“Giải pháp phát triển khoa học công nghệ nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu - Pdf 31

Danh mục Bảng biểu
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000 – 2008 kế hoạch 2009 và dự
báo 2010 (%)..........................................................................................30
Bảng 2: Mức đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng GDP (%)......35
Bảng 3: Đào tạo sau đại học giai đoạn 2002 – 2007 (người).................48
Bảng 4: Đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ đào tạo trong giai đoạn 2002
– 2007(người)........................................................................................49
Bảng 5: Tỷ trọng chi đầu tư phát triển và chi sự nghiệp
KH&CN từ NSNN (%)..........................................................................50
Bảng 6: Cơ cấu đầu tư cho KH&CN.....................................................50
Danh mục hình vẽ, biểu đồ
Hình 1: Tiến bộ công nghệ trong mô hình Solow..................................23
Biểu đồ 3: Tỷ trọng đóng góp các nhân tố đầu vào đối
với tăng trưởng GDP (%).......................................................................38
Biểu đồ 4: Cở cấu đầu tư cho KH&CN từ NSNN ................................51
Biểu đồ 5: Vốn đầu tư trong lĩnh vực KHCN, điều tra cơ bản
và môi trường giai đoạn 2001 – 2010....................................................51
Trương Thị Hồng Lớp KTPT47B
Mục Lục
Hình 1: Tiến bộ công nghệ trong mô hình Solow..................................23
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000 – 2008 kế hoạch 2009 và dự
báo 2010 (%)..........................................................................................30
Bảng 2: Mức đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng GDP (%)......35
Biểu đồ 3: Tỷ trọng đóng góp các nhân tố đầu vào đối
với tăng trưởng GDP (%).......................................................................38
Bảng 3: Đào tạo sau đại học giai đoạn 2002 – 2007 (người).................48
Bảng 4: Đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ đào tạo trong giai đoạn 2002
– 2007(người)........................................................................................49
Bảng 5: Tỷ trọng chi đầu tư phát triển và chi sự nghiệp
KH&CN từ NSNN (%)..........................................................................50
Bảng 6: Cơ cấu đầu tư cho KH&CN.....................................................50

Trương Thị Hồng 1 Lớp KTPT47B
triển KH&CN với tăng trưởng kinh tế. Để từ đó có những
phương hướng, nhiêm vụ cụ thế và đưa ra một số giải pháp tăng cường
phát triển khoa học công nghệ để duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh
tế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay.
Bài viết kết cấu bao gồm:
Chương I: Vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng
kinh tế.
Chương II: Thực trạng phát triển khoa học công nghệ và tăng
trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay
Chương III: Một số giải pháp tăng cường phát triển khoa học
công nghệ nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối
cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu.
Trương Thị Hồng 2 Lớp KTPT47B
Chương I: Vai trò của khoa học công nghệ đối với
tăng trưởng kinh tế
I. Những vấn đề cơ bản về khoa học và công nghệ
1. khái niệm.
1.1 khái niệm khoa học
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có rất nhiều quan niệm
khác nhau về khoa học vì một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển
của xã hội; mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức.
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến
thức mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay
học thuyết này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn
phù hợp.
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng
phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Có hai hệ thống: Tri thức kinh

Vậy khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về
con người và về tư duy của con người.
1.2 khái niệm công nghệ.
Cũng như nhiều khái niệm khác trong đời sống hiện thực khó có
một cách định nghĩa chính xác và đầy đủ về thuật ngữ công nghệ. Có
nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ.
Theo Liên Xô trước “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia
công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật
Trương Thị Hồng 4 Lớp KTPT47B
liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản
phẩm hoàn chỉnh”
Theo Mỹ và Tây Âu “ Công nghệ để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh
vực, các hoạt động này, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là
kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng – một sự phát triển của khoa
học trong thực tiến nhằm mang lại kết quả cao hơn trong hoạt động của
con người.”
Định nghĩa này dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới.
Mặc dù đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa
ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thông nhất. Có bốn
khia cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ:
Khía cạnh “công nghệ là máy biến đổi”
Khía cạnh “công nghệ là một công cụ”
Khía cạnh “công nghệ là kiến thức”
Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của
nó”
Xuất phát tự các khía cạnh trên, chúng ta thừa nhận định nghĩa
công nghệ do Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình
Dương (ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy
trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin, Công nghệ bao
gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng

Kết quả của giai đoạn đầu đã tạo ra tăng trưởng kinh tế bình quân
của toàn thế giới là 5,6%, cao nhất trong lịch sử kinh tế thế giới.
2.2 Bản chất của công nghệ.
Trương Thị Hồng 6 Lớp KTPT47B
Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa “phần
cứng” và “phần mềm”.
Phần cứng phản ánh kỹ thuật của phương pháp sản xuất kỹ thuật
được hiểu là toàn bộ những điều kiện vật chất, bao gồm máy móc trang
thiết bị, khí cụ, nhà xưởng, do con người tạo ra để sử dụng trong quá
trình sản xuất nhằm làm biến đổi các đối tượng vật chất cho phù hợp
với nhu cầu của con người. Kỹ thuật là cơ sở vật chất quyết định tăng
năng suất lao động, kỹ thuật phát triển không ngừng cả về số lượng và
số lượng
Phần mềm bao gồm 3 thành phần: Thành phần con người với
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm, thói quen trong lao
động; thành phần thông tin gồm các bí quyết, quy trình, phương pháp,
dữ liệu, bản thiết kế; và cuối cùng là thành phần tổ chức, thể hiện trong
việc bố trí, sắp xếp, điều phối và quản lý.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa phần cứng và phần mềm của công nghệ
sẽ là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sản xuất đạt hiệu quả cao. Nếu như
phần kỹ thuật được coi là xương sống, cốt lõi của quá trính sản xuất, thì
thành phần con người là chìa khoá, hoạt động theo những hướng dẫn
của thành phần thông tin. Thành phần thông tin là cơ sở để con người ra
quyết định. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các thành phần
trên, động viên người lao động nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.
Ngày nay thuật ngữ “công nghệ” được sử dụng thay cho thuật
ngữ “kỹ thuật” trước đây có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện
nay, khi mà công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế, khi tỷ lệ
phần mềm trong các hệ thống công nghệ ngày càng có vị trí quan trọng.

Phát minh

Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển
khai công nghệ mới vào sản xuất, đời sống. Nếu khoa học cơ bản vạch
ra những nội dung chủ yếu của công nghệ, thì khoa học ứng dụng có vai
trò cụ thể hoá lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ,
đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp. Ngược lại, công nghệ là cơ sở
để tổng quát hoá thành những nguyên lý khoa học. Công nghệ còn tạo
ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài. Khoa học càng gần
với hoạt động sản xuất và đời sống thì ứng dụng, triển khai công nghệ
càng mang tính trực tiếp nhiều hơn. Những thành tựu của khoa học
công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được ứng dụng rộng
rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống chứ không riêng gì trong sản
xuất. Vai trò quan trọng của khoa học công nghệ ngày càng được
khẳng.
3. Vai trò của khoa học công nghệ
3.1 Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Theo K. Marx dự đoán: đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh
ra sự giàu có thực sự không phụ nhiều vào thời gian lao động, mà lại
phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ của
kỹ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất. Vậy khoa học và công
nghệ không chỉ tạo ra công cụ lao động mơi, mà cả phương pháp sản
Trương Thị Hồng 9 Lớp KTPT47B
Khoa học Công nghệ
Nghiên cứu
khám phá
Áp dụng
Sáng chế
xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng

doanh nghiệp trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường việc áp dụng
tiến bộ khoa học và công nghệ đã có những tác động như sau:
* Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng
hiện đại và đồng bộ
* Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các
loại hình doanh nghiệp mới.
* Chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập
khẩu chuyển sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường
trong nước hướng ra thị trường thế giới, tăng sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế.
Ngày nay, các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chỉ có
ưu thế trong cạnh tranh trên thị trường thế giới, mà còn có ưu thế vế
xuất khẩu tư bản, chuyển giao khoa học và công nghệ sang các nước
khác.
3.3 Làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ không chỉ đẩy
nhanh quá trình tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm cho phân
công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đưa đến phân chia
các ngành thành nhiều phân ngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích
cực: Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu
hướng tăng dần, còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm; Cơ cầu
kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng
mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng kỹ thuật, công
Trương Thị Hồng 11 Lớp KTPT47B
nghệ cao. Lao động tri thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô
thị hoá cũng ngày càng tăng nhanh. Tất cả trở thành đặc trưng của sự
phát triển khoa học công nghệ.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khoa học công nghệ
4.1 Tác động của môi trường quốc gia.

Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập và sản lượng của nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng
được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia
tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so
sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời
kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc
giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP,GNI và
được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.
1.2. Bản chất của tăng trưởng kinh tế
Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với
tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.
Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên
tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân
đầu người. Hơn nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng
vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều
kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
2. Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
2.1. Nhân tố kinh tế.
Trương Thị Hồng 13 Lớp KTPT47B
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu
ra của nền kinh tế.
Nghiên cứu bắt đầu từ hàm sản xuất tổng quát: Y = F(X
i
)
Trong đó: Y là giá trị đầu ra.
X
i
là giá trị các biến đầu vào.
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị đầu ra của nền kinh tế phụ

ở các nước này còn thấp.
Yếu tố tài nguyên, đất đai (R) được coi là yếu tố đầu vào của sản
xuất. Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu
tố không thể thiếu trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế thuộc các
ngành công nghiệp, dịc vụ. Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú
được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh
chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển.
Công nghệ kỹ thuật (T) được quan niệm là nhân tố tác động ngày
càng mạnh đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại. Yếu tố công nghệ
kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: Thứ nhất đó là những
thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa
ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công
nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai là sự áp dụng phổ biến các kết quả
nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển
chung của sản xuất. Yếu tố công nghệ hiểu theo nghĩa toàn diện như thế
đã được K. Marx xem như la “ chiếc đũa thần tăng thêm sự giàu có của
cải xã hội”. Còn Solow thì cho rằng “tất cả các tăng trưởng bình quân
đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”, Kuznets và
Trương Thị Hồng 15 Lớp KTPT47B
Samuelson đều khẳng định: công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hiện nay các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại thường không
nói đến nhân tố tài nguyên đất đai, vì vậy, 3 yếu tố tác động trực tiếp
đến tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh là: vốn, lao động và năng suất
yếu tố tổng hợp (TPF). Vốn và lao động được xem như là các yếu tố vật
chất có thể lượng hoá được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng
kinh tế và được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng. Năng suất
nhân tố tổng hợp là thể hiện hiệu quả của các yếu tố công nghệ kỹ thuật
hay các đánh giá tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đến tăng trưởng
kinh tế được xác định bằng phần dư còn lại của tăng trưởng sau khi đã

yếu tố nguồn lực trong nước nên chênh lệch giữa kim ngạch xuất và
nhập khẩu (NX) chính khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ
thương mại quốc tế.
2.2 Nhân tố phi kinh tế.
2.2.1 Đặc điểm văn hoá xã hội
Là nhân tố quan trọng tác động nhiều đến quá trình phát triển
kinh tế đất nước, nó bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông đến
các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ,
văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong
tục tập quán…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh
cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia. Trình độ văn hoá của mỗi
dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao
động, của kỹ thuật của trình độ quản lý kinh tế - xã hội
Trương Thị Hồng 17 Lớp KTPT47B
Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu
tư cho sự nghiệp phát triển văn hoá phải được coi là những đầu tư cần
thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất.
2.2.2 Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế – xã hội
Thể chế chính trị - kinh tế - xã hội được thừa nhận tác động đến
quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý
và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư. Một thể chế chính trị - kinh tế
- xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu
và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc
độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một thể chế không
phù hợp sẽ gây ra cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá vỡ
những mối quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy
thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra những xung đột chính trị, xã
hội.
2.2.3 Cơ cấu dân tộc.
Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể đem đến những biến đổi

mô hình tăng trưởng kinh tế đã khẳng định vai trò của khoa học công
đối với tăng trưởng:
1. Mô hình Tân cổ điển.
Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của
khoa học công nghệ. Hàng loạt các phát minh khoa học và hàng loạt các
nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất và sự
chuyển biến này đã có những ảnh hưởng rõ rệt trong các trào lưu chính
của tư tưởng kinh tế. Sự phát triển của trào lưu này hình thành một
Trương Thị Hồng 19 Lớp KTPT47B
trường phái kinh tế mới, do đó thời gian này được gọi là mốc đánh dấu
sự ra đời của trường phái tân cổ điển.
1.1 Nội dung của mô hình.
Các nhà kinh tế trong mô hình tân cổ điển bac bỏ quan điểm cổ
điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ
lệ nhất định về lao động, vốn, họ cho rằng vốn có thể thay thế được
nhân công và trong quá trính sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau
trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào.
Từ quan điểm trên các nhà kinh tế học tân cổ điển cũng đưa ra
khái niệm “sự phát triển kinh tế theo chiều sâu”, có nghĩa là gia tăng số
lượng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, còn sự gia tăng vốn
phù hợp với sự gia tăng về lao động được gọi là “phát triển kinh tế theo
chiều sâu”.
Các nhà tân cổ điển còn cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Như bằng cải tiến trong các phương
pháp sản xuất sẽ gia tăng khối lượng sản phẩm. Một khía cạnh khác
đáng lưu ý của các nhà kinh tế tân cổ điển về xu hướng thay đổi trong
kỹ thuật là đa số các sáng chế phát đếu có khuynh hướng dùng vốn để
tiết kiệm nhân công.
1.2 Hàm sản xuất Cobb – Douglas.
Nguồn gốc của sự tăng trưởng được các nhà kinh tế tân cổ điển

nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế, đã xác nhận rằng khoa học công
nghệ là biến số quan trọng nhất. Hiện nay, phần đóng góp của khoa học
và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển đã đạt tới
2/3, còn ở các nước phát triển cũng trên 1/3. Ngoài ra khoa học công
nghệ còn là công cụ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hoá, giáo dục, y tế
và bảo vệ môi trường sinh thái.
2. Mô hình Solow.
Mô hình Solow phê phán quan điểm của Harrod – Domar về vai
trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế. Một tỷ lệ tiết kiệm cao chỉ giúp
Trương Thị Hồng 21 Lớp KTPT47B
cho các quốc gia đang phát triển thực hiện mục tiêu tăng trưởng trong
ngắn hạn khi nền kinh tế chưa đạt được đến điểm ổn định. Mô hình
Solow phân tích điều kiện tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, mô hình
khẳng định vai trò của nhân tố công nghệ. Tiến bộ công nghệ được đưa
vào hàm sản xuất theo những cách khác nhau: nó có thể làm tăng năng
suất của tư bản hoặc lao động. Dạng đơn giản nhất để phân tích là tiến
bộ công nghệ làm tăng năng suất lao động. Chúng ta điều chỉnh lại hàm
sản xuất ban đầu như sau:
Y = F(K,L,E)
Ở đây E đo lường hiệu quả của lao động. Khi E càng lớn, thì càng
nhiều sản lượng được tạo ra từ một số lao động nhất định. Chúng ta giả
thiết tiến bộ công nghệ làm tăng hiệu quả của lao động theo thời gian.
Nếu L hoặc E tăng, thì sản lượng đều bị ảnh hưởng theo cách
giống nhau. Vì lý do này chúng ta gọi L.E là số công nhân hiệu quả.
Nói cách khác tiến bộ công nghệ mở rộng lao động hoạt động giống
như chúng ta có nhiều công nhân hơn. Nếu chúng ta có tiến bộ công
nghệ được cải thiện theo tỷ lệ g = 0,02, thì trong năm nay 100 công
nhân có thể tạo ra mức sản lượng bằng 102 công nhân trong năm trước.
Nếu L tăng với tỷ lệ n và E tăng với tỷ lệ g, thì L.E tăng với tỷ lệ (n +
g).

sẽ đi nghiên cứu thực trạng phát triển KH&CN và tăng trưởng kinh tế
của chúng ta đã đạt được trong thời gian qua và chúng đã giải thích cho
lý thuyết trên như thế nao?
Trương Thị Hồng 23 Lớp KTPT47B
(δ+n+g)k
i = sk
α
Đầu tư
k
k*

Trích đoạn Bối cảnh kinh tế toàn cầu. Thực trạng tăng trưởng kinh tế VN Tácđộng của kinh tế toàn cầu đến tăng trưởng của VN. Những thành tựu phát triển khoa học công nghệ. Giải pháp về chính sách, hành lang pháp lý.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status