quan hệ kinh tế – thương mại giữa mông cổ và việt nam_ thực trạng và triển vọng - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Tinh cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử lâu dài phát triển nền kinh tế - thương mại hai
nước Mông Cổ - Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú trọng giai đoạn từ 1990 đến
nay. Có thể nhấn mạnh rằng, đặc biệt trong 15 năm gần đây từ 1990-2005, quan
hệ Mông Cổ – Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế –
thương mại, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, du lịch, nghệ thuật đều đã được khôi
phục, phát triển nhanh chóng và sâu rộng, đem lại nhiều kết qủa thiết thực cho
cả hai bên. Cho đến nay, hai nước đã ký hơn 20 hiệp định song phương và thoả
thuận cấp Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai
nươc.
Có thể nói, lĩnh vực thương mại và đầu tư là hai lĩnh vực được quan tâm
nhiều nhất và cũng có sức sống nhất trong quan hệ kinh tế Mông Cổ – Việt
Nam.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại bức tranh không phải tòan mầu
hồng, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều hiện ở mức rất thấp, chưa đầy 2
triệu USD trong những năm gần đây, chưa tương xứng với tiềm năng và thấp
hơn nhièu so với kim ngạch 16 triệu USD cách đây 10 năm. Làm thế nào để
phấn đấu đưa kim ngạch buôn bán hai chiều lên 10 triệu USD một năm vào
năm 2010? Làm thế nào để bên cạnh thương mại, phát triển quan hệ đầu tư
cũng ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương? Trong
tiến trình phát triển quan hệ thương mại, đầu tư, các ngành hữu quan hai nước
khẳng định ý chí và quyết tâm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển một cách có
hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước và nhân dân hai nước; tạo
thuận lợi cho nhau, mạnh dạn đầu tư liên doanh sản xuất phù hợp với điều kiện
kinh tế hai bên, bằng cán bộ kỹ thuật cao, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, mặt
bằng của Mông Cổ và nguồn nhân công dồi dào, cán bộ kỹ thuật cao, máy móc,
thiết bị của Việt Nam, để cung cấp cho thị trường hai nước và xúât khẩu sang
các thị trường của nước thứ ba; tìm kiếm các phương thức, các kênh thích hợp,
từng bước xúc tiến thương mại, nhằm nâng kim ngạch lên 10 triệu USD vào
năm 2010. Ngoài ra, phải đa dạng hoá, tự do hoá các hình thức và chủ thể hợp

nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề “Quan
hệ kinh tế – thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam: thực trạng và triển
vọng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ – Chuyên ngành Kinh tế thế
giới và quan hệ thương mại quốc tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ kinh tế - thương mại
giữa Mông Cổ và Việt Nam trong những năm gần đây.
2
- Đánh giá thực trạng mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Mông Cổ và
Việt Nam và tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế.
- Dự đoán triển vọng mối quan hệ song phương và đề xuất các giải pháp
nhằm phát triển mối quan hệ kinh tế - thương mại trong những năm sắp tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
 Làm rõ những vấn đề bức xúc về quan hệ thương mại và đầu tư
Mông Cổ – Việt Nam.
 Giới thiệu tiến trình phát triển kinh tế – thương mại và đầu tư giữa
Mông Cổ và Việt Nam.
 Khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có, đẩy mạnh việc trao đổi
hàng hoá, tìm kiếm khả năng hợp tác liên doanh nhằm đưa quan hệ
kinh tế, thương mại lên ngang tầm với quan hệ chính trị tốt đẹp
giữa hai nước.
 Cung cấp những thông tin cập nhật nhất về thực trạng hoạt động
kinh tế – thương mại và đầu tư của hai nước.
 Đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường tìm kiếm các cơ hội hợp
tác, khai thác hiệu quả những thế mạnh của hai bên về những mặt
hàng truyền thống, hợp tác liên doanh trên các lĩnh vực cùng có lợi
như chế biến nông sản, trao đổi hàng hoá, hợp tác xây dựng, dịch
vụ, khai khoáng…khi giữa Mông Cổ và Việt Nam đang có những
tiến triển về kinh tế thương mại và đầu tư.

Cổ và Việt Nam
Chương 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế –
thương mại và đầu tư giữa Mông Cổ và Việt Nam.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI, ĐẦU
TƯ CỦA NƯỚC MÔNG CỔ
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong
giai đoạn từ năm 1986-1990
Từ đầu những năm 1990 hầu hết các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
đã thực hiện những cải cách kinh tế dựa theo thị trường. Khác với các nền kinh
tế Đông Âu cũng đã có đi bước quá độ giống nhau, nền kinh tế Mông Cổ phần
lớn là nông nghiệp chăn nuôi với khu vực quốc doanh còn nhỏ – một điều kiện
ban đầu hết sức thuận lợi để quá độ được mau lẹ. Thực tế này xuất phát từ tỷ
trọng thấp của công nghiệp trong nền kinh tế và từ vai trò chủ đạo của khu vực
nông nghiệp và dịch vụ. Thực ra, ở Mông Cổ không có công nghiệp nặng. Cho
tới tận trước khi có các cuộc cải cách năm 1990, ngót một nửa công ăn việc làm
trong ngành chế tạo được tập trung trong hai phần sử dụng nhiều lao động là dệt
và chế biến thực phẩm. Theo só liệu thống kê chính thức, những năm 1980 nền
kinh tế Mông Cổ phát triển rất nhanh, GDP bình quân năm tăng 6.2% (xem bảng
1.1). Những năm 1986 tốc độ tăng trưởng đạt 9.4% [17.Tr.9].
Từ 1990, Mông Cổ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, đa phương
và không kiên kết. Vào năm 1990, nhân dân Mông Cổ từ bỏ hệ thống kế hoạch
hoá tập trung và mệnh lệnh quan liêu đơn thuần theo kiểu Liên Xô và đã chọn đi
theo con đường dân chủ, đổi mới bằng cách thực hiện cải tổ chính trị bằng con
đường của mình và thực hiện các biện pháp mang tính chất đường lối theo
hướng thiết lập nền kinh tế thị trường. Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kế
hoạch truyền thống sang nền kinh tế thị trường do khu vực tư nhân chiếm ưu thế
đã tạo ra những cơ hội mới cho quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất
nước Mông Cổ theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường là tất yếu. Năm 1991,

khu vực và đa phương một cách tích cực có hiệu quả. Để thực hiện chính sách
hội nhập kinh tế quốc tế thì việc tìm kiếm và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư
nước ngoài và tăng cường hoạt động xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ là rất
quan trọng.
Tóm lại, giống như với các nước thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, những
khó khăn trong những năm cải cách thị trường ở thập niên 90, tình trạng khủng
hoảng nghiêm trọng cả về mặt chính trị và về mặt kinh tế xã hội đã đưa sự phát
triển kinh tế Mông Cổ về khoảng cách tụt hậu khoảng 10 năm. Tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 1990-1993 luôn là con số âm, sản xuất suy giảm cùng với lạm phát
cao đã làm sức mua của dân cư giảm, làm tiền lương thực tế và thu nhập bình
quân đầu người giảm đáng kể, môi trường kinh doanh không ổn định, và nền
kinh tế vẫn còn phải đối phó với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng trong thời gian
trước mặt đó: sản xuất công nghiệp và nông nghiệp giảm nghiêm trọng, nợ nước
ngoài cao, dự trữ ngoại tệ và vàng không đủ để nhập khẩu những mặt hàng thiết
yếu… Tình trạng khan hiếm ngoại tệ đã giảm sút nguồn lực cung cấp xăng dầu
mà tác động tiêu cực đến lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện và vận tải. Năm 1990
Mông Cổ là một trường hợp điển hình về một nước đang phát triển không ổn
định kinh tế vĩ mô.
6
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu vĩ mô kinh tế Mông Cổ qua các năm 1980-2003
Năm
1980 1990 1997 1998 2000 2001 2002 2003
GDP thực tế,
tỷ tugrug, T
8,7 13,52 83,26 81,75 1018,9 1115,6 1240,8 1461,2
GDP, triệu USD - - 1049,0 968,5 946,6 1016,4 1117,5 1274,5
GDP bình quân
đầu người, nghìn
T
- 5,1 362,5 351,1 426.2 460.1 504.6 586.89

nước đã sang cơ chế thị trường và đang phát triển thì chỉ số như vậy là thấp .
Hình 1.1: Tăng trưởng thực tế qua các năm, % (1990-2001)
Nguồn:
[45.Tr.4]
8
Hình1.2: Tăng trưởng thực tế qua các năm, 1984-2005 (%)
5.9
5.7
9.4
3.5
5.1
4.2
-2.5
-9.2
-9. 5
-3
2.3
6.3
2.4
4
3.5
3.2
1.1
1
4
5.6
10.7
6.2
-10
-5

1998 6,0
1999 10,0
2000 8,1
2001 8,0
2002 1,6
2003 4,7
2004 11,0
2005 9,5
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
10
Hình 1.3: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng, % (1990-2001)
Nguồn: [45.Tr.6]
Hình 1.4: Tỷ lệ lạm phát, % (1999-2005)
9.5
11
4.7
1.6
8
8.1
10
0
2
4
6
8
10
12
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
1.2.1.2 Tỷ giá hối đoái

định tỷ giá ngoại tệ ở mức 1120 tugrug ăn 1 USD Mỹ [12.Tr.7] (xem bảng 1.1)
12
Hỡnh 1.5: Lu thụng t giỏ danh ngha v thc t ng tin Tugrug
(ch s: 1995 =100)
t giỏ danh ngha t giỏ thc t
Ngun: Ngõn hng Trung ng Mụng C
Sau nm 1996 khi t giỏ gim mnh n gia nm 1998 t giỏ danh ngha
tng i n nh. Bt u t nm 1995 t giỏ hi oỏi thc t ng tin Tugrug
liờn tc tng giỏ khong 6,8%/nm. Tỡnh hỡnh nh vy ó b nh hng n v
trớ xut khu nc Mụng C trờn th trng th gii. Vi mc ớch gi vng t
giỏ danh ngha tng i n nh ó thc hnh chớnh sỏch tng cng hot ng
v ngoi hi gia cỏc ngõn hng. Kt qu chớnh sỏch ny l cui nm 2001 t
giỏ ng tin Tugrug so vi USD M gim 0,45% so vi cui nm 2000
[11.Tr.7] (xem hỡnh 1.5).
Hỡnh 1.6: T giỏ hi oỏi (2000-2005)
1097
1102
1125
1168
1221
1209
2.3
0.5
2.1
3.8
3.5
1
550
650
750

kinh tế Mông Cổ, nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế.
Trong giai đoạn 1997-2001, do những nguyên nhân như tình trạng kinh tế thế
giới và khu vực không ổn định, chương trình tư nhân hóa chậm lại, hậu quả
thiên tai, dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mông Cổ liên tục giảm sút, đặc
biệt năm 2001 giảm đến 1% (xem hình 1.2)[11.Tr.5].
Trong giai đoàn 2002-2004 (theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thống kê
Mông Cổ) tình hình kinh tế phục hồi trở lại, năm 2002 GDP tăng 4,0%, năm
2003 tăng 5,6%. Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2004, tốc độ tăng trưởng
tổng sản phẩm trong nước GDP đạt 1910,9 tỷ tugrug, hay là 10,7%, so với năm
2003 tăng gấp hai lần (đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm qua) [14.Tr.17] (xem
hình 1.7).
Như vậy, kể từ khi thực hiện Công cuộc Đổi Mới hay còn gọi là chính
sách cải tổ năm 1986, đến năm 2005, Mông Cổ đã đạt được tăng trưởng kinh tế
tương đương nhanh. Nền kinh tế tư nhân chiếm trên 70%/GDP. Về quy mô, tăng
trưởng (năm 2003) của đất nước Mông Cổ mới đạt 5,6%, đứng thứ 87/134 nước
trên thế giới, GDP bình quân tính theo đầu người đạt khoảng 390 USD, đứng
thứ 103/136 nước trên thế giới.
Trong thời kỳ 1995-2002 GDP bình quân đầu người (bình quân năm) đã
là 419,1 đô la Mỹ, cuối năm 2002 đạt 454,5 đô la Mỹ – nước Mông Cổ hiện
trong những nước có mức thu nhập thấp. Nếu so sánh GDP bình quân đầu người
năm 1998 của nước Mông Cổ với một số nước khác thì chỉ số nước Mông Cổ ít
hơn Trung Quốc bằng 2 lần, Hàn Quốc khoảng 20 lần, Nhật Bản 84 lần
[30.Tr.25].
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế đã
gia tăng qua các năm. GDP bình quân đầu người năm 2004 đã đạt 640,1
USD/người, tăng 25,0% so với mức năm 2003. Theo giá năm 2000, mức thực tế
của GDP bình quân đầu người cuối năm 2004 đạt 496,9 nghìn tugrug, tăng 9,4%
so với năm 2003.
Hình 1.7: GDP bình quân đầu người bình quân năm qua các năm 1990-2005
(nghìn Tugrug)

1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
Nguồn:
[30.Tr.25]
1.2.3 Cơ cấu kinh tế Mông Cổ
1.2.3.1 Xét theo tỷ trọng trong GDP nền kinh tế Mông Cổ (xem bảng 1.6):
• Nông nghiệp chăn nuôi:
Đến năm 1996, khu vực nông nghiệp chăn nuôi đã chiếm đa số tỷ trọng
của nền kinh tế Mông Cổ. Sự biến động tỷ lệ tăng giảm của ngành này hoàn toàn
phụ thuộc vào những biến đổi của thiên nhiên và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
tăng trưởng kinh tế Mông Cổ. Lĩnh vực nông nghiệp của Mông Cổ bao gồm hai
ngành: ngành chăn nuôi gia súc và trồng trọt. Hiện nay, tổng giá trị sản lượng
nông nghiệp từ ngành chăn nuôi gia súc 70-75% và ngành trồng trọt 25-30%
[27]. Đến năm 1990 đã có tổng số 354 đơn vị nông nghiệp (255 hợp tác xã, 73
nông trường, 26 xí nghiệp nhỏ giữa các hợp tác xã). Sau năm 1990 khi Chính
phủ Mông Cổ thực hiện một số biện pháp như tư nhân hóa sở hữu các xí nghiệp
quốc doanh, hợp tác xã, hiện có 1250 đơn vị nông nghiệp (hợp tác xã, công ty tư
nhân), giá trị sản xuất sản phẩm nông nghiệp Mông Cổ đã được tập trung tại
khoảng 200 nghìn đơn vị nông nghiệp tư nhân. Trong những 5 năm gần đây,

chiến lược của ngành công nghiệp nhà nước, đã đóng cửa và hoàn toàn dừng lại
hoạt động. Theo tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu toàn ngành công nghiệp
trong những năm gần đây (trừ năm 1998), giá trị sản phẩm của công nghiệp chế
biến giảm xuống bình quân 3,9%, trong giai đoạn 1995-2000 giảm từ 12-7,5%.
Nếu xét theo những ngành then chốt của ngành công nghiệp, giá trị sản
phẩm công nghiệp khai thác mỏ có vị trí đầu tiên và tình hình phát triển của
ngành này tương đối ổn định, nhưng vì dự trữ khoáng sản đã được phát hiện
không nhiều do vậy không thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra,
giá trị sản phẩm công nghiệp khai thác vàng tăng lên nhiều, đã có một số nhà
máy lọc đồng. Dù Luật đánh thuế giá trị gia tăng trên tiêu thụ vàng năm 1999 đã
gây ra tình hình khi nhiều nhà đầu tư giảm vốn đầu tư vào ngành này và thậm
chí rút vốn, nhưng đến thời nay, sau khi giảm tỷ lệ thuế suất khu vực khai thác
mỏ được phát triển có tiến bộ. Theo số liệu thống kê Mông Cổ, năm 1999, giá trị
sản xuất toàn khu vực công nghiệp đã suy giảm 22,3%, thấp hơn 37,2% so với
mức năm 1989. Nếu so sánh tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 1999
với năm 1989, thì tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp gỉam 37,2%, trong đó
công nghiệp dệt may 52,8%, công nghiệp chế biến da 99,2%, công nghiệp sản
16
xuất quần áo 81,3%, công nghiệp gỗ và sản phẩm gỗ 79,7%, công nghiệp luyện
kim 9,5%.
Năm 2001 đã được do Chính phủ thông báo “Năm tăng cường củng cố và
phát triển công nghiệp truyền thống”, và đã thực hành chính sách tăng cường
củng cố sản xuất công nghiệp. Kết quả là bắt đầu từ năm 2001 giá trị sản xuất
ngành công nghiệp tăng lên mỗi năm. Trong những 10 năm trước năm 2000, giá
trị sản xuất công nghiệp đã là -31,2%, so với năm 1999 vào năm 2000 giá trị sản
xuất công nghiệp đạt 2,4%, năm 2001 tăng 10%, 2002 tăng lên 14,2%, năm
2003 ước tính tăng khoảng 16,2%.
Theo số liệu của Tổng cục thống kế, trong giai đoạn 1997-2003, do
những yếu tố chủ yếu như tổng dịch vụ bán lẻ, ngành dịch vụ sửa chữa hàng tiêu
dùng gia dụng tăng lên 21,0-24,6%; vận tải kho chứa, bưu điện 7,7-13,9%; dịch

Tình hình ngành công nghiệp bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những yếu tố
chủ yếu như sau:
• Trong thời gian qua, trong việc hoạch định chính sách phát triển cơ chế
lĩnh vực và chuyển dịch cơ cấu đã có nhiều khiếm khuyết.
• Đã thực hiện một cách hấp tấp tư nhân hóa ruộng đất, những xí nghiệp
quốc gia cả về thời gian và về thời điểm.
• Những xí nghiệp quốc gia có quy mô lớn, không thể hoạt động linh hoạt
trên thị trường tự do.
• Những thị trường truyền thống nước ngoài của hàng công nghiệp Mông
Cổ đã bị bác bỏ.
• Hệ thống kế hoạch hoá tập trung nguyên liệu thô bị tan rã;
• Mức thuế nhập khẩu của hai nước LB Nga và Trung Quốc, là hai nước
đối tác buôn bán chủ yếu của Mông Cổ, có mức 40-150% đã là trở ngại
cho việc xuất khẩu những mặt hàng truyền thống Mông Cổ.
Với mục đích phục hồi và phát triển lại khu vực công nghiệp của nhà
nước, Chính phủ Mông Cổ đã đề ra những mục tiêu chính sách cải cách như sau:
 Hình thành cơ cấu dựa vào doanh nhiệp tư nhân và hướng về xuất
khẩu;
 Ngăn chặn sự chậm trễ của khu vực công nghiệp chế biến đã bị
giảm liên tục trong những năm 90;
 Khôi phục lại và phát triển các khu vực công nghiệp truyền thống,
tăng cường củng cố sức cạnh tranh quốc tế của hàng công nghiệp;
 Tăng năng suất và trình độ chế biến các xí nghiệp công nghiệp chế
biến nguyên liệu thô nông nghiệp, tích cực thúc đẩy chuyển đổi cơ
cấu theo hướng hiệu quả.
Năm 1998-2001, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp
chăn nuôi bị giảm sút từ 6,4%- (-19,0%); năng lực sản xuất các sản phẩm công
nghiệp trong giai đoạn này đã phục hồi 3,8%-16,2%, trong đó ngành công
nghiệp khai thác mỏ 4,9%-10,1%, ngành công nghiệp chế biến tăng 3,2%-
31,8%. Năm 1998 khu vực dịch vụ chiếm -0,1%, năm 2000 tăng 18,0%, năm

dêt may bị âm -36,7%. Năm 2002, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm
ngành dịch vụ 12,2%, năm 2003 tăng 7,1%, năm 2004 tăng 4,0%, sự suy thoái
này trực tiếp liên quan đến mức tăng trưởng dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ
sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng giảm từ 13,3% xuống còn 2,8%, ngành vận tải
kho chứa, bưu điện giảm 16,2%-9,0% [14.Tr.18].
Năm 2003, ngành nông nghiệp chăn nuôi, ngành công nghiệp chế biến,
dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng, ngành vận
tải kho chứa, bưu điện góp phần tích cực cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
hàng năm tăng 5,6%.
Năm 2004 ngành nông nghiệp chăn nuôi, khu vực công nghiệp, đặc biệt
ngành công nghiệp khai thác mỏ, trong đó hoạt động những công ty khai thác
19
quặng vàng; ngành vận tải kho chứa, bưu điện góp phần tích cực cho tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân hàng năm tăng10,6%. Những mặt nổi bật chủ yếu của
kinh tế–xã hội năm 2004, theo đánh giá của Bộ Tài chính do tình hình phát triển
nhiều ngành kinh tế có tiến bộ. Bắt đầu từ năm 2004, giá trị sản xuất ngành nông
nghiệp phục hồi trở lại với mức tốc độ tăng trưởng 21,3%; giá trị sản xuất công
nghiệp tiêp tục tăng đạt 28,2%, do giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ tài
nguyên thiên nhiên tăng lên (đầu năm 2005 giá trị sản xuất ngành khai thác mỏ
tăng 66,4%, công nghiệp chế biến 20,7%, công nghiệp nhiệt điện, cung cấp
nước 12,9%); tỷ trọng ngành dịch vụ giảm xuống tới 50,6% do tỷ trọng của các
ngành dịch vụ giảm xuống, trong đó thương mại bán lẻ, sửa chữa hàng tiêu dung
gia dụng, vận tải, bưu điện. Nếu vào năm 2000 tỷ trọng ngành nông nghiệp
29,1%, công nghiệp 21,9%, dịch vụ là 49,0%, thì năm 2005 tỷ trọng ngành nông
nghiệp 20,1%, công nghiệp 30,2%, dịch vụ đạt 49,7% GDP .
Hình 1.8: Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp (so với năm 1990)
16.2
14.2
10
2.4

nước trên thế giới có môi trường thu hút đầu tư thuận lợi nhất [31].
Hiện nay, lòng đất Mông Cổ có khoảng 80 loại khoáng sản: đồng, vàng,
dầu thô, phốt pho (trữ lượng phốt pho: tại tỉnh Khuvsgol có hơn 30 mỏ với trữ
lượng 4.5 triệu tấn; Zavkhan có hơn 20 mỏ với trữ lượng 1.2 triệu tấn, với tổng
số trữ lượng phốt pho Mông Cổ đứng vị trí đầu tiên tại châu Á). Theo một số
chuyên gia, Mông Cổ có khả năng mỗi năm khai thác 1-2 triệu tấn phân bón
phốt pho, và nếu khai thác và xuất khẩu đến 1 triệu tấn phân bón phốt pho, thì có
thể thu được 90-120 triệu USD, bằng 1/10 GDP Mông Cổ [57].
Bảng 1.3: Chỉ số giá trị một số sản phẩm công nghiệp khai thác tại Mông Cổ
so với công nghiệp khai thác trên thế giới (năm 2002)
Sản phẩm
Tổng số lượng
khai thác trên thế
giới
Tổng số lượng
khai thác tại
Mông Cổ
Tỷ trọng
chiếm trên
thế giới
Vị trí đứng
trên thế giới
1.
Fluorspar
4530,3 nghìn tấn 189,7 nghìn tấn 4,08% Thứ 5
2.
Đồng
13,4 triệu tấn 131,7 nghìn tấn Khoảng 1% Thứ 15-16
3.
Mô líp đen

Vàng (kg) 8000,
0
10040,
0
10146,0 11500,0 12059,0 10883,7
Fluorspar nghìn tấn 593,0 612,0 579,1 678,4 615,3 504,6
Than đá, nghìn tấn 4922,
0
5057,0 4952,0 5000,0 12059,0 10883,7
Nguồn: Tổng Cục điều hành sử dụng khoáng sản Mông Cổ [41]
Bảng 1.5: Trữ lượng khoáng sản tài nguyên thiên nhiên:
Đơn vị Số lượng
Đồng triệu tấn 8,0
Mô lip đen nghìn tấn 240,0
Quặng chì, kẽm triệu tấn 3,0
Kim loại hiếm nghìn tấn 400,0
Vàng nghìn tấn 46,7
Grafit nghìn tấn 200,0
Sắt triệu tấn 452,8
Uran nghìn tấn 50,0
Quặng fluorit triệu tấn 37,5
Thép nghìn tấn 70,0
Fluorspar tỷ tấn 2,4
Than đá tỷ tấn 10,0
Thiếc nghìn tấn 10,0
Bạc nghìn tấn 10,0
Nguồn: Tông Cục thống kê Mông Cổ
Nhiều năm qua, giá vàng trong nước luôn biến động so với giá vàng thế
giới. Trong suốt năm 2002, giá vàng trên các thị trường thế giới cũng liên tục
tăng với tốc độ cao. Tháng 12/2002, giá vàng tại Luân Đon, New York đã đạt tới

Theo kế hoạch 2006-2008 do Chính phủ Mông Cổ đã đề ra, tốc độ tăng
trưởng kinh tế Mông Cổ sẽ đạt 6-7%. Theo mục tiêu dự kiến năm 2006, thì dự
kiến tỷ trọng tăng trưởng sẽ dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp và dịch vụ, từ
đó 4-5% là tỷ trọng tăng trưởng ngành dịch vụ, 1-1,5% ngành công nghiệp, còn
lại sẽ được thành do tỷ trọng tăng trưởng nông nghiệp góp nên [8.Tr.5].
Hình 1.9: Định hướng phát triển nền kinh tế Mông Cổ
23
Tỷ trọng tăng trởng thực tế nền kinh tế Mông Cổ
10,7
6,2
4
5,6
12,3
10
11,8
6,3
6,7
6,7
5,4
4,2
4,3
5,6
0
2
4
6
8
10
12
14

1.3 Tình hình thu hút và sử dụng Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) tại Mông Cổ
1.3.1 Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc phát triển kinh tế đất nước Mông
Cổ
Mỗi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và luôn tìm kiếm các
khả năng để phát triển kinh tế của quốc gia mình. Đối với mọi quốc gia, đầu tư
luôn là tiền đề quan trọng cho tăng trưởng, phát triển. Muốn huy động được
nhiều và có hiệu quả các nguồn nội lực cũng như ngoại lực cho đầu tư phát riển,
cần phải tạo dựng được môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh, nhất là trong
bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế.
Trong hoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi mà các nước phát triển đã chiếm tỷ
lệ cao trong việc phân chia thị trường khu vực và thế giới, đang tìm cách sát
nhập, liên kết theo từng lĩnh vực, từng sản phẩm…thì việc các nước đang phát
triển tìm kiếm thị trường thế giới càng trở nên khó khăn hơn. Do vậy, phải tìm
ra được các phương thức đầu tư thương mại và phương thức hơp tác có lợi nhất
với các nước trên thế giới để tiếp thu công nghệ tiên tiến, lợi dụng sự tín nhiệm
của thị trường đối với sản phẩm của họ, rồi từng bước tích lũy vốn, kinh nghiệm
tiếp cận thị trường, phương thức quản lý hiện đại; thiết lập quan hệ với các đối
tác; thông thường cần có thời gian hàng chục năm với một chương trình và kế
hoạch phù hợp thì mới có thể nâng cao và phát triển quan hệ trên mọi lĩnh vực
và vươn ra thị trường khu vực và quốc tế với tư cách là một đối tác có đủ năng
lực cạnh tranh và giữ chân ở lại tại thị trường của một nước nào đó. Chính phủ
các nước đã đưa ra nhiều giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài như chính sách
tài trợ cho nhu cầu theo hướng khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng
nguyên liệu trong nước, du nhập kỹ thuật mới, đưa ra chính sách ưu đãi đối với
các nhà đầu tư như được tự do chuyển vốn…
Hiện nay, sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và tự do hoá thương mại và
đầu tư quốc tế trên thế giới. Bằng chứng là, hiện nay phần lớn các nước đều gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO): ví dụ, nước Mông Cổ là thành viên


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status