LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ sau đổi mới kinh tế đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn quan
tâm đến việc mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với các quốc gia, các khu
vực trên thế giới khi xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang trở thành xu
thế tất yếu của thời đại. So với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,
quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc phát triển nhanh hơn và trên nhiều lĩnh
vực khác nhau do có được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ hai
nước. Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm
1992 đến nay, trải qua hơn một thập kỷ phát triển, mối quan hệ kinh tế
giữa hai nước đã có những bước phát triển đáng tự hào, Hàn Quốc hiện
đang đứng thứ 5 trong tổng số trên 100 nước có quan hệ buôn bán với
Việt Nam và là nước đầu tư lớn thứ nhất vào Việt Nam.Nhưng bên cạnh
đó vẫn còn nhiều tồn tại trong quan hệ kinh tế giữa hai nước hiện nay đó
là sự mất cân đối quá lớn trong cán cân thương mại giữa hai nước, Việt
Nam luôn bị nhập siêu và mức nhập siêu có xu hướng ngày càng tăng.
Mặt khác, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài khá lớn từ Hàn Quốc, mà lĩnh vực đầu tư chủ yếu là: nhà ở, xây
dựng khu đô thị, khách sạn, chung cư. Trong khi đó, lĩnh vực sản xuất
công nghệ cao còn chiếm tỷ tọng nhỏ trong cơ cấu đầu tư, hơn nữa
lượng vốn đầu tư còn chưa tương xứng với tiềm năng và mối quan hệ
giữa hai nước, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO.
Xuất phát từ đòi hỏi trên, nhóm tác giả đã bắt tay vào nghiên cứu
đề tài “ Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam- Hàn Quốc, thực trạng,
triển vọng và giải pháp” với hi vọng góp một phần nhỏ bé vào việc thúc
đẩy mối quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày càng trở nên phát triển hơn,
đặc biệt sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO.
1
Mục tiêu của đề tài là: Đi sâu vào phân tích thực trạng mối quan
hệ kinh tế thương mại giữa hai nước Việt Nam- Hàn Quốc, những khó
khăn còn tồn tại, triển vọng phát triển mối quan hệ từ đó đề ra giải pháp
Danh mục các biểu đồ
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc
giai đoạn 1983-1992
34
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Hàn Quốc
Giai đoạn 1993-2006
37
Bảng 2.3: Kim ngạch Xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc giai
đoạn 1993-2006
39
Bảng 2.4: Mười thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
41
Bảng 2.5 : Hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hàn Quốc
42
Bảng 2.6 : Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc giai đoạn
1993-2006
44
Bảng 2.7: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hàn Quốc
46
Bảng 2.8 : Top mười đối tác có tổng vốn đầu tư cao nhất 55
Bảng 2.9 : Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc tại
Việt Nam( 1991-2006)
56
Bảng 2.10:Một số dự án đầu tư lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam trước
đây
58
Bảng 2.11: Một số dự án hàng đầu của Hàn Quốc tại Việt Nam hiệnnay
60
Bảng 2.12: Đầu tư FDI của Hàn Quốc vào các địa phương trong cả nước
2006
NGHĨA CỦA TỪ
NGHĨA TIẾNG ANH NGHĨA TIẾNG VIỆT
ASEAN
Association of Southeast Asia
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
DOC Department commerce Bộ thương mại Hàn Quốc
DSM Dispute Settlement Measures Cơ chế giải quyết tranh chấp
EP Export price Giá xuất khẩu
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ITC
International Trade
Committee
Ủy ban Thương mại Quốc tế
MOT Ministry Of Trade Bộ Thương mại Việt Nam
UN United Nations Liên Hợp Quốc
USD United States Dollar Đô la Mỹ
VIETRADE Viet Nam Trade Promote
Cơ quan Xúc tiến Thương mại
Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
WB World Bank Ngân hàng thế giới
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
KOTRA
Korea Trade- Investment
Promotion Agency
Phòng xúc tiến thương mại và đầu tư
các quốc gia khu vực và thế giới nói chung. Mặt khác, tự do hóa thương mại
cũng đang trở thành xu hướng tất yếu, được xem là nhân tố quan trọng thúc
đẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng
cao mức sống của mọi quốc gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế
giới theo định hướng phát triển của mình đều điều chỉnh các chính sách theo
7
hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện
cho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hóa tiêu dùng giữa các quốc gia
ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn. Không ngừng đẩy mạnh trao đổi
hàng hóa và dịch vụ, mở rộng sự phân công và hợp tác quốc tế trên các lĩnh
vực kinh tế, khoa học kỹ thuật... là một nhu cầu không thể thiếu được của đời
sống kinh tế và là một tất yếu khách quan của thời đại, dù đó là nước lớn hay
nhỏ, nước công nghiệp phát triển hay kém phát triển, nước tư bản chủ nghĩa
hay xã hội chủ nghĩa.
Mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập để phát triển, trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệ trong và ngoài khu vực. Về lâu
dài cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn đề của quốc gia đều phải tính
đến và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu để đảm bảo được lợi ích phát
triển tối ưu của quốc gia. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài quá trình này.
Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia dù giàu có hoặc phát triển đến đâu cũng
không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của chính mình. Trình độ
phát triển càng cao càng phụ thuộc với mức độ nhiều hơn vào thị trường thế
giới. Đó là một vấn đề có tính quy luật. Những quốc gia chậm trễ trong hội
nhập kinh tế quốc tế thường phải trả giá bằng chính sự tụt hậu của mình, ngược
lại những nước vội vã không phát huy nội lực, không chủ động hội nhập cũng
đã bị trả giá. Bởi vậy, để hội nhập có hiệu quả, cần phải có quan điểm nhận
thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sách thích hợp, tận dụng tốt cơ hội,
không bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi ro trong quá trình tiến lên của
mình.
1.1.2. Khái niệm
chính phủ, nhằm lợi dụng sức mạnh của thời đại để tăng cường sức mạnh dân
tộc mình. Hội nhập quốc tế trước kia cũng như hiện nay cùng có mục đích
giống nhau là lợi dụng đến mức tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng cường sức
mạnh dân tộc. Hội nhập quốc tế ngày nay với toàn cầu hoá tuy là hai quá trình
khác nhau vì hội nhập quốc tế là hành động chủ quan còn toàn cầu hoá là hiện
tượng khách quan nhưng chúng có mối quan hệ thân thiết và phụ thuộc lẫn
9
nhau. Do vậy, khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có những
bước đi cụ thể được tính toán cẩn thận, phải xây dựng lộ trình hội nhập phù
hợp với khả năng và lợi ích của dân tộc. Hội nhập giúp chúng ta tìm được chỗ
thích hợp nhất trong con tàu toàn cầu hoá, nhưng mặt khác toàn cầu hoá lại chỉ
là con tàu chỉ chạy một chiều và không đậu lại ở một bến nào cả, nên muốn
không bị nhỡ hoặc bị văng va khỏi con tàu này, tức là tụt hậu thì quá trình hội
nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cũng phải khẩn trương và
có những quyết định mạnh dạn.
Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số
mặt sau đây:
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế quốc gia với nhau và với nền kinh tế thế giới. Nó vừa là
quá trình hợp tác cùng phát triển, vừa là quá trình đấu tranh rất phức tạp,
đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của
mình vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường
quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia;
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các rào
cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh
tế;
Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có
những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường;
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc cải
hoạt động mua bán hàng hoá của các bên tham gia trao đổi.
Hai là, các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác
quốc gia, có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể
hoặc tư nhân. Mục đích tham gia buôn bán quốc tế của họ là có lợi
11
trong việc trao đổi. Cái lợi trong việc buôn bán quốc tế tư nhân là lợi
nhuận có được do việc mua rẻ và bán đắt.
Ba là, hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật
chất, hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế về hàng hoá vật chất gọi là
thương mại hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại
thương. Hàng hoá vật chất là những hàng hóa tồn tại dưới dạng vật
chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực
phẩm và phi lương thực thực phẩm. Trong trao đổi, người mua và
người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và sử dụng hàng hoá. Do
có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên
giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ
mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo
quản, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế…
Trao đổi quốc tế về hàng hoá và dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ
quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng
hoá dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó
định lượng được, không dự trữ được. Quá trình cung cấp diễn ra
đồng thời với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ. Trong
trao đổi người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người
nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ.
Do sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ,
hàng hoá dịch vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên
giới.
Bốn là, phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa
người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
thế kỷ XIX, xuất khẩu hàng hoá chiếm vị trí bao trùm thì trong thế kỷ
XX, xuất khẩu tư bản ngày càng nổi trội: tổng số vốn đầu tư ra nước
13
ngoài tăng nhanh. Năm 1990, đầu tư quốc tế trực tiếp (FDI) đạt 151
tỷ USD, năm 1999 đạt 865 tỷ USD.
Ba là, thương mại quốc tế phát triển lôi cuốn tất cả các quốc gia
đều tham gia, nhưng cũng tập trung chủ yếu vào các nước công
nghiệp phát triển. Những thập kỷ gần đây, trong xu thế phát triển của
kinh tế thế giới - toàn cầu hoá và "mở cửa kinh tế" quốc gia, các
nước trên thế giới không thể phát triển kinh tế riêng rẽ được, phải có
hoạt động kinh tế với nước ngoài. Phát triển thương mại quốc tế là
một trong những định hướng kinh tế được các nước lựa chọn. Ngày
nay, tất cả các nước đều có thương mại quốc tế, song thương mại
quốc tế phát triển chủ yếu tập trung ở các nước công nghiệp phát
triển. Hai vấn đề này phản ánh lực lượng sản xuất của thế giới phát
triển đáng kể và tiềm lực kinh tế của các nước công nghiệp ngày một
tăng, ưu thế ngày càng lớn.
Bốn là, các trung tâm thương mại quốc tế đã và đang hình thành. Trên
thế giới có 3 trung tâm kinh tế lớn là Mỹ - Canada, Tây Âu và Đông Bắc á,
ngoài ra còn các khối, ASEAN, Trung Mỹ, Tây Phi… đã và đang hình thành.
Nhìn chung, các trung tâm, từng khối kinh tế đang và ngày càng hoàn thiện, tận
dụng các mối quan hệ thuận lợi của nhau về địa lý, tính văn hoá dân tộc, về lợi
ích, khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng, tăng cường đoàn kết, nhằm phát triển
kinh tế và thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế với các trung tâm, các khối bên
ngoài để cùng phát triển.
1.2.1.3 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
- Thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong phát triển và tăng trưởng
kinh tế. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả tới tăng trưởng kinh tế. (1),
(2), (3), (4) Giáo trình kinh tế phát triển, trang 303, 305. Mối quan hệ này được
thể hiện ở các khía cạnh: Xuất khẩu cho phép khai thác được các lợi thế so
15
và nước nhận đầu tư. Chính vì thế xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc độ, quan
điểm khác nhau trên thế giới đã có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực
tiếp nước ngoài .
Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) {1997}:
“Đầu tư trực tiếp ám chỉ số đầu tư được thực hiện để thu lợi ích
lâu dài cho một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế
của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu
quả trong công việc quản lí đó”.Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa
khác nhau về FDI. Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi,
ban hành ngày 12/11/1996 tại điều 2 chương I:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến
hành hoạtđộng đầu tư theo quy định của luật này”.
Bộ luật tự do hoá chu chuyển vốn do tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD) ban hành thì lại nhấn mạnh về mục tiêu của FDI theo đó
“ FDI được hiểu là các loại đầu tư nhằm tạo ra quan hệ kinh tế lâu dài
với một doanh nghiệp ”.
Xét dưới góc độ vốn đầu tư, FDI lại được nhận xét là “ một loại
hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là
người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Cũng có ý
kiến khác nhau cho rằng “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh
vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư”. Có thể nói mỗi nhà kinh tế định nghĩa về
FDI theo một cách khác nhau tuỳ theo khía cạnh mà họ tiếp xúc.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái
niệm về FDI, song từ những khái niệm trên có thể đưa ra một khái niệm
tổng quát nhất, đó là:
16
nền kinh tế.
FDI bổ sung nguồn vốn cho nước chủ nhà, giúp bù đắp sự thiếu
hụt của nguồn vốn trong nước, mở rộng tích luỹ và góp phần vào việc
nâng cao tốc độ phát triển kinh tế. Hầu hết các nước, nhất là các nước
đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá.
Thực tế cho thấy, nhiều nước đang phát triển nhờ có FDI nên đã giải
quyết được một phần khó khăn về vốn và đã thực hiện thành công quá
trình công nghiệp hoá đất nước.
Thông qua FDI các công ty đã chuyển giao kĩ thuật công nghệ
sang các nước chủ nhà. Nhờ sự chuyển giao này mà các nước chủ nhà
có thể thu hút được kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lí
kinh doanh và năng lực Marketing, đội ngũ lao động được đào tạo và
bồi dưỡng về nhiều mặt.
Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ hiện đại, FDI sẽ tác
động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ
cấu cùng, cơ cấu lao động, cơ cấu kĩ thuật, cơ cấu sản phẩm sẽ được
biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.
Nhờ có kĩ thuật và công nghệ hiện đại mà các nước chủ nhà có
điều kiện khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế. Thông
qua FDI, các nước chủ nhà sẽ có thêm điều kiện mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế.
FDI làm cho các tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của đất nước
có điều kiện để khai thác, điều đó tác động mạnh mẽ đến việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, mặt khác tiếp nhận đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà
18
không phải lo trả nợ mà thông qua FDI nước chủ nhà có điều kiện xâm
nhập thị trường thế giới. Các công ty thuộc các nước đang phát triển khó
hoặc ít có cơ hội thâm nhập vào thị trường quốc tế, với sự liên doanh,
liên kết với các công ty đa quốc gia các công ty thuộc các nước đang
là khá cao( bình quân 6%/năm), lại không bị tác động mạnh bởi cuộc khủng
hoảng kinh tế tài chính khu vực như các nước khác vào năm 1997, nền kinh tế
đã có những bước phát triển vượt bậc những hiện tại Việt Nam vẫn bị tụt hậu
khá xa so với các nước phát triển cũng như so với nhiều nước đang phát triển
trong khu vực. Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, thu
nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém, tích luỹ
nội bộ nền kinh tế thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, về cơ bản vẫn là một nước nông
công nghiệp với gần 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Một hiện tượng có thể coi là căn bệnh nan y của các nước đang phát triển
là thiếu vốn và Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ ấy. Về tiết kiệm, mặc
dù ta có nguồn lực dồi dào song lại không có điều kiện sử dụng nguồn lực ấy vì
thiếu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị máy móc,
áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng
được 2/3 nhu cầu vốn cho phát triển, còn lại ta phải huy động vốn từ các nguồn
ở bên ngoài. Trong đó cùng với ODA thì FDI là một trong hai nguồn vốn quan
trọng hàng đầu.
Đảng ta đã xác định Việt Nam trong quá trình trở thành một nước công
nghiệp phải có những bước đi tuần tự hợp với quy luật phát triển, đồng thời
tranh thủ thời cơ thuận lợi “ đi tắt, đón đầu” trong những ngành, lĩnh vực cho
phép nhằm bắt kịp xu thế của thời đại. Một trong những thời cơ đó là tận dụng
những lợi thế của nguồn vốn FDI. Theo Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP của
chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả FDI thời kì 2001-2005 là
đề ra mục tiêu thu hút khoảng 12 tỷ USD vốn đăng kí của các dự án cấp giấy
phép mới và 11 tỷ USD vốn thực hiện. Tóm lại, FDI không chỉ giúp ta thoả
20
mãn nhu cầu về vốn đầu tư mà kèm theo đó còn là sự du nhập của khoa học
công nghệ hiện đại, của trình độ quản lí tiên tiến, của những đỉnh cao trí thức
nhân loại.
1.2.3. Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngoại thương: của
các nước đang phát triển
với cả nước chủ nhà và trong chiến lược phát triển của các TNCs. Trong hơn 3
thập kỷ gần đây, đầu tư FDI hướng vào xuất khẩu ngày càng gia tăng và nó
đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy xuất khẩu của nước chủ nhà.
Chiến lược hướng ngoại hay còn gọi là chiến lược hướng vào xuất khẩu đã
được các nước đang phát triển áp dụng một cách rộng rãi, trong đó các nền
kinh tế Đông á đóng vai trò tiên phong. Và vai trò không ngừng lớn mạnh của
các TNCs trong xuất khẩu hàng chế tạo của các nước đang phát triển và đó là
một xu hướng tất yếu quan trọng trong sự phát triển của đầu tư và thương mại
quốc tế. Với sự lớn mạnh của các TNCs, họ đã đưa các nước đang phát triển
cùng đi vào mạng lưới hoạt động quốc tế của họ, không chỉ với tư cách là
nguồn cung ứng nguyên vật liệu, mà còn là các nhà cung cấp các sản phẩm chế
tạo và các quy trình sản xuất đặc biệt, những sản phẩm mà trước đây các TNCs
cũng có nhưng nay không còn được sản xuất trong nước nữa. Bởi vậy, xuất
khẩu hàng chế tạo được coi là chiến lược phát triển mới ở các nước đang phát
triển. Và quá trình chuyên môn hoá sản xuất là yếu tố quan trọng để các nước
đang phát triển mở rộng xuất khẩu hàng chế tạo trong điều kiện có ít cơ hội
tiếp cận với các nguồn thu ngoại tệ khác. Mặt khác, xuất khẩu giúp các nước
đang phát triển bổ sung nguồn vốn để xây dựng kinh tế trong nước và thu hút
đầu tư nước ngoài.
Từ năm 1970 đến năm 1980, nhập khẩu hàng chế tạo tiêu dùng của các nước
OECD đã tăng 14,55 lần xét về giá trị danh nghĩa. Tổng nhập khẩu hàng chế
tạo từ các nước đang phát triển tăng 10,84 lần. Các nền kinh tế thành công nhất
là Hồng Kông, Đài Loan, và Hàn Quốc đã xuất khẩu một lượng lớn hàng chế
22
tạo tiêu dùng tới các OECD, chiếm 72% tổng xuất khẩu từ các nước đang phát
triển sang các nước OECD.
Theo báo cáo của UN, 1992 (UN,1992,World Development Report, New
York: UN) cho thấy tỷ trọng xuất khẩu hàng chế tạo của các công ty có vốn
đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển đang tăng dần. Tỷ lệ này dao
động từ mức 21,5% ở Fiji lên 85% ở Singapore vào giữa thập niên 80. Sự chú
cũng có một số mặt hàng chế tạo mà trước đây các nước phát triển có sản xuất,
song hiện nay đã không còn sản xuất nữa thì họ sẽ nhập từ các nước nhận đầu
tư. Các công ty tham gia vào xuất khẩu thường có quy mô lớn hơn, năng xuất
cao hơn, hàm lượng vốn và công nghệ cao hơn. Các công ty hoạt động tốt sẽ
trở thành nhà xuất khẩu và có được phần lớn những chỉ số hoạt động như mong
đợi. Các công ty có vốn FDI thường đóng góp nhièu hơn cho hoạt động xuất
nhập khẩu của nước chủ nhà nhờ vào nguồn vốn và công nghệ vượt trội của họ.
Các TNCs không chỉ đóng góp trực tiếp cho hoạt động xuất khẩu của nước chủ
nhà, mà còn tạo ra hiệu ứng lan toả cho xuất khẩu và trở thành chất xúc tác cho
hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển.
Nhập khẩu máy móc thiết bị thường chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số giá trị
nhập khẩu của các TNCs. ở một số nước tỷ lệ này cao hơn nhiều so với tỷ lệ
tương ứng của các doanh nghiệp nội địa. Điều này phản ánh sự chú trọng của
các nhà đầu tư nước ngoài trong việc sử dụng khoa học công nghệ hiện đại vào
các dự án đầu tư của họ. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất lao
động, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của nước chủ nhà.
Đồng thời hoạt động ngoại thương mà diễn ra sôi động, thì chứng tỏ nước
đó có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao, do đó sẽ thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển,khi mà hiện nay
họ đang chú trọng đầu tư vào cơ sở hạng tầng, xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất để thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đấy sẽ là cơ sở
để tăng cường thu hút nguồn vốn FDI và thúc đẩy ngoại thương phát triển.
24
1.2.3.2. Tác động gián tiếp
Ngoài những tác động trực tiếp trên, thì đầu tư trực tiếp và ngoại thương
còn có tác động gián tiếp thông qua các tác động ngoại ứng như: thúc đẩy trao
đổi thông tin, cung cấp dịch vụ, liên kết sản xuất... Đây là những tác động rất
quan trọng không chỉ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp mà
còn thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế- xã hội khác.