Phân tích thực trạng quan hệ kinh tế -thơng
mại Việt Nam-Nhật Bản trong những năm qua
I.Điểm lại quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam Nhật Bản
1.Trớc năm 1987
Từ cuối chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ của Nhật Bản và Việt Nam đã
trải qua những bớc thăng trầm do những thay đổi của tình hình tại bán đảo Đông
Dơng. Đến giữa những năm 1970, các nhà lãnh đạo trong chính phủ và giới kinh
doanh Nhật đã biểu thị một phần nào đó sự quan tâm, nhiệt tình đối với Việt Nam.
Nhng đến năm 1979, quan hệ chính thức giữa hai nớc lại rơi vào bế tắc và hạ
xuống mức thấp nhất bởi những sự kiện ở bán đảo Đông Dơng.
Quan hệ giữa hai nớc Việt Nam-Nhật Bản thời kì từ sau chiến tranh thế giới
thứ hai đến trớc năm 1987 có thể chia làm hai giai đoạn: trớc và sau khi Việt Nam
thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật
1.1Thời kì tr ớc năm 1973.
Tháng 9-1951, Nhật Bản đã kí hiệp định hoà bình với 48 quốc gia, trong số đó
có chính phủ Bảo Đại do Pháp bảo trợ nhng không có đại diện nào từ chính phủ
của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Vào thời điểm này, Nhật Bản đã bình thờng hoá
quan hệ với chính phủ Bảo Đại và chỉ có những mối quan hệ không chính thức với
Bắc Việt Nam. Đây là sự khởi đầu chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam và
kéo dài đến năm 1973. Ban đầu, buôn bán giữa Nhật Bản với Việt Nam phải thực
hiện gián tiếp thông qua trung gian và đến năm 1958, chính phủ Nhật mới cho
phép buôn bán trực tiếp. Bất chấp sự do dự hay cản trở của chính phủ Nhật và sức
ép của Mỹ, những quan hệ thơng mại của Nhật với Bắc Việt Nam vẫn đợc duy trì
chủ yếu nhờ vào những cố gắng của chính phủ Việt Nam và của các công ty t
nhân Nhật Bản thuộc hội mậu dịch Việt-Nhật. Tổng kim ngạch buôn bán giữa hai
nớc có xu hớng tăng vào đầu những năm 1960 do Việt Nam bắt đầu kế hoạch kinh
tế 5 năm lần thứ nhất. Giữa những năm 1960, việc Mỹ ném bom miền Bắc đã làm
giảm phần lớn lợng hàng hoá buôn bán giữa hai nớc. Từ 1968 đến 1972, tổng kim
ngạch ngoại thơng giữa hai nớc tăng giảm thất thờng do mỹ tiếp tục bắn phá miền
bắc vào những năm 1970, 1972. Tuy nhiên, thơng mại giữa hai nớc còn khiêm tốn
và bắt đàu tăng trở lại. Các mặt hàng xuất nhập khẩu giữa hai nớc thời kì này bao
gồm lơng thực, nhiên liệu, nguyên liệu,sản phẩm công nghiệp nhẹ, máy móc,
hàng hoá đã chế biến...với tổng kim ngạch năm 1985 là 216 triệu USD và tăng lên
272 triệu USD vào năm 1986.
Nh vậy có thể thấy, trớc năm 1987 quan hệ thơng mại giữa hai nớc vẫn đợc
duy trì nhng không ổn định và còn ở mức độ thấp. Việt Nam đã cố thuyết phục
các nớc trong đó có Nhật Bản áp dụng nguyên tắc tách các vấn đề chính trị ra khỏi
các vấn đề kinh tế nhng không đợc các nớc chấp thuận. Vì vậy những bất ổn về
chính trị là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự không ổn định trong quan hệ buôn
bán giữa Việt Nam và Nhật Bản. Thời kì này, Việt Nam thờng bị thiếu hụt trong
cán cân thơng mại với Nhật (trừ hai năm 1973 và 1974) bởi vì, Việt Nam nhập
khẩu từ Nhật Bản máy móc, thiết bị, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo, quặng phi
kim loại, hoá chất và các sản phẩm hợp kim trong khi đó chỉ xuất khẩu sang Nhật
các sản phẩm nông nghiệp với giá trị còn nhỏ bé, chất lợng cha cao.
2. Thời kì từ 1987 đến nay
Quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản trong thập kỷ 90 đã có sự gia tăng cả về l-
ợng cũng nh về chất. Nhật Bản đã trở thành nhà cung cấp ODA và là bạn hàng th-
ơng mại lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là một trong ba nhà đầu t hàng đầu ở
Việt Nam. Có đợc sự chuyển biến trên là do tác động tổng hợp của nhiều nhân tố,
trong đó phải kể đến các nhân tố nh sự chuyển đổi nền kinh tế của Việt Nam từ kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa; sự
chuyển hớng trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản, ngày càng xem
trọng khu vực Đông Nam á -nơi cung cấp nguyên nhiên vật liệu và là thị trờng
gần gũi của Nhật Bản; sự tác động của bối cảnh quốc tế, trong đó nổi bật là xu thế
toàn cầu hoá. Có thể nói trớc cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á, quan hệ
kinh tế Việt Nam-Nhật Bản ngày càng đợc mở rộng. Sau cuộc khủng hoảng này,
quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản đã có biểu hiện chững lại, thậm chí suy giảm
trong một số chỉ tiêu. Điều này sẽ đợc phản ánh cụ thể trong phần phân tích thực
trạng quan hệ kinh tế-thơng mại Việt Nam-Nhật Bản.
chỉ chiếm 5% so với tổng vốn FDI vào Việt Nam. Các dự án đầu t thời kì này
mang tính chất thăm dò, khảo sát trong các ngành cơ khí, chế biến thực phẩm và
khách sạn. Nguyên nhân chính là Nhật Bản vẫn còn trong giai đoạn xem xét và
thăm dò thị trờng Việt Nam, đa số các dự án có vốn đầu t nhỏ nhng lại sử dụng
nhiều lao động. Điều này chứng tỏ các nhà đầu t Nhật Bản quan tâm rất nhiều đến
nguồn lao động rẻ và sẵn có của Việt Nam.
Tháng 1/1992, một đoàn điều tra hợp tác kinh tế của chính phủ Nhật đã đợc cử
sang Việt Nam để góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế nói chung và đầu t nói riêng.
Mặt khác, những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong những năm tr-
ớc đó đã tạo thêm niềm tin cho các nhà đầu t Nhật Bản.
Tính đến giữa năm 1992, đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam với tổng số dự án
là 24 và tổng số vốn khoảng 160 triệu USD. Trong giai đoạn 1992-1994, đã có rất
nhiều công ty của Nhật đăng kí xây dựng các nhà máy lọc dầu ở khu vực phía
Nam, dẫn đầu là công ty Teikoku. Năm 1994, Nhật Bản đứng hàng thứ 5 trong số
các nớc đầu t vào Việt Nam với 69 dự án và tổng số vốn là 695,1 triệu USD. Có
thể nói, bắt đầu từ năm 1994, đầu t vào khu vực sản xuất vật chất, nhất là lĩnh vực
công nghiệp ngày càng gia tăng, chiếm 2/3 tổng số vốn đầu t. Cơ cấu đầu t đợc
điều chỉnh theo hớng ngày càng hợp lí, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất hàng
xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ
chốt.
Theo tinh thần mở rộng hơn nữa qui mô và số lợng các dự án đầu t vào Việt
Nam, tháng 1/ 1995, một phái đoàn gồm 50 nhà đầu t Nhật Bản đã đến Việt Nam
tìm hiểu, khảo sát các cơ hội tăng cờng đầu t ở Việt Nam. Đến cuối năm 1995,
Nhật Bản đã đầu t vào Việt Nam 127 dự án với tổng số vốn đầu t 2.153,693 triệu
USD, đứng thứ 3 sau Đài Loan (3.244,796 triệuUSD) và Hồng Kông (2.197,903
triệu USD).
Nhìn chung, FDI của Nhật Bản vào Việt Nam có xu hớng tăng nhng chậm và
không ổn định. Điều này đợc thể hiện trong bảng dới đây
Tính
đến năm
chứ không phải là các ngành chế biến bởi vì Nhật Bản đã chú ý đến chuyển giao
công nghệ kết hợp với khai thác nguồn lao động dồi dào ở Việt Nam để sản xuất
các mặt hàng có giá trị có thể cạnh tranh đợc với hàng hoá các nớc tỏng khu vực.
Có thể kể ra nh: các ngành lắp ráp điện tử, ôtô, xe máy, dệt may... Bên cạnh đó,
Nhật Bản cũng đã chú ý đầu t vào các dự án chế biến lâm, thuỷ sản, trồng và chế
biến rau quả cùng các hạng mục đầu t vào các ngành nh dầu khí, xây dựng cơ sở
hạ tầng các khu chế xuất, giao thông, bu điện, giáo dục, ytế, văn hoá..Qui mô và
cơ cấu đầu t này phản ánh rõ nét chiến lợc kinh tế đối ngoại của Nhật Bản , đặc
biệt là trong lĩnh vực thơng mại và đầu t.Thứ nhất, việc đầu t vào Việt Nam là
chiến lợc mở rộng thị trờng của các doanh nghiệp Nhật Bản .Việt Nam là thị trờng
đang lên, rất thích hợp cho các nhà đầu t Nhật Bản trong các sản phẩm nh xe máy,
hàng điện tử dân dụng, vật liệu xây dựng... Hơn nữa, để đối phó với hàng rào thuế
quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ của Việt Nam đối với những mặt
hàng này, đầu t là một công cụ hữu hiệu. Thứ hai, với chiến lợc chuyển cơ sở sản
xuất ra nớc ngoài để tận dụng lợi thế về nhân công rẻ, Việt Nam dờng nh đã trở
thành phân xởng gia công của Nhật Bản, đặc biệt là trong ngành sản xuất, lắp
ráp ô tô, xe máy, đồ điện tử dân dụng. Những mặt hàng nàykhi đợc sản xuất ở
Việt Nam giá thành hạ hơn so với tại Nhật Bản nên có thể cạnh tranh tốt hơn ở các
thị trờng EU, Mỹ, các nớc NICs châu á... hoặc có thể đợc tái nhập trở lại Nhật
Bản.
Nhật Bản đã dần tập trung lợng vốn khá lớn đầu t vào Việt Nam, các tập đoàn
kinh tế lớn của Nhật Bản đã có mặt ở Việt Nam với các dự án đầu t có qui mô lớn
nh Sony,Mitsubishi , Toyota, Honda...Trong số các tập đoàn lớn này phải kể đến
tập đoàn Mitsubishi với dự án xây dựng nhà máy xi măng Nghi Sơn với số lợng
vốn 347 triệu USD, tập đoàn Toyota với dự án xây dựng nhà máy Toyota ở Mê
Linh, Vĩnh Phúc.
Một số dự án đầu t của Nhật Bản tại Việt Nam ( Đơn vị triệu USD )
Tên dự án Địa phơng Mặt hàng sản xuất Vốn đầu t
Khu C N Bắc Thăng Long Hà Nội Xây dựng cơ sở hạ tầng 54
Liên doanh Toyota Việt Nam Vĩnh Phú Xe ô tô 90
(triệu USD)
Vốn thực hiện
( triệu USD)
Công nghiệp nặng 96 1784 645
Dầu khí 4 131 40
Xây dựng hạ tầng khu chế xuất 1 53 14
Công nghiệp nhẹ 51 250 168
Nông lâm nghiệp 16 51 19
Khách sạn-Du lịch 1 218 45
Xây dựng văn phòng căn hộ 13 173 76
Giao thông-Vận tải-Bu điện 17 405 41
Xây dựng 18 412 95
Văn hoá-Ytế-Giáo dục 6 34 9
Thuỷ sản 4 14 11
Tài chính -ngân hàng 2 21 15
Công nghiệp thực phẩm 14 52 25
Cơ cấu lãnh thổ đầu t.
Thời kì đầu, FDI của Nhật Bản vào Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh
phía Nam, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu chế xuất tại
thành phố Hồ Chí Minh và các dự án khai thác đầu khí ở Vũng Tàu. Đến nay, hầu
hết các tỉnh, thành phố đều đã có rải rác các dự án đầu t nớc ngoài của Nhật Bản.
Các tỉnh phía Bắc tập trung đợc 205 tổng số các dự án và chiếm khoảng 40%
trong tổng số vốn. Đồng Nai là địa phơng đứng đầu về tỷ trọng FDI của Nhật :
22% với 27 dự án, Hà Nội giữ vị trí thứ 2 : chiếm 21% với 57 dự án. Thành phố
Hồ Chí Minh tuy có nhiều dự án nhất, 106 dự án nhng chỉ đứng thứ 3 về lợng vốn
với 19% (tính đến hết năm 1999).
Việt Nam vẫn đang tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trờng đầu t, tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà đầu t Nhật Bản làm ăn lâu dài và ổn định ở Việt Nam. Việt
Nam mong muốn chính phủ Nhật Bản tăng cờng bảo hiểm đầu t và khuyến khích
các công ty Nhật mở rộng qui mô đầu t, nhất là trong các lĩnh vực khai thác tài
hoàn lại cho Việt Nam 3557 tỉ Yên cho các dự án xây dựng cầu nông thôn và
miền núi phía bắc và 45,1 triệu Yên viện trợ văn hoá nhằm cung cấp thiết bị nghe