiền tệ đến sản lượng và nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng
dựa trên bộ mặt của nền kinh tế. Những người ủng hộ 2 quan điểm đã tranh luận với
nhau, theo những người ủng hộ chính sách tiền tệ cho rằng những nguyên nhân về tiền tệ
trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đại suy thoái ( cuối năm 1930 và đầu năm 1931 đến
1933), còn những người phản đối chính sách tiền tệ nhấn mạnh vai trò của những yếu tố
phi tiền tệ trong giai đoạn đầu của Đại suy thoái. Những nhà kinh tế ở vị trí trung lập thì
cho rằng cả 2 nhân tố tiền tệ và phi tiền tệ đều tác động theo nhiều giai đoạn khác nhau
(Gordon and Wilcox 1981). Tuy nhiên việc tìm hiểu sự quan trọng của tiền trong cuộc đại

1.1 Nguồn gốc của chính sách thắt chặt tiền tệ : Cân bằng số nhân tiền tệ?
Mặc dù những cuộc tranh luận về chính sách tiền tệ xoay quanh chủ đề sự thắt chặt tiền
tệ của Mỹ đã sớm bắt đầu từ những năm đầu thập niên 30, nhưng quốc gia này không
phải là quốc gia độc nhất về vấn đề này: những hiện tượng tương tự đã xuất hiện ở hầu
hết các quốc gia công nghiệp hóa theo cơ chế thị trường, và ngay cả ở những quốc gia
đang phát triển. Và như đã được nhấn mạnh ở những nghiên cứu trước đây, thứ mà hầu
hết các quốc gia thực hiện việc thắt chặt tiền tệ có được chính là sự gia nhập chế độ bản
vị vàng quốc tế.
Bị bỏ lửng từ khi thế chiến thứ I bắt đầu, bản vị vàng đã được tái cấu trúc ngay sau khi
chiến tranh kết thúc. Khối Liên Hiệp Anh trở về với vàng bằng tình trạng bình đẳng trước
chiến tranh vào năm 1925, Pháp hoàn toàn quay về sử dụng bản vị vàng vào năm 1928,
và đến năm 1929 và bản vị vàng hầu như là phổ biến trong các nền kinh tế (1 vài quốc
gia không theo chế độ bản vị vàng bao gồm tây Ban Nha, quốc gia này có chế độ nội trị
chống lại sự quay lại sử dụng vàng, và 1 vài nước Mỹ Latin và nước châu Á sử dụng chế
độ bản vị bạc). Việc tái cấu trúc bản vị vàng được hoan nghênh như là một thành tựu
ngoại giao đáng kể, một bước tiền có ảnh hưởng quan trọng trong việc khôi phục vị thế
tài chính và tiền tệ. (vấn đề tài chính và tiền tệ đã rất hỗn loạn torng suốt thập niên 20) về
với sự ổn định của chế độ bản vị vàng cổ điển (1870-1913). Không may là, những hy
vọng về các lợi ích do vàng mang lại không trở thành hiện thực: thay vì tạo ra một thời
kỳ ổn định, đến năm 1931, những nỗi sợ hãi về mặt tài chính và bất ổn về tỷ giá đã nổi
lên một cách đáng lo ngại, và một lượng lớn các quốc gia đã quay lưng với vàng trong
năm đó. Hệ thống đó hoàn toàn sụp đổ vào năm 1936, khi Pháp và các quốc gia “Gold
Bloc” làm sụt giảm giá trị hay là từ bỏ chế độ bản vị vàng.
Một khía cạnh tích cực của chế độ bản vị vàng này, dù chỉ tồn tại ngắn ngủi giữa 2 cuộc
chiến tranh, đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trung thành với chế độ này và gánh
chịu một sự sụt giảm nặng nề trong khối tiền. Để có được một hiểu biết tổng quát tại sao
lại có những sự sụt giảm như thế này, chúng ta có thể xem xét mối liên hệ giữa khối tiền
M1 của một quốc gia sử dụng bảng vị vàng với trữ lượng dự trữ vàng của quốc gia đó.
Ml = (M1/BASE) X (BASE/RES) X (RES/GOLD) X PGOLD X QGOLD (1)
Trong đó:

một quy định nào về số tối thiểu của tỷ lệ BASE/RES, một sự bất cân xứng đáng
kể.
(3) Tỷ lệ dự trự quốc tế đối với vàng, RES/GOLD. Trong thời kỳ chuẩn mực trao đổi
vàng giữa hai cuộc chiến tranh, ngoại tệ chuyển đổi thành vàng có thể được xem
như là dự trữ quốc tế, trên tinh thần trao đổi 1 lấy 1 với vàng. Do vậy, trừ 1 vài
quốc gia chủ trương “ dự trữ tiền tệ, tỷ lệ RES/GOLD cũng vẫn vượt quá 1.
Vì các tỷ lệ M1/BASE, BASE/RES, RES/GOLD đều có đặc điểm là lớn hơn 1, việc cung
tiền của các quốc gia sử dụng bản vị vàng . Tổng cộng khối lượng của tiền tệ vàng tiếp
tục phát triển trong suốt những năm thập niên 30, do vậy, sự sụt giảm nhanh chóng và có
thể dự đoán dược trong việc cung tiền M1 (inside money supplies) phải được quy toàn
bộ cho sự sụt giảm của tỷ lệ trung bình tiền với vàng.
Tại sao tỷ lệ tiền – vàng của thế giới lại sụt giảm? Trong phần đầu của thời kỳ Đại khủng
hoảng, trước 1931, việc lựa chọn chính sách 1 cách chủ động của 1 vài ngân hàng trung
ương lớn có vai trò tương đối quan trọng. Ví dụ, hiện nay mọi người đều chấp nhận rằng
chính sách của Cục dự trữ liên bang tạo ra sự sụt giảm năm 1928. Trong nỗ lực nhằm
kiềm chế sự đầu cơ trên thị trường chứng khoán . Phù hợp với các biến được nêu trong
phương trình (1), tỷ lệ của khối tiền cơ sở của Mỹ với dự trữ của Mỹ (BASE/RES) sụt
giảm từ 1871 torng tháng 6 /1928 đến 1759 trong tháng 6/1920, đến 1626 trong tháng
6/1930, phản ánh sự thắt chặt tiền tệ và sự sụt giảm của việc sử dụng các dòng vàng vào
Bởi vì sự sụt giảm này, lượng tiền cơ sở của Mỹ sụt giảm 6% từ tháng 6/1928 đến tháng
6/1930, mặc dù trong thời gian này lượng vàng dự trữ của Mỹ tăng lên đến hơn 10%.
Việc đổ dồn vàng vào nước Mỹ như thế này, tương tự với những dòng vàng lớn đổ vào
Pháp do tác động của sự ổn định của Poincare, hấp thụ lượng vàng dự trữ của các quốc
gia khác theo chế độ bản vị vàng và buộc các quốc gia này phải sử dụng song song chính
sách tiền tệ thắt chặt.
Tuy nhiên, trong năm 1931 và sau đó, sự sụt giảm mạnh mẽ của tỷ lệ tiền-vàng đã xuất
hiện trên toàn thế giới không phản ánh bất kỳ một chủ trương chính sách của bất kỳ quốc
gia nào. Nguyên nhân gần đúng của những sự sụt giảm đó là làn song của sự e dè đối với
các ngân hàng và rủi ro tỷ giá được dấy lên từ sự thất bại của ngân hàng Kreditanstalt,
ngân hàng lớn nhất của Úc, trong tháng 5 năm 1931. Những sự phát triển đó ảnh hưởng

rõ ràng hơn, sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng cho phép tỉ lệ M1/BASE giữ ở mức
cao, trong khi đó sự tin tưởng vào tỷ giá trao đổi khiến cho ngân hàng trung ương sẵn
sàng tích trữ dự trữ ngoại hối và giữ các tỷ lệ bảo đảm thấp. Trái lại, khi các nhà đầu tư
và công chúng tỏ ra không lạc quan, thấy trước được sự tháo chạy của các ngân hàng và
sự sụt giảm giá trị, thể hiện qua giá trị thấp của tỷ lệ tiền-vàng và lượng tiền nắm giữ.
Trong bối cảnh dễ bị tổn thương bởi các dự đoán cá nhân, chế độ bản vị vàng đã tạo ra
một sức chịu đựng mạnh mẽ cho hệ thống dự trữ phân loại của ngân hàng khi mà bảo
hiểm tiền gửi còn chưa có.
Một sự giải thích sáng tỏ cho sự sụp đổ tiền tệ của thời kỳ giữa 2 cuộc chiến tranh tương
tự như là một cú nhảy vọt từ một sự cân bằng được mong chờ tới một kỳ vọng khác phù
hợp với nhữ ng so sánh của Eichengreen (1992) đối với thời kỳ bản vị vàng cổ điển giữa
2 cuộc chiến tranh. Theo Eichengreen, trong thời kỳ cổ điển, tín dụng mức cao của ngân
hàng trung ương và sự hợp tác quốc tế sinh ra kỳ vọng về sự cân bằng, ví dụ, hoạt động
của công chúng hướng tới việc đảo ngược nhiều hơn là làm tồi tệ thêm giá trị của tiền tệ
khỏi tỷ giá trao đổi chính thức. Trái lại, Eichengreen tranh luận rằng, trong thời kỳ giữa 2
cuộc chiến tranh, sự tín nhiệm của ngân hàng trung ương bị sụt giảm nghiêm trọng bắt
nguồn từ sự thiếu hụt các hợp tác quốc tế (kết quả của sự thù hận kéo dài và lãnh đạo
kém hiệu quả) và bằng sự thay đổi chính sách cân bằng nội địa- đáng chú ý nhất là, vai
trò gia tăng của lực lượng lao động, làm giảm khả năng nhận thúc rằng tỷ giá có thể được
bảo vệ bằng cách đánh đổi với 1 tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Các điều kiện của các ngân
hàng cũng thay đổi khá nhiều giữa thời kỳ trước và thời kỳ sau, ví dụ như chiến tranh, tái
cấu trúc, và vấn đề tài chính và vấn đề kinh tế của những năm thập niện 20 khiến cho các
ngân hàng ở nhiều quốc gia lâm vào tình trạng tài chính yếu kém hơn, và do đó ngả về
hướng nhiều khủng hoảng hơn. Bởi những lí do đó, những kỳ vọng về sự sụt giảm giá trị
và kết quả của việc cân bằng cung tiền với mức độ thấp dường như ngày càng tương tự
với môi trường thời kỳ giữa 2 cuộc chiến tranh.
1.2 Tác động của cá yếu tố kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối
đoái:
Có thể thấy rằng các quốc gia tuân theo chế độ bản vị vàng quốc tế phần lớn đã gánh chịu
những sụt giảm bất ngờ và ngoài ý muốn trong cung tiền vào cuối những năm 1920 và đầu

một nghiên cứu quan trọng khác, Eichengreen và Sachs (1985) đã kiểm tra một số biến số vĩ
mô cho mười quốc gia lớn trong giai đoạn 1929-1935; họ thấy rằng năm 1935 các quốc gia đã
sớm từ bỏ chế độ bản vị vàng đã phục hồi phần lớn từ khủng hoảng, trong khi các nước Gold
Bloc (khối các nước lấy vàng làm bản vị tiền tệ) vẫn ở mức sản lượng và việc làm
thấp. Bernanke và James (1991) khẳng định những phát hiện chung của các tác giả trước đó
cho một mẫu lớn hơn của 24 quốc gia (hầu hết là các nước công nghiệp), và Campa (1990) đã
làm tương tự cho một mẫu của các nước Mỹ Latinh.
Nếu việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái là ngẫu nhiên, những kết quả này sẽ để lại ít nghi
ngờ về tầm quan trọng của các yếu tố danh nghĩa trong việc xác định hậu quả thực sự trong
cuộc khủng hoảng. Chúng tôi phải đề cập đến khả năng các kết quả của các tài liệu là không
xác thực, có nghĩa là, một vài yếu tố cơ bản đã giải thích cho sự lựa chọn của chế độ tỷ giá
hối đoái và cả sự khác biệt theo sau trong thành tựu kinh tế. Thực vậy, các kết quả này không
chắc chắn xảy ra một cách xác thực, vì hai lý do chung:
Đầu tiên, như đã được ghi nhận chi tiết bởi Eichengreen (1992) và những người khác, hầu hết
các quốc gia quyết định duy trì hay từ bỏ chế độ bản vị vàng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các
yếu tố chính trị bên trong và bên ngoài và bởi tình trạng kinh tế trước mắt và những tin tưởng
vào triết học. Ví dụ, quyết định của Pháp duy trì chế độ bản vị vàng đã phản ánh mong muốn
duy trì tại bất kỳ chi phí nào những lợi ích của sự ổn định của các Poincare và những món hời
liên quan đến việc phân bổ kết hợp giữa các nhóm trong nội bộ nước; một tầm nhìn kinh tế
thống trị áp đảo (được chia sẻ bởi những người cộng sản) mà tiền và chính sách thắt lưng
buộc bụng là thuốc giải dài hạn tốt nhất đối với cuộc suy thoái; và những gì chỉ có thể được
mô tả như là một liên kết mạnh mẽ của niềm tự hào quốc gia với việc duy trì chế độ bản vị
vàng
1
. Thật vậy, như Bernanke và James (1991) đã chỉ ra, những điều kiện triển kinh tế vào
1
năm 1929 và 1930 khá tương tự với ở những quốc gia để từ bỏ chế độ bản vị vàng vào năm
1931 và những quốc gia không thực hiện chế dộ bản vị vàng, do đó thật khó để nhìn nhận sự
lựa chọn này như là một sự phản ánh đơn giản sự khác biệt trong thành tựu kinh tế vĩ mô.
Thứ hai là rằng bất kỳ độ lệch nào được tạo ra bởi endogeneity của quyết định rời khỏi chế độ

những giá trị trung bình cho những mẫu con được hiển thị từ 1931-1935.
Ý nghĩa thống kê của sự khác biệt giữa những nước theo chế độ bản vị vàng và không theo
chế độ bản vị vàng được thể hiện trong Bảng 3. Đường được đánh dấu "a" trong Bảng 3 trình
bày những kết quả hồi quy dữ liệu trong bảng của mỗi biến số kinh tế vĩ mô trong Bảng 2 dựa
trên một đại lượng không đổi, những biến thời gian danh nghĩa hàng năm, và một biến giả
cho thành viên chế độ bản vị vàng (ONGOLD). (Những dòng trong Bảng 3 được đánh dấu
"b" nên được bỏ qua ở thời điểm này.) Đối với mỗi quan sát 5 quốc gia, biến ONGOLD đã
cho thấy phần nhỏ của năm (the fraction of the year) mà đất nước này dựa trên chế độ bản vị
vàng (số tháng theo chế độ bản vị vàng được chia bởi 12). Những hồi quy sử dụng dữ liệu cho
1931-1935 bao gồm, nhưng kết quả là không nhạy cảm đối với việc thêm dữ liệu từ năm 1930
hoặc 1936 hoặc bỏ năm 1931. Bởi vì mỗi hồi quy chứa một hệ thống đầy đủ các biến giả thời
gian hàng năm, hệ số của ONGOLD được ước tính trong mỗi hồi quy có thể được giải thích
như là sự phản ánh hoàn toàn sự khác biệt cross-sectional giữa các quốc gia theo và không
theo chế độ bản vị vàng, trong điều kiện kinh tế vĩ mô không đổi. Giá trị tuyệt đối của
-statistics, được đưa ra dưới mỗi hệ số ước tính, cho biết ý nghĩa của sự khác biệt giữa các
nhóm.
class="bi x8 y72 w5 hd"
Bảng 2 và 3 nói chung là khá phù hợp với những kết luận rằng (1) chính sách tiền tệ thắt chặt
là một nguồn quan trọng của cuộc Đại khủng hoảng ở tất cả các quốc gia, (2) mẫu con đến
1931 hoặc 1932, đã có một sự khác biệt rõ nét giữa các quốc gia vẫn duy trì bản vị vàng và
những những quốc gia từ bỏ chế độ bản vị vàng, và (3) sự khác biệt này phát sinh bởi vì các
nước rời khỏi chế độ bản vị vàng đã có sự tự do lớn hơn để bắt đầu chính sách tiền tệ mở
rộng.
Trước hết trở lại với những thay đổi của cung tiền, chúng ta có thể nhìn thấy từ Bảng 2 (dòng
3) các nguồn vốn kinh doanh tiền tệ bên trong của tất cả các nước đã sụt giảm mạnh vào năm
1931 và 1932. Về ý nghĩa số học, sự sụt giảm này có thể là do sự sụt giảm trong tỷ lệ Ml/tiền
(ratio of Ml to currency ) (dòng 4), lần lượt phản ánh những tác động của các cuộc khủng
hoảng ngân hàng (lưu ý sự tập trung của hiệu ứng này vào năm 1931)
3
.Tuy nhiên trong giai

tương ứng cho sản lượng và việc làm. Đây là những sự khác biệt đáng kể, cả về kinh tế và
thống kê.
Các diễn biến của các biến số vĩ mô khác được hiển thị trong bảng 2 và 3 nhìn chung cũng
phù hợp với câu chuyện những cú sốc tiền tệ. Ví dụ, một phân tích Mundell Fleming tiêu
chuẩn của một nền kinh tế bản vị vàng (Eichengreen và Sachs 1986) sẽ dự đoán rằng thắt chặt
tiền tệ ở nước ngoài sẽ làm giảm tổng nhu cầu trong nước bằng cách tăng lãi suất trong
nước. Phân tích cũng sẽ dự đoán một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái thực trong nước (giá
xuất khẩu), so với các nước không nằm trong bản vị vàng, và đi kèm mức sụt giảm trong xuất
khẩu thực tế. Bảng 2 (line 9) cho thấy tỷ lệ lãi suất thực cao vào năm 1930, giảm dần một
cách đáng kể cho cả các nước gold và ungold, nhưng luôn thấp ỏ các nước ungold (không
nằm trong chế độ bản vị vàng). Bảng 3 (dòng 9a) khẳng định rằng, trung bình, tỷ lệ lãi suất
thực là 2,7% cao hơn trong các quốc gia theo chế độ bản vị vàng (t = 2,07). Tỷ lệ lãi suất thực
ở các nước bản vị vàng (dòng 10a của Bảng 3, được đo tương đối so với Hoa Kỳ) đã tăng
trưởng trung bình gần 5% so với các nước nongold (nhưng với một giá trị t-value chỉ 1,70),
và xuất khẩu thực của các quốc gia theo chế độ abnr vị vàng tương ứng giảm từ 7% đến 8%
mỗi năm (t-value tuyệt đối = 2,08). Không có sự khác biệt trong tốc độ tăng trưởng của nhập
khẩu giữa các nước gold và nongold (Bảng 3 dòng 12a), có lẽ phản ánh những tác động bù trừ
ở các nước Gold Bloc của mức thu nhập thấp hơn trong nước và các điều khoản thương mại
được cải thiện.
Thật thú vị, giá cổ phiếu thực tế (một chỉ số giá cổ phiếu danh nghĩa đã giảm bởi chỉ số giá
bán buôn) đã không ở vào tình trạng tồi tệ hơn nhiều ở các nước bản vị vàng, giảm nhanh hơn
khoảng 3% một nă (t-value = 1.12). Có sự khác biệt đáng kể giữa các nước gold và ungold
trong diễn biến của mức lương thực tế và danh nghĩa, nhưng vì các biến hầu như là liên kết
chặt chẽ với các những phát hành nguồn cung tổng hợp, cho nên chúng tôi trì hoãn cuộc thảo
luận về chúng cho đến phần tiếp theo.
2. TỔNG CUNG: SỰ THẤT BẠI CỦA ĐIỀU CHỈNH DANH NGHĨA
Mặc dù quan điểm chung trong những nguyên nhân của cuộc Đại suy thoái lâu dài bao
gồm vai trò cho những cú sốc tiền tệ, chúng ta đã thấy trong phần 1 rằng nghiên cứu gần
đây theo hướng so sánh đã củng cố đáng kể trường hợp thực tiễn vì tiền tệ là động lực
chính. Về mặt tổng cung, chúng tôi vẫn có một câu hỏi: Tại sao quá trình điều chỉnh với

của người vay làm tăng chi phí đại diện của người cho vay, và do đó làm tăng chi phí tài
trợ cho đầu tư được đề nghị của người vay.
Bằng trực giác, nếu người vay có thể đóng góp một phần nhỏ nguồn vốn cho dự án riêng
của mình và do đó phải dựa chủ yếu về tài chính bên ngoài, từ đó động cơ của người vay
để có hành động không quan tâm đến lãi suất có thể tương đối cao;
Từ cách nhìn đại diện, một giảm phát nợ mà bất ngờ tái phân phối sự giàu có từ người
vay không phải là một sự kiện mang tính kinh tế vĩ mô trung lập, trong phạm vi mà người
đi vay tiềm năng có thể tiếp cận với các dự án đầu tư cụ thể hoặc cơ hội chi tiêu là duy
nhất hoặc chi phí thấp hơn, sự mất mát của giá trị tài sản của người vay làm mất đi hiệu
quả của những cơ hội từ nền kinh tế. Như vậy, ví dụ, một công ty kiệt quệ tài chính
không thể có được vốn lưu động cần thiết để mở rộng sản xuất, hoặc để tài trợ cho một
dự án mà dự án đó là khả thi nếu điều kiện tài chính tốt hơn.
Tương tự như vậy, một hộ gia đình có thu nhập danh nghĩa hiện tại đã giảm liên quan đến
các khoản nợ của mình có thể sẽ bị cấm mua một ngôi nhà mới, thâm chí việc mua được
chứng minh có được một cảm giác về thu nhập lâu dài. Bằng cách gây khủng hoảng tài
chính trong các công ty và hộ gia đình của khách hàng vay, giảm phát nợ có thể có tác
động thực sự đối với nền kinh tế.
Nếu mức độ giảm phát nợ là đủ nghiêm trọng, nó cũng có thể đe dọa đến sức khỏe của
các ngân hàng và các trung gian tài chính khác (kênh thứ hai). Các ngân hàng thường có
cả tài sản danh nghĩa và nợ danh nghĩa và như vậy trên một phạm vi nhất định được tự
bảo hiểm để chống lại giảm phát. Tuy nhiên, sự khó khăn của các ngân hàng "người vay
gia tăng, các yêu cầu danh nghĩa của các ngân hàng được thay thế bởi các yêu cầu về tài
sản thực tế (ví dụ, tài sản thế chấp); từ thời điểm đó, giảm phát cũng làm co lại các ngân
hàng
15
^. tổn thất cho vay thực tế và tiềm năng phát sinh từ giảm phát nợ làm giảm vốn
ngân hàng và làm tổn thương ngân hàng tác động đến nền kinh tế bằng nhiều cách: Trước
tiên, đặc biệt là trong một hệ thống mà không có bảo hiểm tiền gửi, người gửi tiền giảm
và rút tiền làm mất đi quỹ của ngân hàng để cho vay, đến mức mà ngân hàng cho vay
trong trường hợp đặc biệt hoặc có thông tin quan trọng , các khoản vay này không dễ

hơn so với điều kiện kinh tế vĩ mô, cũng cố quan điểm hơn cho việc khủng hoảng ngân
hàng có một tác động vĩ mô độc lập.
Theo một phương pháp đo lường sự bất ổn ngân hàng, Bemanke và James xây dựng một
biến số giả gọi là PANIC, mà họ định nghĩa là số tháng trong mỗi năm khi các nước trong
mẫu nghiên cứu phải đối diện với cuộc khủng hoảng ngân hàng. Trong thực hiện hồi quy
cho một loạt các yếu tố, bao gồm cả tỷ lệ thay đổi trong giá cả, tiền lương, và cung tiền,
tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu, và chính sách lãi suất chiết khấu, Bemanke và Jamesfound
còn tìm thấy một tác động kinh tế suy thoái ngân hàng quan trọng có ý nghĩa thống kê
cao dựa trên sản xuất công nghiệp.
Một bản tổng hợp giảm các tác động của PANIC lên các biến số vĩ mô được đưa ra trong
các hàng của Bảng 3 đánh dấu "b", chỉ ra hệ số ước lượng từ những cuộc suy thoái của
từng biến số vĩ mô đối với PANIC, biến giả các thành viên áp dụng chế độ bản vị vàng
(ONGOLD), và các biến giả thời gian cho từng năm. Đối với những ước lượng này,
chúng ta chia biến PANIC Bemanke-James cho mười hai, để mà các hệ số ước lượng của
nó có thể được giải thích là các tác động hàng năm.
Kết quả cho thấy tác động kinh tế vĩ mô quan trọng của sự khủng hoảng ngân hàng vừa
độc lập với những tác động của chế độ bản vị vàng và vừa phù hợp với dự đoán lý thuyết:
trên khía cạnh thực tế trong nền kinh tế, PANIC được cho là có những tác động hiệu quả
kinh tế lớn và có ý nghĩa thống kê đối với cách thức sản xuất (dòng Ib) và tuyển dụng
việc làm (dòng 7b). Cụ thể hơn, với việc kiểm soát các thành viên áp dụng chế độ bản vị
vàng, ảnh hưởng trong một nam của sự khủng hoảng ngân hàng về log-change mức sản
xuất được ước lượng là - 0,0926, có giá trị tuyệt đối t-value là 3,50; và ảnh hưởng của
log-change trong tuyển dụng việc làm là - 0,0456, có giá trị t-value là 2,10. Sự khủng
hoảng ngân hàng cũng chỉ ra sự giảm tiền lương thực và danh nghĩa (dòng 6b và 5b), sự
suy giảm khả năng cạnh tranh và xuất khẩu (dòng 10b và 1 Ib),), tăng lĩa suất thực sau
đó, và giảm giá cổ phiếu thực (dòng 13b), mặc dù hệ số ước lượng không phải lúc nào
cũng có ý nghĩa thống kê.
Về mặt danh nghĩa của nền kinh tế, khủng hoảng ngân hàng làm giảm đáng kể số nhân
tiền (dòng 4b của Bảng 3 bằng tỷ lệ của M1 tiền tệ), Chúng tôi cũng tìm thấy (dòng 3b)
mà khủng hoảng ngân hàng tại một đất nước làm giảm đáng kể cung tiền M1. Tác động

nghĩa => mức lương thực giảm => gia tăng lực lượng lao động.
** Những quốc gia theo chế độ bản vàng: sự gia tăng mức lương thực và lực lượng lao
động là tương đối giữ ở mức ngang nhau.
Nghiên cứu của Eichengreen và Sachs (1985) ở các quốc gia Châu Âu năm 1935, khối
các quốc gia theo chế độ bản vàng có mức lương thực cao và sản lượng thấp, các quốc
gia không theo chế độ bản vàng thì ngược lại.
Sau đó, Bernanke và Carey (1994) đã mở rộng phân tích của Eichengreen và Sachs theo
các hướng:
1/ Ng/c từ 10 quốc gia → 20 quốc gia và dữ liệu được lấy từ năm 1931 – 1936
thay vì là 1935.
2/ Trong hàm hồi quy, tách rời mức lương thực với các yếu tố mức lương danh
nghĩa và giá cả.
3/ Sử dụng các biến khác có ảnh hưởng đến nguồn cung và sử dụng kỹ thuật phân
tích biến:
Hàm hồi quy được đưa ra;
q = 600w + .673 p + .540 q -1 - .144 PANIC - .69-
05 STRIKE (2)
(3.81) (5.10) (7.66) (5.79) (3.60)
trong đó:
q, q-1 = sản lượng năm hiện tại và năm n-1.
W: chỉ số lương danh nghĩa.
P: chỉ số giá.
PANIC: số tháng/năm xảy ra khủng hoảng ngân hàng.
STRIKE: số ngày làm việc bị tổn thất do đình công (tính trên 1000 lao động).
Từ (2), PANIC và STRIKE có ảnh hưởng đáng kể đối với sản lượng cung ứng và hệ số
tương quan của năm n-1 chỉ đạt được 50% mục tiêu đề ra. Hệ số tương quan của mức
lương danh nghĩa và chỉ số giá cả là có tính đối lập nhau. Từ (2), những quốc gia có mức
lương danh nghĩa điều chỉnh chậm so với mức giá cả thường trải qua sự sụt giảm trong
sản lượng.
Biểu đồ 1 thể hiện sản lượng và mức lương danh nghĩa năm 1935 ở khối các quốc gia

Vì thế, sự thất bại
trong việc điều chỉnh lương danh nghĩa ( và kể cả giá cả)dường như không thống nhất với
nguyên lý cơ bản của tính hợp lý kinh tế, trong khi đó khủng hoảng tài chính gây ra bởi
giảm phát thì không như vậy.
Một khả năng thú vị để làm rõ hơn mối tương quan của lương-giá với sự hợp lý kinh tế,
đó là các hợp đồng tài chính không được chỉ số hóa, và sự liên kết giảm phát nợ, một
nguồn gốc của việc đều chỉnh chậm mức lương và các giá cả khác. Một sự liên kết sẽ có
thể gia tăng vì các lý do chính trị: Khi giảm phát được xử lý, cả mối đe dọa gia tăng trong
khủng hoảng tài chính và những sự than phiền của các con nợ gây sức ép lên chính phủ
trong việc can thiệp vào nền kinh tế bằng nhiều cách để ngăn chặn sự điều chỉnh này. Đối
với trường hợp nước Pháp, ví dụ (ghi chú trong Figure 1, là một trường hợp cụ thể cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status