Thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Singapore - Pdf 14

Lời mở đầu
Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Singapore đã phát triển nhanh chóng đáng
khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong hơn 3 thập kỷ qua, kể từ khi hai nớc thiết lập
quan hệ ngoại giao vào ngày 01/08/1973. Đặc biệt sự hợp tác thơng mại giữa hai n-
ớc đã có bớc phát triển lớn, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc. Hiện nay Singapore
đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của ta và là nớc có vốn đầu t lớn
nhất vào Việt Nam.
Singapore là một nớc trong khu vực Đông Nam á, rất gần ta về mặt địa lý, cùng
là thành viên của ASEAN và có nhiều mặt giống nớc ta về văn hoá, lịch sử; đặc
biệt là cơ cấu kinh tế của hai nớc có thể bổ sung cho nhau khi tiến hành công cuộc
xây dựng đất nớc. Hai nớc có chung một xuất phát điểm nhng Singapore là nớc
phát triển trớc Việt Nam về kinh tế. Năm 1959, Singapore cũng có nền kinh tế yếu
kém thiếu vốn nh tình trạng của Việt Nam hiện nay, và Singapore đã trở thành nớc
công nghiệp mới phát triển có công nghệ tiên tiến, có tiềm năng về tài chính, có
nhiều kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh. Với chính sách kinh tế đối ngoại
theo hớng toàn cầu hoá, đa dạng hoá, đa phơng hoá và hợp tác khu vực, rất tơng
đồng với chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hoá và đa phơng hoá của Việt
Nam; chính vì thế quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc không ngừng phát triển
tốt đẹp.
Singapore là một đối tác lớn của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, do vậy việc
nghiên cứu mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc có ý nghĩa lớn về thực tiễn.
Qua nghiên cứu có thể thấy diễn biến phát triển mối quan hệ Việt Nam - Singapore,
thông qua đó chúng ta có thể thu đợc nhiều kinh nghiệm phát triển kinh tế của nớc
bạn.
Phạm vi nghiên cứu của Khoá luận này là quan hệ kinh tế thơng mại (cụ thể tập
trung vào lĩnh vực xuất nhập khẩu và đầu t) giữa hai nớc Việt Nam - Singapore từ
1995 đến nay; trên cơ sở những đánh giá về mối quan hệ đó đề xuất một số giải
pháp nhằm phát triển và củng cố quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc trong tơng
lai.
1
Dựa trên phơng pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê so sánh tài liệu và phân tích,

diện tích 24,4km
2
; Pulanubin 10,2 km
2
và đảo Sentosa 3,5 km
2
. Nằm giữa 1
o
09' đến
1
o
9' độ vĩ bắc và 103
o
36' đến 104
o
25' độ kinh đông; cách xích đạo về phía Bắc
khoảng 137 km; eo biển Johor ngăn cách Singapore với bán đảo Malaysia và eo
biển Singapore là biên giới với quần đảo Indonesia
1
.
Singapore có một vị trí địa lý lý tởng: nằm trên trục đờng vận tải biển từ á sang
Âu, Đông sang Tây, là đầu cầu, cửa ngõ ra vào của Châu á. Singapore còn là tâm
điểm nối các Châu lục á - Âu - Phi - úc và Bắc, Nam Mỹ (phía Tây Thái Bình D-
ơng). Cùng với vị trí tự nhiên lý tởng này cộng với thế mạnh của con ngời tạo ra,
Singapore đã trở thành nơi hấp dẫn nhất khu vực. Tính đến năm 1998, đã có trên
10.500 công ty nớc ngoài đầu t, liên doanh tại đây (năm 1998 vốn đầu t vào
Singapore đạt trên 8 tỷ USD); hơn 5.000 công ty thơng mại, tài chính đa quốc gia
có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại đây; trên 150 cơ quan đầu não, trụ sở
của các tổ chức quốc tế đặt văn phòng tại đây. Singapore là một trong những trung
tâm lọc dầu lớn nhất thế giới với sự có mặt của hầu hết các hãng dầu khổng lồ BP,

phát hiện ra thì Singapore chỉ có khoảng 150 ngời dân sống rải rác dọc bờ sông.
Tính đến tháng 6/2001, dân số đã là 3.319.000 (bao gồm c dân và những ngời c trú
lâu dài). Trong đó cộng đồng ngời Hoa chiếm 76,7%; ngời Malaysia chiếm 13,9%
và ngời ấn Độ chiếm 7,9%; còn lại 1,5% là ngời Châu Âu, ngời A rập và các tộc
2
Báo cáo thị trờng Singapore, Vụ Châu á Thái bình dơng - Bộ Thơng mại
3
Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/
3
4
ngời khác. Cơ cấu dân c của Singapore đã có biến đổi đáng kể do ảnh hởng của
những biến cố trong lịch sử phát triển. Năm 1824 với số dân 10.683; ngời Malaysia
chiếm 60%; ngời Trung Hoa chiếm 31%. Sự thống trị của ngời Anh đối với
Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông đã tạo điều kiện cho ngời nhập c Trung Quốc
làm thay đổi cơ cấu dân c của nớc này
4
.
Tỷ lệ nam nữ trong cơ cấu dân c của Singapore hiện nay xấp xỉ bằng nhau và
ngày càng có xu hớng cân bằng. Năm 1995 tỷ lệ nam/ nữ là 1,013 đến năm 1999
con số này là 1,006 (theo Uỷ ban Thống kê của Singapore), cùng với sự phát triển
của dân số (trung bình khoảng 1,9%/năm thời kì 1995-2000) mật độ dân số của
Singapore hiện nay là 5.900ngời/km
2
. Tuổi thọ của ngời dân Singapore ở mức cao
trên thế giới; năm 1999 tuổi thọ của nam công dân Singapore là 75,6 năm và 79,6
năm đối với nữ
5
.
2.2. Đặc điểm ngôn ngữ và tôn giáo
Ngôn ngữ chính của Singapore là tiếng Malaysia, tiếng Trung Quốc phổ thông,

Quốc hội.
Quốc hội (Nghị viện) Singapore với nhiệm kỳ 5 năm đợc bầu ra từ 2 loại đơn vị
bầu cử: đơn vị loại thành viên và đơn vị loại đại diện (GRC
s
: Group Representation
Constituencies). Những ứng cử viên thuộc các đơn vị bầu cử loại đại diện (GRC
s
) là
ngời gốc Malay, gốc ấn Độ hoặc nhóm các dân tộc thiểu số khác nhằm đảm bảo
nghị viện phản ánh đợc tính chất đa chủng tộc của xã hội Singapore. Cuộc bầu cử
lần thứ 9 tổ chức vào 02/01/1997 đã bầu ra 83 thành viên trong đó 81 thành viên là
ngời của Đảng Nhân dân Hành động PAP (People's

Action Party); 1 thành viên của
Đảng Nhân dân Singapore (Singapore People's Party) và ngời còn lại của Đảng
Công nhân (Workers' Party).
Từ năm 1992, hiến pháp Singapore mới bổ sung yêu cầu về chức vụ tổng thống.
Tổng thống đợc bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kì 6 năm, tổng thống có
quyền cao hơn cả thủ tớng, chẳng hạn tổ chức các cuộc điều tra tham nhũng đối với
chính thủ tớng và các bộ trởng... Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên đợc tổ chức vào
28/08/1993. Ông Ong Teng Cheong đã đợc bầu. Ngày 18/8/1999, ông S.R Nathan
đã thắng cử trong lần bầu cử tổng thống thứ 2 của cộng hoà Singapore; cùng điều
hành đất nớc với chính phủ của thủ tớng Goh Chok Tong và đảng cầm quyền PAP
7
.
7
Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/
6
Đảng nhân dân hành động PAP cầm quyền từ trên 30 năm nay và vẫn tiếp tục
giữ vị trí thống trị. Lãnh tụ trớc đây của PAP là ông Lý Quang Diệu, thủ tớng đầu

thực hiện những chính sách quản lý kinh tế Singapore đã đạt đợc nhiều thành tựu kì
diệu gây không ít ngạc nhiên đối với thế giới. Từ một nền kinh tế mà thu nhập chủ
yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu, chỉ trong một thời gian ngắn, quốc gia nhỏ bé
này đã vơn lên thành một nớc có nền công nghiệp chế biến - chế tạo hiện đại cùng
với một hệ thống dịch vụ thơng mại tài chính và du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh
vào bậc nhất trên thế giới. Sự thành công về kinh tế đã mở đờng cho Singapore bớc
vào danh sách các nớc thành viên của NIEs châu á vào đầu thập niên 80 và là quốc
gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam á đợc OECD xếp vào hàng ngũ các nớc phát
triển (năm 1996). Singapore vẫn đang làm việc cật lực, hoạch định và ứng biến
nhằm củng cố địa vị là một quốc gia có khả năng liên kết mậu dịch, đầu t với các n-
ớc công nghiệp hàng đầu, và là một trung tâm phân phối hàng hoá, dịch vụ, thông
tin thành công trong khu vực và trên thế giới.
1.1. Singapore - trung tâm lọc dầu
Cuối thập niên 70, ngành công nghiệp dầu đã phát triển thành công công nghiệp
hoá dầu. Từ chỗ chỉ là kho chứa, trạm buôn bán và trung chuyển xăng dầu, vào thập
niên 90, với tổng năng suất tinh chế 1,2 triệu thùng mỗi ngày, Singapore đã trở
thành trung tâm tinh chế dầu đứng thứ 3 trên thế giới sau Houston và Rotterdam,
trung tâm thơng mại dầu đứng thứ 3 trên thế giới sau New York và London, và là
thị trờng nhiên liệu xăng dầu lớn một về số lợng trên thế giới. Từ năm 1993, tại hòn
đảo bé này có tới 18 nhà máy lọc dầu với sự có mặt của hầu hết các hãng dầu
khổng lồ BP, ESO, Shell, Caltex, Mobil, British Petroleum... với công suất lọc dầu
trên một triệu thùng một ngày.
Trong thập kỉ 70, ngành công nghiệp lọc dầu Singapore rất phát đạt nhng từ giữa
những năm 80 hoạt động của ngành này có giảm sút. Từ chỗ chiếm 20% - 25%
tổng giá trị xuất khẩu giảm xuống còn tơng ứng là 15% - 16% vào năm 1989.
Nguyên nhân là do tính thiếu ổn định của thị trờng xăng dầu thế giới và do các nớc
láng giềng nh Malaysia và Indonesia cũng xây dựng cơ sở để cạnh tranh. Tuy nhiên
từ năm 1993 trở lại đây, ngành lọc dầu của Singapore đang dần dần lấy lại phong
độ và đang có chiều hớng phát triển tốt.
8

9
. Kim ngạch xuất khẩu điện tử của Singapore
chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Từ thập kỷ 90, sản lợng công nghiệp điện tử
của Singapore là 5,2% tỷ trọng của cả thế giới và tỷ trọng đó hầu nh không thay đổi
trong những năm gần đây
10
.
Hiện nay trớc xu hớng phát triển kinh tế tri thức của nền kinh tế thế giới, với
những lợi thế về khoa hoc kĩ thuật, Singapore đã tỏ ra rất năng động trong việc chú
trọng đầu t phát triển các ngành công nghệ cao. Singapore đã chuyển dần cơ cấu từ
9
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng số1 (31) T2/2002
10
Korea Focus số 7/8/2000
9
các dây chuyền chế tạo đòi hỏi tay nghề thấp sang các quá trình sản xuất tiên tiến
gồm cả R&D (nghiên cứu phát triển) và chế tạo trọn gói hàng điện tử. Vừa qua
công ty máy tính khổng lồ Hewlett-Packark của Mỹ, một trong những nhà đầu t n-
ớc ngoài đầu tiên của Singapore (từ năm 1968), đã khai trơng một nhà máy sản xuất
lát bán dẫn trị giá 100 triệu USD. Đây là nhà sản xuất lát bán dẫn thứ hai của
Hewlett-Packark tại Singapore, sẽ sản xuất lát bán dẫn silicon đợc sử dụng trong
ngành phun mực của máy in vi tính. Nhà máy này sẽ mang lại 2 tỷ S$ (1,1 tỷ USD)
cho Singapore vào năm 2004. Tháng 4/2000, nhà máy sản xuất Lycra, một loại
nguyên liệu hoá học tổng hợp cao cấp dùng trong nhiều ngành chế tạo của tập đoàn
Dupont (Mỹ) đã đợc khai trơng tại Singapore
11
.
1.3. Singapore - trung tâm dịch vụ thơng mại thế giới
Với vị trí cực kỳ xung yếu trên tuyến đờng biển từ đông sang tây, Singapore
ngay từ thời còn thuộc quyền cai trị của thực dân Anh đã sớm đợc xem là trạm

cũng chiếm 62% kim ngạch nhập khẩu, đạt 122,6 tỷ S$. Một khối lợng lớn các sản
phẩm từ Malaysia, Indonesia và các nớc trong khu vực (chủ yếu là: gạo, cà phê, cao
su, hạt tiêu, hải sản, thủ công mỹ nghệ) vận chuyển quá cảnh qua các kho cảng của
Singapore trớc khi gửi đi các thị trờng Âu, Mỹ hay Trung Quốc. Thêm vào đó là
một số hàng công nghiệp từ Châu Âu, vải lụa từ ấn Độ, Trung Quốc đợc Singapore
nhập vào rồi lại xuất khẩu đi khắp Châu á
13
.
Với những hoạt động xuất khẩu nh "chiếc bàn quay" giữa phơng Tây và phơng
Đông, đặc biệt với các bạn hàng lớn nh Mỹ, Nhật, EU, Malaysia, Đài loan...
Singapore liên tục đợc xếp trong 10 nớc đứng đầu thế giới về tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu trong những năm gần đây.
1.4. Singapore - trung tâm dịch vụ hàng hải, cảng biển quốc tế
Nằm ở cuối cực Nam của eo biển Malacca nên Singapore đã trở thành điểm án
ngữ chiến lợc trên con đờng buôn bán bằng đờng bằng đờng biển giữa ấn Độ Dơng
và Thái Bình Dơng; giữa Đông Nam á hải đảo và Đông Nam á lục địa. Tận dụng
lợi thế này, cơ quan cảng Singapore (PSA) thành lập năm 1964 đã biến đổi cảng
Singapore thành một trong những cảng tốt nhất thế giới. Từ chỗ chỉ có vài ba cảng
nhỏ với đội tầu biển vài chục chiếc, đến năm 1998, đội tầu buôn của Singapore đã
lên đến 3.412 chiếc, tổng trọng tải là 22.025 triệu tấn (GT); trong đó gần 5 triệu tấn
là chuyên dùng chở dầu. Cảng Singapore là một trong ba cảng lớn nhất thế giới về
năng lực thông qua và lớn thứ ba thế giới về bốc rót dầu, với 26 cầu cảng container
13
Tài liệu đã dẫn
11
bốc xếp đợc 50 triệu TEU vào năm 2000. Ngoài ra cảng Singapore còn cung cấp
hàng loạt dịch vụ hàng hải nh: hoa tiêu, tầu kéo, cung ứng nhiên liệu, kiểm tra miễn
phí ga và nớc, lu kho, cung cấp vật dụng cần thiết cho tầu. Toàn bộ hệ thống cảng
biển của Singapore hiện nay đã đợc tự động hoá trong bốc dỡ hàng hoá cũng với
một hệ thống đa hàng bằng điện toán điều khiển từ xa. Điều này giúp cảng có thể

đồng thời làm cho ngành hàng không dân dụng nớc này trở thành một trong những
14
Tổng quan thị trờng Singapore, Vụ Châu á Thái bình dơng, Bộ Thơng mại
15
Tổng quan thị trờng Singapore - Vụ Châu á Thái bình dơng - Bộ Thơng mại
12
ngành kinh tế mũi nhọn, làm ăn có hiệu quả và có sức cạnh tranh tốt nhất trên thế
giới. Với một diện tích nhỏ hẹp khoảng 647,5 km
2
, Singapore có tới 4 sân bay lớn
nhỏ trong đó có Changi Air Port là niềm tự hào của ngời dân Singapore. Sân bay
Changi khi mở cửa vào tháng 7 năm 1981 là sân bay lớn nhất châu á; nó đã giúp
Singapore trở thành sân bay trung tâm của khu vực. Từ Changi Airport có 65 hãng
hàng không hoạt động trên 151 tuyến bay nối với 51 quốc gia/ khu vực; thực hiện
gần 90.000 chuyến bay mỗi năm (số liệu đến năm 1998)
16
. Ngoài Changi Airport,
phi trờng Seletar cũng khá nổi tiếng với các dịch vụ thuê phi cơ và các hoạt động
hàng không tổng quát.
Một trong những thành tích nổi bật của ngành hàng không Singapore là sự vơn
lên của hãng hàng không Singapore SIA (Singapore Air Lines). Đợc thành lập vào
ngày 01/10/1972 với khẩu hiệu hành động "Khách hàng trớc tiên, chất lợng trớc
tiên", SIA đã trở thành một trong những tập đoàn hàng không có chất lợng phục vụ
tốt nhất và có lãi nhiều nhất trên thế giới. Tháng 5/1989, SIA là hãng hàng không
đầu tiên trên thế giới có các chuyến bay thơng mại bằng máy bay Boeing 747 bay
thẳng từ Singapore đến London mà không phải dừng lại ở bất cứ nơi nào thuộc châu
á hoặc châu Âu. Đến năm 1996, SIA đã có một trong những phi đội Boeing và
Airbus lớn nhất và hiện đại nhất châu á, đã bay đến hầu hết các lục địa. Do phong
cách phục vụ lịch thiệp, chu đáo, chính xác, an toàn và giá vé rẻ nên tháng 2/1994
SIA đã đợc nhận "Giải thởng 20 năm phục vụ hoàn hảo" của Tạp chí Hàng không

"Một trung tâm thơng mại điện tử toàn cầu đáng tin cậy". Đầu năm 2000, Singapore
đã thông báo những sáng kiến về Inforcomm 21 trong đó chú trọng đến thị trờng
viễn thông tạo điều kiện để mọi ngời dân Singapore đợc sử dụng mạng Internet.
Chính phủ đã khuyến khích và giúp đỡ các doanh nghiệp, ngời dân đẩy mạnh kết
nối sử dụng Internet vào kinh doanh; và đã chi 30 triệu đô la Singapore cho mục
đích này
19
.
Chính nhờ có hệ thống dịch vụ viễn thông hiện đại và giá cớc rẻ nên nhiều công
ty thế giới đã chọn Singapore làm trụ sở của họ để thiết lập các đầu mối thông tin
và dữ liệu cho hoạt động kinh doanh ở khu vực châu á Thái Bình Dơng. Singapore
dự tính đến năm 2020 trở thành một đất nớc hoàn toàn vi tính hoá với một kế hoạch
đầy tham vọng thông minh hóa xã hội. Từ năm 1989, Singapore đã xây dựng và vận
hành hiệu quả hệ thống điện tử Tradenet để làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá.
Thực chất đây là một mạng máy tính nối liền giữa các cơ quan quản lý thủ tục nhà
nớc về xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp và đợc nối mạng với một số nớc khác,
cho phép các công ty hoàn tất toàn bộ thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu qua
18
Tài liệu đã dẫn
19
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng, số 1(30) T2/2001
14
mạng trong vòng 30 phút. Nhờ vậy, một container đi qua cổng cảng của Singapore
chỉ tốn vẻn vẹn 45 giây. Mỗi năm mạng Tradenet này tiết kiệm cho Singapore
khoảng 1 tỷ S$ chi phí thủ tục hành chính và những lợi ích không thể đo lờng khác
liên quan đến cung cấp thông tin thơng mại giữa các đối tác tham gia trong mạng
này.
Hiện nay các nớc công nghiệp tiên tiến đang tích cực thực hiện "xa lộ thông tin",
vì hầu hết đều cho rằng nớc nào giành đợc vị trí hàng đầu trong cuộc cạnh tranh
này thì nớc đó sẽ trở thành "siêu cờng quốc". Singapore cũng nhận thức rõ tầm

hàng lớn nhất thế giới. Ngoài ra còn có 3 ngân hàng lớn là Overseas - Chinese
Banking Corporation (Tập đoàn Ngân hàng Hoa kiều); United Overseas Bank
(Ngân hàng Liên hiệp Nớc ngoài) và Overseas Union Bank (Ngân hàng Liên hợp
Hải ngoại) là những ngân hàng nội địa lớn do Singapore quản lý.
Trong lĩnh vực quản lý tài chính, đờng lối thận trọng đã giúp Singapore khắc
phục đợc khủng hoảng tài chính Đông á 1997-1998; tuy nhiên trớc tình hình mới
của kinh tế thế giới, ngành ngân hàng Singapore cần phải cải cách và tự do hoá hơn
nữa. Ngày 7/12/2001 Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) đã cấp giấy phép chính thức
cho hai tập đoàn ngân hàng nớc ngoài là Ngân hàng Hongkong và Thợng hải, Ngân
hàng May Bank của Malaysia đợc hoạt động ở Singapore từ 01/01/2002. Đây là ví
dụ nằm trong chơng trình tự do hoá ngành tài chính đợc áp dụng từ năm 1999.
Những bổ sung mới này đã nâng số lợng các ngân hàng đạt tiêu chuẩn ở Singapore
lên tới 6 ngân hàng. Tiếp đó là các ngân hàng của Mỹ, Hà Lan, Anh và Pháp cũng
lần lợt đợc cấp giấy phép. Tháng 10/2001 Singapore đã ký hiệp ớc kinh tế Nhật Bản
- Singapore mở ra một mối quan hệ đối tác trong kỷ nguyên mới nhằm giám sát
những trung tâm chứng khoán và nguồn vốn phát sinh từ chứng khoán - Phó Thủ t-
ớng Lý Hiển Long trong bài phát biểu trớc các chủ ngân hàng đầu t ở Singapore
cho biết. Sang năm 2002, Singapore sẽ thực hiện chính sách cấp phép hoạt động
cho các Website, về tài chính trên mạng Internet, cung cấp dịch vụ t vấn về đầu t và
kinh doanh chứng khoán nhằm ngăn chặn các nhà quản lý không đáng tin cậy lừa
gạt các nhà đầu t. Những quy định mới này sẽ đợc đa vào luật t vấn tài chính và luật
chứng khoán của Singapore trong năm 2002. Tất cả những chính sách trên thể hiện
nỗ lực của chính phủ Singapore nhằm duy trì và phát triển một trung tâm tài chính
ngân hàng quốc tế lớn của thế giới
22
.
21
Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng, Lịch sử Singapore 1965 - 2000, NXB trẻ T6/2001
22
Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dơng, số 2 (37) T2/2002

Tổng quan thị trờng Singapore, Vụ Châu á Thái bình dơng , Bộ Thơng mại
17
hối và thơng mại, hệ thống thuế, tài chính, thi trờng lao động và hạ tầng cơ sở -
Economic Intelligence Unit - EIU)
5. Chuẩn hoá chế độ quản lý doanh nghiệp Nhất châu á (tiêu chuẩn xếp
hạng: chất lợng quản lý tại các doanh nghiệp - Price Waterhouse)
6. Hồi vốn FDI thứ Nhì khu vực châu á thái bình dơng (các chỉ số:
vốn cổ phần, thu nhập từ tái đầu t, vay vốn liên công ty - UNCTAD)
7. Hệ thống bảo vệ pháp luật (toà án, cảnh sát) Nhất 11 nớc châu á +
Hoa kỳ (các chỉ số xếp hạng: giải quyết các vụ án nhanh, an ninh công cộng và
mức tội phạm thấp - Political and Economic Risk Consultancy - PERC)
8. Tình trạng tham nhũng ít Nhất châu á (các chỉ số xếp hạng: hệ thống luật
pháp, trình độ chuyên môn của các cơ quan bảo vệ luật pháp - PERC)
9. Khu công nghiệp kỹ thuật cao Trong số 10 quốc gia hàng đầu
thế giới (các chỉ số xếp loại: số lợng các viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, tài
năng công nghệ cao, vốn đầu t, hạ tầng cơ sở - Newsweek)
10. Chất lợng mức sống Thứ 4 trong 40 thành phố lớn châu á (các
chỉ số: 24 chỉ số gồm giáo dục, vận tải công cộng, nhà ở, điều kiện vệ sinh, chăm
sóc sức khoẻ - Newsweek)
Bảng 1.2: Tốc độ tăng trởng kinh tế của Singapore
Năm 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001 2002 2003
Tốc độ (%) 8,3 6,7 5,8 9,9 7,0 6,8 6,6 7,3 0,4 6,9 10,3 -2,0 3,7 6,5
* Nguồn: 90-95: Bộ Kế hoạch Đầu t
96-98: ASIA WEEK.1/1999
99-2003: ASIAN Development Outlook 2002, ADB, 4/2002
Có đợc thành công trên là nhờ vào những định hớng, chính sách phát triển kinh
tế hết sức hợp lý của chính phủ Singapore. Ngay khi mới giành đợc độc lập,
Singapore đã nhận thức đợc đầy đủ những khó khăn về tình trạng đất chật, ngời
đông, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và hiểu rằng nếu không dựa vào bên ngoài,
không "mở cửa" kinh tế thực hiện hội nhập, khó có thể đa đất nớc thoát nhanh ra

công nghệ kỹ thuật cao, trung tâm tài chính và là nhà đầu t lớn nhất trong khu vực.
19
Bên cạnh những lợi ích, những thành tựu rất lớn thì quá trình hội nhập kinh tế
của Singapore cũng còn có những hạn chế nhất định. Nền kinh tế Singapore nói
chung, lĩnh vực công nghiệp nói riêng còn bị nớc ngoài chi phối trên nhiều phơng
diện, đặc biệt về nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật và về thị trờng tiêu thụ sản phẩm
và cung cấp nguyên liệu. Đầu những năm 90 t bản nớc ngoài kiểm soát ít nhất là
75% tổng số vốn đầu t vào ngành công nghệ chế biến - chế tạo, đóng góp khoảng
65% tổng giá trị công nghiệp và 85% giá trị hàng xuất khẩu trực tiếp, cung cấp việc
làm cho khoảng 60% lực lợng lao động công nghiệp Singapore. Vốn đầu t nớc
ngoài chiếm u thế hơn hẳn ngời địa phơng kể cả ở các ngành công nghiệp sử dụng
nhiều lao động cũng nh ở các ngành sử dụng nhiều vốn. Trong 5 ngành công
nghiệp then chốt có đóng góp nhiều nhất vào tổng thu nhập nội địa thì phần sở hữu
của nớc ngoài trong ngành điện tử - bán dẫn chiếm tỷ lệ là 87%, trong ngành lọc
dầu: 84%, ngành chế tạo máy: 55%, ngành luyện thép: 43%, ngành sản xuất các
thiết bị vận tải: 22%
24
.
Singspore còn phụ thuộc sâu sắc vào thị trờng cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ
sản phẩm của quốc tế, trớc hết là thị trờng các nớc t bản chủ nghĩa phát triển, đặc
biệt là Mỹ và Nhật bản. Từ những năm 80 trở lại đây, Mỹ là bạn hàng buôn bán số
một của Singapore. Bình quân hàng năm thị trờng Mỹ tiêu thụ từ 18% đến 21%
hàng xuất khẩu của Singapore và chiếm từ 14% đến 17% hàng nhập khẩu của nớc
này. Nhật bản là bạn hàng lớn thứ hai nhng là nớc cung cấp nhiều nhất hàng nhập
khẩu cho Singapore. Malaysia là bạn hàng truyền thống đứng vị trí thứ ba trong
buôn bán xuất nhập khẩu của Singapore; trong những năm gần đây kim ngạch xuất
nhập khẩu hàng năm giữa hai nớc chiếm tới 14% tổng giá trị ngoại thơng của
Singapore.
25


Singapore và các nớc trong vùng cùng có chung cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, trong
khi đó các nớc khác trong khu vực có giá công lao động rẻ hơn; điều này sẽ làm
cho giá thành sản phẩm của Singapore cao hơn, ảnh hởng lớn đến xuất khẩu.
Singapore cũng nh các nớc trong vùng đều đang thi hành chính sách kinh tế hớng
ngoại nhằm thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài để hỗ trợ nền kinh tế trong nớc
phát triển. Các nớc láng giềng đang cạnh tranh gay gắt về vấn đề này thông qua
hàng loạt các u đãi về chính sách đầu t. Singapore có nhiều hạn chế về nguồn tài
nguyên cũng nh lực lợng lao động, kém hơn về lợi thế so sánh với các quốc gia
trong khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt), có nguồn
lao động rẻ, dồi dào.
Những yếu tố trên đây đã tạo ra những thách thức mới đối với sự phát triển lâu
dài và liên tục của Singapore, đòi hỏi chính phủ phải có những biện pháp và chính
sách phù hợp để đáp ứng.
26
The Economist 07/03/1998
21
III. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của Singapore đối
với Việt Nam
Là hai nớc cùng nằm trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam và Singapore có
những quan hệ truyền thống từ lâu đời. Tuy nhiên, do tác động của những nhân tố
lịch sử, chính trị bên trong và bên ngoài khu vực; quan hệ giữa hai nớc trải qua
những bớc thăng trầm đầy biến động. Sau khi ''chiến tranh lạnh" kết thúc, đặc biệt
là sau Hiệp định Paris về Campuchia đợc ký tháng 10/1991, quan hệ Việt Nam -
Singapore bớc sang một thời kỳ phát triển mới. Năm 1995, Singapore đã khẳng
định sự ủng hộ hoàn toàn đối với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của
ASEAN. Sự kiện này càng thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Singapore trên cơ sở hợp
tác đa phơng và song phơng trong ASEAN. Singapore đã nhanh chóng trở thành đối
tác hàng đầu về thơng mại và đầu t trực tiếp vào Việt Nam. Có đợc sự phát triển này
trớc hết là do những cố gắng nỗ lực từ hai phía Việt Nam và Singapore. Đối với
Việt Nam, Việt Nam nhìn thấy ở Singapore một nớc nhỏ trong khu vực có xuất phát

Hơn nữa, quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam và Singapore diễn ra trong hai
giai đoạn khác hẳn nhau của nền kinh tế thế giới với những khó khăn và thuận lợi
riêng. Do đó, việc hoạch định chiến lợc phát triển và những bớc đi cụ thể cũng
không thể là một sự sao chép. Tuy vậy, Singapore là một hình mẫu lý tởng về phát
triển kinh tế cho những quốc gia ở thế giới thứ ba nh Việt Nam; với mục tiêu tạo
dựng một môi trờng thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc
của Việt Nam, những kinh nghiệm của Singapore vẫn là những bài học đáng giá
của ngời đi trớc.
2. Bài học kinh nghiệm
2.1. Sớm "mở cửa" nền kinh tế, chủ động thực hiện hội nhập
Sau khi giành độc lập, do ý thức đợc một cách rõ ràng tình trạng đất chật ngời
đông, tài nguyên thiên nhiên - tiềm năng vật chất để phát triển kinh tế nghèo nàn
nên Singapore đã thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu để đi lên
và phát triển. Báo cáo của Uỷ ban Kinh tế Singapore trong những năm 1980 đã xác
23
định nền kinh tế Singapore gắn liền với ngoại thơng, đặc biệt là đầu t nớc ngoài.
Xuất phát từ một nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp, Singapore cần một lợng vốn
rất lớn để đổi mới cơ cấu và hiện đại hoá nền kinh tế. Vì vậy, ngay từ đầu họ đã rất
chú trọng đến nguồn vốn bên ngoài, cụ thể là nguồn vốn đầu t trực tiếp. Singapore
cho phép các nhà đầu t quốc tế đầu t qua rất nhiều hình thức trong đó hình thức liên
doanh đợc chú ý nhiều hơn để tạo nền tảng cho nền công nghiệp quốc gia. Về đối
tác đầu t, Singapore chủ trơng không phân biệt để tận dụng khả năng về vốn từ
nhiều nguồn khác nhau; trong đó quan tâm nhiều hơn đến các đối tác có "công
nghệ nguồn" (công nghệ cao) là Mỹ, Nhật bản...
Vấn đề hớng đầu t cũng đợc xác định rõ trong các thời kỳ: ban đầu do cơ sở kinh
tế ở điểm xuất phát thấp, Singapore chủ trơng thu hút FDI vào phát triển những
ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và nhanh tạo ra sản phẩm xuất khẩu nh
dệt may, lắp ráp thiết bị điện...; cùng với sự phát triển nh vũ bão của công nghiệp
điện tử và các ngành kỹ thuật cao, hớng thu hút đầu t tập trung vào những ngành
nh sản xuất hàng điện tử, máy vi tính, lọc dầu... Nhà nớc có chính sách u tiên cho

hiện chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, chính sách thị trờng là một bộ
phận đáng chú ý của chính sách kinh tế của Singapore.
Chủ trơng chung là giữ vững thị trờng và tận dụng mọi cơ hội để mở rộng thị tr-
ờng; và để làm đợc điều đó cần kết hợp sự trợ giúp, nâng đỡ của chính phủ với nâng
cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ Singapore. Trong chiến lợc thị tr-
ờng, Singapore đặc biệt chú ý việc đa dạng hoá thị trờng cùng với phát triển những
thị trờng quan trọng có u thế về địa lý, dung lợng nh ASEAN, Mỹ, EU...
Do điều kiện tự nhiên, Singapore phải nhập khẩu hầu hết các nguyên nhiên liệu
phục vụ cho đời sống và sản xuất (kể cả nớc ngọt phải nhập từ Malaysia); chính
phủ luôn chủ trơng tự do hoá thơng mại, mở cửa thị trờng. Điều này thể hiện ở
chính sách bạn hàng của Singapore là mở rộng hết thảy các mối quan hệ. Singapore
có quan hệ ngoại giao với 152 quốc gia, tổ chức quốc tế, có chân trong các tổ chức
quốc tế lớn UN, APEC, ASEAN, WTO, NAM... và đã ký Hiệp định Đảm bảo đầu t
với 22 nớc và Tránh đánh Thuế hai lần với 38 nớc/ khu vực/ lãnh thổ. Nh vậy
25

Trích đoạn Chính sách cạnh tranh Vị trí của kinh tế Singapore trong quan hệ với Việt Nam Cơ cấu xuất khẩu Kim ngạch nhập khẩu Cơ cấu nhập khẩu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status