Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
1
1
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
“Chính sách tiền tệ với việc thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở
Việt Nam”
2
2
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
MỤC LỤC
A.Lời nói đầu: 1
Chương I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ với việc thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế 2
I.ổn định kinh tế-một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng 2
II.Khái niệm và công cụ của chính sách tiền tệ 3
III.Tác động của chính sách tiền tệ đối với thực hiện mục tiêu ổn định
kinh tế 5
Chương II: Chính sách tiền tệ với thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua 8
I.Sơ lược tình hình kinh tế tiền tệ Việt Nam thời gian qua 8
II.Sơ lược về tình hình sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ của
Việt Nam nhằm ổn định kinh tế 10
III.Những đánh giá chung về thực trạng sử dụng chính sách tiền tệ thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế Việt Nam thời gian qua 13
Chương III: Một số ý kiến đề suất đổi mới và hoàn thiện chính sách
tiền tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện
Tiểu luận gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ với việc thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế.
5
5
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
Chương II: Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua.
Chương III: Một số ý kiến đề xuất đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền
tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bản thân em là
người Laos chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong bộ môn để tiểu luận
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI VIỆC THỰC
HIỆN MỤC TIÊU ỔN ĐỊNH KINH TẾ.
I. ỔN ĐỊNH KINH TẾ- MỘT MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ QUAN TRỌNG.
Ta biết rằng nhược điểm lớn nhất của nền kinh tế thị trường là tự
động tạo ra các chu kì kinh doanh, sản lượng thực tế dao động lên
6
6
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
xuống xung quanh trục sản lượng tiền năng, nền kinh tế luôn có xu
hướng không ổn định.
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính
sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền
kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai
đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
thông thường. Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều
hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác
động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu
cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá
cả hàng hóa. Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối
lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm)
8
8
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có,
tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu như chính sách tài chính
chỉ tập trung vào thành phần. Kết cấu các mức chi phí thuế khóa của
nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào mức độ khả
năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp
ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ
và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và
thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những
quỹ đạo đã định.
2.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.
Xét cho cùng, Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại
chính sách tiền tệ, phù hợp với tình hình thực tiền của nền kinh tế, đó
là chính sách nới lỏng tiền tệ và chính sách thắt chặt tiền tệ.
Chính sách nới lỏng tiền tệ: Là việc cung ứng thêm tiền cho nền
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
lượng tiền trong lưu thông. Việc phân bổ trái phiếu thường mang tính
chất bắt buộc.
2.2.2. Các công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của
nó có được là nhờ cơ chế thị trường.
- Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải đưa
và dự trữ theo luật định. Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản
chuyên dùng ở ngân hàng trung ương và để tại quỹ của mình, với mục
đích góp phần bảo đảm khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thương
Mại và dùng làm phương tiện kiểm soát khối lượng tín dụng của ngân
hàng này. Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả
năng cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó giảm lượng
tiền trong lưu thông, góp phần làm giảm cầu tiền để cân bằng với sự
giảm cung xã hội. Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả
năng mở rộng cho vay của Ngân Hàng Thương Mại sẽ tăng lên, dẫn đến
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp phần tăng cung xã hội để
cân đối tăng cầu về tiền.
-
Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn:
Tái chiết khấu và tái cấp vốn là những cách thức cho vay của NHTW
đối với các NHTM.
11
11
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
Công cụ này có ưu điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ
của NHKD và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm
tín dụng đối với nền kinh tế.
thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho khối lượng tiền tăng
lên rất lớn khó kiểm soát.
3.2. Tái chiết khấu:
Là phương thức để NHTW đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai
trò người cho vay cuối cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã
tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống NHTM thực hiện việc tạo tiền,
đồng thời khai thông thanh toán. Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền
trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông. Do đó ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính
sách tiền tệ. Tùy theo tình hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của
việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính
13
13
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng mà NHTW quy định lãi suất thấp
hay cao. Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng thời kỳ, phải có tác dụng
hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế của giai đoạn đó.
Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các NHTM cũng phải
nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín
dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ
(nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi).
3.3. hoạt động thị trường mở.
Nếu như công cụ lãi suất chiết khấu là công cụ thụ động của
NHTW, tức là NHTW phải nhờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu,
kỳ phiếu đến để xin “tái cấp vốn” thì nghiệp vu thị trường mở là công
cụ chủ động của ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền,
qua đó kiểm soát lạm phát.
Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền
trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách
15
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
13,1% trong đó thu về dầu thô tăng 11,7%, năm 2002 tăng 2,7%, riêng
dầu thô giảm 2,6%. Thu ngân sách liên tục tăng qua các năm và tăng
mạnh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, chủ yếu do hệ thống thuế đã từng
bước được cải cách, đây là một bước tiến bộ quan trọng của quá trình
đổi mới chính sách tài chính, đã dần phù hợp với nền kinh tế thị trường
và yêu cầu của hội nhập nên đã từng bước giảm được phần thất thu.
Chi ngân sách nhà nước năm 2001 tăng 19,1% so với năm 2000
và băng 27% GDP, năm 2002 tăng 13,3% và băng 27,4% GDP, ước tính
6 tháng năm 2003 tăng 14% và băng 13,4%. Cơ cấu chi ngân sách nhà
nước đã có những chuyển biến theo hướng tiếp tục tăng chi thường
xuyên ở mức cao. Chi đầu tư phát triển tập trung chủ yếu vào cho xây
dựng hạ tầng cơ sở, xong vẫn đảm bảo luôn ở mức 1/3 tổng chi ngân
sách nhà nước.
Chi thường xuyên năm 2001 tăng 15,8% và bằng 14,9%GDP, năm
2002 tăng 14.9% và bằng 15,3% GDP, 6 tháng đầu năm 2003 tăng
14,3% (kể cả chi thực hiện chế độ tiền lương mới) và băng 15,2% GDP.
Chi thường xuyên đã tập trung và ưu tiên cho các nhiệm vụ quan trọng
như: Giáo dục-đào tạo, khoa học, công nghệ và môi trường. Bội chi
ngân sách nhà nước so với GDP bình quân hàng năm xấp xỉ 5%, ở mức
an toàn và kiểm soát được.
16
16
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
Thu chi ngân sách nhà nước so với GDP
2003 2004 2005
Tổng thu 20,5 21,6 22,2
suất nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong qua trình chuyển đối
có thể thấy rõ tình linh hoạt của chinh sách lãi suất qua các thời điểm:
- Trước ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện
cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Đồng VN, mức lãi suất cơ bản được
công bố trong những tháng đầu năm 2002 là 0,6%/tháng. NHNN cũng
đã mạnh dạn thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất đối với ngoại tệ từ
tháng 6 năm 2001. Chính sách lãi suất như vậy là phù hợp với thực tiễn
của VN trong qua trình chuyển sang nền kinh tế thị trường và bám sát
với những diễn biến của thị trường quốc tế.
- Từ ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nước quyết định chuyển sang
cơ chế lãi suất ổn định Đồng VN của các tổ chức tín dụng đối với
khách hàng. Đây là một sự “cởi trói” cho các tổ chức tín dụng trong các
hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động
18
18
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
trong hoạt động huy động vốn và cho vay đối với khách hàng. Cơ chế
mới đã tạo ra sự sôi động trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của
các tổ chức tín dụng. Nếu như với cơ chế lãi suất cơ bản, trong các đầu
năm 2002 lãi suất huy động vốn dừng lại ở mức 0,6%/tháng, lãi suất
cho vay bình quân là 0,7%/tháng, thì từ khi áp dụng cơ chế lãi suất thỏa
thuận từ tháng 6 năm 2002 và nhất là trong các tháng 8và 9 năm 2002
lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM lên tới 0,7% thậm trí
0,72%/tháng. Mức lãi suất cao nhất trong vòng gần hai năm qua, không
dừng lại ở đó các tháng đầu năm 2003 do nhu cầu vốn vay trên thị
trường vẫn cao các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng vẫn
tiếp tục cuộc cạnh tranh huy động vốn thông qua các biện pháp nâng lãi
suất huy động. Thực hiện các hình thức khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn.
Đã xuất hiện diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ Việt Nam là lãi
20
20
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
tái cấp vốn đây là một quyết định kịp thời đã góp phần hạ nhiệt cơn sốt
lãi suất trên thị trường trong mấy tháng gần đây.
-Dự trữ bắt buộc:
NHTM sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để tác động đến lượng tiền
cung ứng ra qua việc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các NHTM
và tác động đến lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Trong thời
gian qua, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi nội tệ vẫn được giữ nguyên
ở mức thấp trong hơn hai năm qua, 2% với NHNN và NH phát triển
nông thôn Việt Nam, 3% với các tổ chức tín dụng đô thị khác.
2.4.Công cụ tỷ giá.
NHNN đã rất linh hoạt trong sử dụng công cụ này. Từ ngày
1/7/2002 NHNN quyết định nới lỏng biên độ quy định tỷ giá của các tổ
chức tín dụng. Trong giao dịch mua bán ngoại tệ đối với khách hàng,
quy định này đã giảm dần những quy định mang tính chất hành chính
can thiệp vào quyền tự chủ kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Ngày
13/9/2003, thống đốc ngân hàng nhà nước đã ra quyết định
958/2002/QĐ-NHNN về quản lý ngoại hối đối với việc mua bán chứng
khoán. Từ tháng 10/2002 NHNN đã có các quy định mới về trạng thái
ngoại tệ đối với các ngân hàng thương mại cùng với việc ban hành
những chính sách nói trên, NHNN vẫn duy trì và vận hành có hiệu quả
21
21
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
hoạt động của thị trường ngoại tệ, liên ngân hàng, thực hiện nghiệp vụ
swap trong giao dịch hoán đổi ngoại tệ lấy đồng Việt Nam giữa NHTM
6,6%/năm cũng khẳng định những diễn biến của mặt bằng lãi suất thị
trường đã có xu hướng tăng vào cuối năm.
1.2 Những phản ứng của lãi suất thị trường đối với lãi suất.
Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa các mức lãi suất lỏng lẻo,
không phối hợp hiệu quả và chức năng của chúng có biên giới. Từ
tháng 6/2002 NHNN chủ yếu sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để phản
ứng biến động của thị trường tiền tệ. Mặt nữa mối quan hệ nhân quả
truyền thống giữa lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường không được thể
hiện trong mối liên hệ của lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân
hàng.
Có thể chứng mình bằng con số như sau: Vào quý 4 năm 2000 và
quý 3,4 năm 2001 khi thị trường lâm vào cảnh căng thẳng về nguồn vốn
VNĐ, lãi suất liên ngân hàng tăng tới 60% từ 4,5% vào tháng 9/2000
23
23
Tiểu luận kinh tế vĩ
mô
tới hơn 7% vào tháng 9/2001 và tăng nhẹ vào năm 7/2001tới 5,5% vào
tháng 11,12/2001 trong khi lãi suất tái cấp vốn không có biểu hiện biến
động. Hầu như từ tháng 8/2001 đến tháng 8/2002 lãi suất liên ngân
hàng luôn ưu thế hơn lãi suất tái suất vốn.
1.3 Các thị trường do ngân hàng nhà nước tổ chức mà thông
qua đó tác động vào lãi suất huy động vốn và cho vay của tổ chức tín
dụng ngày càng lớn, quy mô tăng, doanh số cao nhưng diễn biến lại
bất thường.
Trong lúc nhiều ngân hàng thương mại thiếu vốn chung, dài hạn
phải huy động với lãi suất trên 8%/năm thì phải đầu tư hàng trăm tỷ
đồng vào tín phiếu kho bạc nhà nước, chịu lỗ để giải quyết vần đề
thanh khoản và vốn khả dụng. Ngược lại, trong khi nhiều phiên dao
dịch nghiệp vụ thị trường mở lại không có thành viên. Điều đó chứng tỏ
kinh tế thị trường, nhu cầu vốn là rất cao, thì nguồn vốn đầu tư từ ngân
25
25