Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam - Pdf 90

Tiểu luận kinh tế vĩ mô
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với
hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Mặt khác, nền kinh tế thị trường bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do
đó việc ổn định giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính
Quốc Gia mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn
định nền kinh tế.
Ngày này việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết
trước mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy mà việc đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn
đề thường trực. Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, trách thất nghiệp
nhiều cần tập trung vào chính sách tiền tệ nhưng việc lựa chọn giải
pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu
quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Được sự hướng dẫn của thầy cô em xin nhận đề tài: “Chính sách
tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam”.
Tiểu luận gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ với việc thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế.
Chương II: Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua.
Chương III: Một số ý kiến đề xuất đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền
tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bản thân em là
người Laos chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong bộ môn để tiểu luận
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.


Tiểu luận kinh tế vĩ mô
vĩ mô, quản lý tốt kinh tế nhà nước, đảm bảo việc thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội.
Thứ ba: Trong thực trạng của kinh tế vĩ mô hiện nay, bên cạnh
những kết quả tích cực đã xuất hiện một số hạn chế, bất cập và đứng
trước những thách thức không nhỏ.
II. KHÁI NIỆM VÀ CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TỀN TỆ.
2.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính
sách kinh tế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền
kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai
đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
thông thường. Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều
hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác
động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu
cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá
cả hàng hóa. Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối
lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm)
phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có,
tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu như chính sách tài chính
chỉ tập trung vào thành phần. Kết cấu các mức chi phí thuế khóa của
nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào mức độ khả
năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp
ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ
và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và
thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những
quỹ đạo đã định.
2.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.

lượng tiền trong lưu thông. Việc phân bổ trái phiếu thường mang tính
chất bắt buộc.
4
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
2.2.2. Các công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của
nó có được là nhờ cơ chế thị trường.
- Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải đưa
và dự trữ theo luật định. Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản
chuyên dùng ở ngân hàng trung ương và để tại quỹ của mình, với mục
đích góp phần bảo đảm khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thương
Mại và dùng làm phương tiện kiểm soát khối lượng tín dụng của ngân
hàng này. Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả
năng cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó giảm lượng
tiền trong lưu thông, góp phần làm giảm cầu tiền để cân bằng với sự
giảm cung xã hội. Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả
năng mở rộng cho vay của Ngân Hàng Thương Mại sẽ tăng lên, dẫn đến
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp phần tăng cung xã hội để
cân đối tăng cầu về tiền.
-
Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn:
Tái chiết khấu và tái cấp vốn là những cách thức cho vay của NHTW
đối với các NHTM.
Công cụ này có ưu điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ
của NHKD và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm
tín dụng đối với nền kinh tế.
III.TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN MỤC TIÊU ỔN ĐỊNH KINH TẾ.
3.1.Dự trữ bắt buộc.
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM có khả năng biến

đồng thời khai thông thanh toán. Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền
trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông. Do đó ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính
sách tiền tệ. Tùy theo tình hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của
việc thực hiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính
sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng mà NHTW quy định lãi suất thấp
hay cao. Lãi suất tái chiết khấu đặt ra từng thời kỳ, phải có tác dụng
6
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
hướng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tế của giai đoạn đó.
Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các NHTM cũng phải
nâng lãi suất tín dụng của mình lên để không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín
dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ
(nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi).
3.3. hoạt động thị trường mở.
Nếu như công cụ lãi suất chiết khấu là công cụ thụ động của
NHTW, tức là NHTW phải nhờ NHTM đang cần vốn đưa thương phiếu,
kỳ phiếu.. đến để xin “tái cấp vốn” thì nghiệp vu thị trường mở là công
cụ chủ động của ngân hàng trung ương để điều khiển khối lượng tiền,
qua đó kiểm soát lạm phát.
Qua nghiệp vụ thị trường mở, NHTW chủ động phát hành tiền
trung ương vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông bằng cách
mua bán các loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trước
hết đến khối lượng tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của NHTM và các tổ
chức tài chính, hạn chế tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân
hàng này, qua đó điều khiển khối lượng tiền trong thị trường tiền tệ
chúng ta. Khi nghiên cứu phần trước đã biết rằng khối lượng tiền tệ ảnh
hưởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát, việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay
đổi tỷ lệ lạm phát.


dựng hạ tầng cơ sở, xong vẫn đảm bảo luôn ở mức 1/3 tổng chi ngân
sách nhà nước.
Chi thường xuyên năm 2001 tăng 15,8% và bằng 14,9%GDP,
năm 2002 tăng 14.9% và bằng 15,3% GDP, 6 tháng đầu năm 2003 tăng
14,3% (kể cả chi thực hiện chế độ tiền lương mới) và băng 15,2% GDP.
Chi thường xuyên đã tập trung và ưu tiên cho các nhiệm vụ quan trọng
như: Giáo dục-đào tạo, khoa học, công nghệ và môi trường. Bội chi
ngân sách nhà nước so với GDP bình quân hàng năm xấp xỉ 5%, ở mức
an toàn và kiểm soát được.
Thu chi ngân sách nhà nước so với GDP
8
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
2003 2004 2005
Tổng thu 20,5 21,6 22,2
Thu nội địa 10,5 10,9 11,2
Thu từ kinh tế nhà nước 4,6 4,8 4,6
Thu từ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 1,3 1,2 1,3
Thu hải quan 4,3 4,8 5,9
Thu dầu thô 5,3 5,5 4,8
Thu viện trợ không hoàn lại 0,5 0,4 0,4
Tổng chi 24,7 27,0 27,4
Chi đầu tư phát triển 6,7 8,4 8,2
Chi trả nợ, viện trợ 3,0 3,1 3,7
Chi thường xuyên 14,0 14,9 15,3
1.2 Chính sách tiền tệ.
Hoạt động ngân hàng từng bước được chấn chỉnh, đã có một số
tiến bộ trong điều hành và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng
tiếp tục tăng, đáp ứng một phần quan trọng trong tạo nguồn vốn cho
đầu tư phát triển sản xuất. NHNN vẫn tiếp tục thực thi chính sách tiền
tệ thận trọng, nhằm mục đích ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát góp

thuận từ tháng 6 năm 2002 và nhất là trong các tháng 8và 9 năm 2002
lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM lên tới 0,7% thậm trí
0,72%/tháng. Mức lãi suất cao nhất trong vòng gần hai năm qua, không
dừng lại ở đó các tháng đầu năm 2003 do nhu cầu vốn vay trên thị
trường vẫn cao các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng vẫn
tiếp tục cuộc cạnh tranh huy động vốn thông qua các biện pháp nâng lãi
suất huy động. Thực hiện các hình thức khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn.
Đã xuất hiện diễn biến bất thường trên thị trường tiền tệ Việt Nam là
lãi suất nội tệ tăng lên quá cao, trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống
quá thấp.
2.2 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở.
Ngày 12/7/2000, NHNN Việt Nam chính thức đưa công cụ
nghiệp vụ thị trường vào hoạt động đây là một sự chuyển biến quan
trọng điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam,
từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang sử dụng các cộng cụ gián tiếp
theo tín hiệu của thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Qua hơn hai năm triển khai thực hiện, đến nay đã có 22 tổ chức
tín dụng được cấp giấy chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trường
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status