Mối quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore - Pdf 58

Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
Lời mở đầu
Cha đầy 20 năm sau công cuộc đổi mới (1986), Đảng và nhà nớc ta đã lãnh
đạo nhân dân vợt qua mọi khó khăn, trở ngại đa nớc ta dần dần đi vào ổn định
chính trị, xã hội, phát triển kinh tế và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Về mặt đối ngoại, Đảng ta tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự
chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phơng hoá các quan hệ đối ngoại với phơng
châm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Chúng
ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia lớn nhỏ trong khu vực cũng
nh ngoài khu vực đặc biệt là tăng cờng quan hệ với các nớc láng giềng trong
khối asean trong đó có Singapore.
Trên thực tế, Singapore có quan hệ rất sớm với Việt Nam. Ngay từ đầu
những năm 90s, mối quan hệ giữa hai nớc đã tiến triển đáng kể cùng với sự
phát triển chung của tình hình khu vực và thế giới. Từ đó tới nay Singapore
luôn là một trong các bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Singapore đã khẳng
định tầm quan trọng của mình trong mối quan hệ hợp tác với Việt Nam. Và
mối quan hệ hữu nghị hợp tác về kinh tế- thơng mại giữa Việt Nam và
Singapore ngày càng lớn mạnh. Việt Nam có thể tìm thấy ở Singapore những
sản phẩm của nghành công nghệ tiên tiến nh máy móc, thiết bị, điện tử, linh
kiện ô tô, xe máy đồng thời có thể xuất sang Singapore những mặt hàng là thế
mạnh của mình nh hàng nông sản, thuỷ sản, lao động . Trong lĩnh vực đầu t ,
Singapore đã và đang vơn lên đứng đầu danh sách các nớc và vùng lãnh thổ
đầu t vào Việt Nam. Vậy làm sao để tiếp tục thu hút vốn đầu t ấy là điều mà
Việt Nam phải quan tâm. Và làm cách nào để thúc đẩy mối quan hệ ấy.
Việc lựa chọn đề tài Mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và
Singapore làm đề tài khoá luận, một mặt em muốn tìm hiểu thêm về quốc đảo
láng giềng này, mặt khác đánh giá những thuận lợi cũng nh khó khăn của mối
quan hệ này để từ đó cùng độc giả bàn luận một số giải pháp khắc phục nó
nhằm giúp cho mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Singapore
ngày càng tốt đẹp hơn.
Phan Thị Toan A8K38C

Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội tháng 12/2003.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
Chơng I:
Cơ sở của mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Singapore
I.Cơ sở về điều kiện tự nhiên
1. Vị trí địa lý- địa hình
Về vị trí địa lý-địa hình của Singapore: Singapore là một quần đảo nằm ở phía
bắc đờng xích đạo, ở vào khoảng 103,4- 104 độ kinh đông và 1,15- 1,30 vĩ độ
bắc. Singapore có diện tích 692,7 km2 với 54 đảo lớn nhỏ (trong đó 20 đảo có
ngời ở). Phía tây và phía đông Singpore giáp Malaysia. Phía nam giáp
Indonesia. Singapore nằm ở cực nam bán đảo Malacca là điểm án ngữ quan
trọng trên con đờng buôn bán bằng đờng biển từ ấn độ dơng sang thái bình d-
ơng, từ đông nam á hải đảo sang đông nam á lục địa.
Lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt ở Đông Nam á, ở vào khoảng
102-109,3 độ kinh đông và 8,1-23,24 vĩ độ bắc. Với diện tích 331.690 km2
Việt Nam nằm ở ranh giới trung gian, nơi tiếp giáp với các lục địa (Châu á và
Châu Đại Dơng) và đại dơng (Thái Bình Dơng và Đại Tây Dơng). Về địa hình,
Việt Nam hình chữ S, nằm ở phía đông bán đảo Đông Dơng, phía bắc giáp với
Trung Quốc, phía tây giáp với Lào và Campuchia, phía đông giáp với biển.
Việt Nam nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất, đồng
thời án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch thông thơng nh ấn độ và thái
bình dơng, châu âu-trung cận đông với Trung Quốc . (Địa lý kinh tế- xã hội
Việt Nam- NXB Giáo Dục 2001)
Nh vậy cả Việt Nam và Singapore đều có vị trí địa lý hết sức thuận lợi đồng
thời lại gần nhau (vì cùng trong khu vực Châu á). Đây là một cơ sở thuận lợi
cho sự phát triển mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc. Vì dù rằng vị trí
địa lý không có tính chất quyết định nhng nó lại có khả năng tạo ra những

đất với 2 nhóm đất chính là: Feralit ở miền đồi núi và đất phù sa ở vùng đồng
bằng. Đất phù sa rất thích hợp với cây trồng. Về chất lợng, đất ở Việt Nam có
tầng dày, kết cấu tơi xốp, lợng chất dinh dỡng cung cấp cho cây trồng khá cao
nhất là đất phù sa, đất xám. Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam có thể đa
dạng hoá chủng loại cây trồng. Đó là cha kể đến Việt Nam có một hệ thống
rừng rậm tiêu biểu cho rừng nhiệt đới, có nguồn tài nguyên thuỷ hải sản phong
phú (cá, tôm, trai, ốc, mực .) có giá trị dinh d ỡng cao, có tiềm năng xuất
khẩu lớn.
Do vậy điều kiện khí hậu và đất đai là điều kiện thứ hai thúc đẩy việc trao đổi
hàng hoá giữa hai quốc gia. Singapore có thể nhập từ Việt Nam các mặt hàng
nông, thuỷ sản bù đắp cho sự thiếu hụt trong nớc do điều kiện tự nhiên không
cho phép. Thay vào đó Việt Nam có thể nhập từ Singapore sản phẩm của
nghành công nghệ cao.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
II. Cơ sở về điều kiện chính trị- xã hội
1. Dân c, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ
Dân c, dân tộc: Singapore là một quốc gia trẻ nhiều dân tộc và đa sắc thái văn
hoá. Dân số của Singapore là gần 4,46 triệu ngời (tính đến tháng 7 năm 2002).
Về thành phần dân tộc thì ngời Hoa là nhóm tộc ngời chính (chiếm tới 76,7%).
Nhóm tộc ngời lớn thứ hai là ngời Mã Lai (chiếm 14% dân số Singapore). Thứ
ba là cộng đồng ngời ấn độ, chiếm khoảng 7%. Ngoài ra còn có cộng đồng ng-
ời châu âu (chủ yếu là có nguồn gốc ănglê-xắc sông), cộng đồng ngời ả rập và
nhóm tộc ít ngời khác.
Việt Nam cũng là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em). Dân tộc kinh
chiếm đa số (87% dân số cả nớc) sống tập chung chủ yếu ở vùng châu thổ
sông hồng, các đồng bằng ven biển miền trung, đồng bằng sông cửu long
.Còn 53 dân tộc khác phân bổ chủ yếu ở các vùng núi (chiếm 2/3 lãnh thổ)
trải dài từ bắc vào nam. Trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là dân tộc

Còn ở Việt Nam : Dân tộc Kinh chiếm đa số dân số của cả nớc nói tiếng kinh.
53 dân tộc khác mỗi dân tộc có ngôn ngữ của mình. Tiếng kinh là tiếng phổ
thông. Và trong những năm qua do xu thế mở cửa hội nhập thế giới nên mặc
dù tiếng anh là tiếng ngoại ngữ song cũng rất phổ biến ở Việt Nam .
Do vậy xét riêng trong quan hệ buôn bán thì đây cũng là một thuận lợi cho
2 phía bởi vì cả Việt Nam và Singapore đều có thể sử dụng tiếng Anh làm
công cụ trong trao đổi buôn bán.
2.Nhà nớc và chính trị
ở Singapore có 22 đảng phái chính trị khác nhau trong đó Đảng Hành Động
Nhân Dân (PAP) cầm quyền từ hơn 30 năm nay và vẫn tiếp tục giữ vị trí thống
trị. Lãnh tụ của đảng này trớc đây là ông Lý Quang Diệu và hiện nay là ông
Goh Chok Tong. Sau khi lên nắm quyền lãnh đạo, Đảng PAP chủ trơng xây
dựng một nền kinh tế thị trờng có điều tiết (cũng giống nh Việt Nam sau này).
Theo hiến pháp, Singapore là một nớc cộng hoà, đứng đầu nhà nớc là Tổng
thống do toàn dân lựa chọn theo phổ thông đầu phiếu. Tổng thống có nhiệm
kỳ 6 năm, hiện nay là ông Stellapan nhậm chức từ 01/9/1999. Đứng đầu chính
phủ là thủ tớng. Thủ tớng hiện nay của Singapore là ông Goh Chok Tong nhậm
chức ngày 28/11/1990 và đợc bổ nhiệm lại 2 lần năm 1997 và 2001. Thủ tớng
và các thành viên nội các do tổng thống bổ nhiệm từ các đại biểu của nghị
viện. Tổ chức nhà nớc gồm 3 cơ quan chính: cơ quan lập pháp (gồm nghị viện
và hội đồng tổng thống), cơ quan hành pháp (bao gồm các bộ, ban nghành
chức năng của chính phủ, đứng đầu nội các là chính phủ và tổng thống), cơ
quan xét xử (gồm toà án tối cao và toà án địa phơng).
Khác với Singapore có 22 đảng phái chính trị khác nhau thì Việt Nam chỉ có
một đảng duy nhất: đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt
Nam ra đời sớm hơn Đảng Hành Động Nhân Dân (PAP) rất nhiều (3/2/1930).
Điều 4 hiến pháp nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi Đảng Cộng
Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung
thành quyền lợi của giai cấp công nhân .là lực l ợng lãnh đạo nhà nớc và xã
hội. Thực tế Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo xã hội thực

và các chính sách phát triển kinh tế của hai quốc gia: Việt Nam và Singpore .
1.Kinh tế Singapore
Chiến lợc phát triển kinh tế của Singapore là việc chuyển đổi từ chiến lợc công
nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất
khẩu (hay nói cách khác là chuyển từ chiến lợc đóng cửa nền kinh tế sang
chiến lợc mở cửa nền kinh tế).
Chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu: Chiến lợc công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu đợc hầu hết các nớc công nghiệp phát triển tiến hành trong
thế kỷ 19. Một số nớc châu á bắt đầu thực hiện chiến lợc này từ trớc chiến
tranh thế giới thứ II. Bản chất của chiến lợc này là nhằm thoả mãn nhu cầu
trong nớc để xây dựng một nền kinh tế độc lập, không phụ thuộc bên ngoài.
Do vậy mà ngoại thơng không đợc chú trọng mà chỉ chú trọng đến khả năng tự
cung tự cấp của thị trờng nội địa.
Singapore áp dụng chiến lợc này từ những năm 1960-1965. Sau khi thoát
khỏi ách thống trị của thực dân Anh, quốc gia Singapore gặp nhiều khó khăn
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
trở ngại: nguồn cung cấp nguyên liệu giảm, thất nghiệp tăng nhanh . buộc
Singpore phải tiến hành công nghiệp hoá trên cơ sở xây dựng và phát triển
nghành công nghiệp hớng nội. Để kích thích các nhà t bản trong và ngoài nớc
mở rộng kinh doanh trong các nghành công nghiệp non trẻ nhằm tạo thêm
công ăn việc làm và tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nớc, chính
phủ Singapore đã thi hành chính sách bảo hộ hàng nội địa bằng hàng rào thuế
quan, hạn chế hàng ngoại nhập cả về số lợng và chủng loại đồng thời áp dụng
những u đãi về tài chính cho các hoạt động kinh doanh trong nớc:
Ví dụ: miễn thuế cho các xí nghiệp tiên phong mới thành lập trong năm năm
đầu, miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu và máy móc từ bên ngoài, cho các xí
nghiệp lớn vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trờng Điều này đã mang
lại cho Singpore một số kết quả khả quan: tạo thêm công ăn việc làm, nâng giá

nghiệpnày một cách kịp thời để phát triển nghành công nghiệp trong ầớc.
Đến giữ` những năm 1970s, chiến lợc công nấhiệp hoá hớng về xuất khẩu, sử
dụng nhiều lao động đã mang lại cho Singapore những thành quả tốt đẹp:
ngành công nghiệp chế biến đã tạo ra đợc gần 150000 việc làm mới, giá trị
xuất khẩu của ngành này đã tăng từ 43% lêá#55%, nạn thất nghiệp hầu nh đợc
thanh toán. Nhng bên cạnh đó cũng tồn tại mặt hạn chế của nó, đó là: việc u
tiên những nghành sử dụng nhiều lao động dẫn đến việc cải tiến công ng
ử, nâng cao tay nghề ít đợc chú trọng, do vậy năng suất lao động thấp, hạn chế
khả năng tạo ra những sản phẩm có giá trị cao. Mặt khác nhu cầu xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế tăng lên từ giữa những năm 1970s đẩy Singapore vào tình
trạng thiếu lao động. Sự gia tăng các hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch ở
các nớc phơng tây từ cuối những năm 1970s cùng sự cạnh tranh của những
hàng xuất khẩu từ các nớc có mức lơng thấp trong khu vực gây ra trở ngại đối
với xuất khẩu hàng của Singapore. Do vậy từ cuối những năm 1970s, chính
phủ Singapore bắt đầu từng bớc thay thế các xí nghiệp sử dụng nhiều lao động,
điều chỉnh nền kinh tế theo hớng hiện đại hoá
công nghệ và sử dụng nhiều chất xám.
Để tạo điều kiện cho chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu phát huy
hiệu lực, chính phủ Singpore đã tiến hành nhiều biện pháp hành chính quan
trọng mà chúng ta phải kể đến đó là:
-Thứ nhất là thực hiện chính sách mậu dịch tự do: chính sách mậu dịch tự do
đợc Singapore áp dụng nhằm tạo ra một môi trờng kinh doanh thuận lợi với
việc xoá bỏ hàng rào thuế quan. Chính phủ Singapore đặc biệt khuyến khích
nền kinh tế tự do bằng cách đề ra những u đãi về thuế và tài chính, khuyến
khích mở cửa các ngành công nghiệp, khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài
và các tập đoàn đa quốc gia lập trụ sở của mình tại Singapore. Mỗi thành viên
có thể tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh. Chính phủ không can thiệp vào
công việc kinh doanh của mỗi cá nhân, không thu thuế xuất nhập khẩu mà chỉ
thiết lập một môi trờng kinh doanh thích hợp thông qua hệ thống pháp lý toàn
diện:

( Luật về văn tự và đất đai: những quy định về quyền sở hữu và cho thuê đất.
( Luật về cơ quan tiền tệ: xác định những chức năng của cơ quan này với t
cách là cơ quan tài chính ngân hàng và hoạt động ngân hàng.
-Thứ hai phải kể đến là chính sách khuyến khích đầu t của Singpore: Chính
phủ đã đa ra hàng loạt chính sách đổi mới công nghệ để thu hút đầu t nớc
ngoài, đặc biệt là đầu t vào các nghành công nghiệp non trẻ. Singapore tiếp tục
đa ra hàng loạt luật quy định: luật mở rộng kinh tế năm 1967 và đợc bổ sung
vào năm 1970, luật khuyến khích mở rộng kinh tế ban hành năm 1971. Các
luật trên tiếp tục đợc điều chỉnh bổ sung với những điều kiện ngày càng thuận
lợi hơn để thu hút các nhà đầu t nớc ngoài. Cụ thể các nhà đầu t nớc ngoài ở
Singapore đợc hởng rất nhiều u đãi:
( Không quốc hữu hoá các xí nghiệp nớc ngoài, miễn thuế 5 năm cho các
ngành công nghiệp mũi nhọn, miễn thuế lãi suất tín dụng, thuế quảng cáo.
Trong quá trình kinh doanh nếu bị thua lỗ thì không phải nộp thuế trong 3 năm
và có thể kéo dài thời hạn miễn thuế nếu tiếp tục bị lỗ.
( Đối với các cá nhân nớc ngoài: không phân biệt quyền sở hữu kinh doanh
giữa nhà đầu t nớc ngoài và nhà đầu t bản xứ, các nhà đầu t nớc ngoài đợc tự
do chuyển đổi tiền tệ và chuyển vốn lợi nhuận về nớc, đợc thuê mớn ngời nớc
ngoài vào Singapore để vận hành máy móc thiết bị của mình, đợc miễn thuế
khi vay vốn nớc ngoài, miễn thuế nhập khẩu bản quyền và bằng phát minh
sáng chế, miễn thuế đầu t vào nghiên cứu khoa học và đào tạo tay nghề và
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
nâng cấp công nghệ, có thể không bị đánh thuế với những nguyên liệu, thiết bị
không có sẵn ở Singapore.
( Đồng thời chính phủ cũng có chính sách khuyến khích đối với các nhà t bản
công nghiệp và chuyên gia kỹ thuật nớc ngoài, đó là nếu họ có vốn đầu t đạt
125.000 $ thì sẽ đợc hởng chế độ nhập cảnh, c trú dễ dàng và nếu sau 5 năm
tiếp tục đầu t sẽ có quyền c trú vĩnh viễn cùng cả gia đình. Nếu số vốn đã đầu

thức phổ thông. Ngoài ra chính phủ thờng xuyên cải cách bộ máy hành chính,
thiết lập hệ thống pháp luật toàn diện, lấy pháp luật làm nền tảng cho mọi hoạt
động, thành lập uỷ ban điều tra các hành vi tham nhũng để dần dần nâng
cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nớc.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
Các chính sách này nhằm tạo ra một nền kinh tế thị trờng tự do. Để hỗ trợ cho
việc theo đuổi nền kinh tế thị trờng tự do, chính phủ Singapore đã thành lập
hai cơ quan: Hội đồng phát triển thơng mại Singapore (STDB) có chức năng
khuyến khích xuất khẩu ra nớc ngoài và Hội đồng phát triển kinh tế Singapore
(SEDB) có chức năng thu hút nhiều đầu t vào Singapore .
Kết quả: Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, Singapore đã
đạt đợc những thành tựu kỳ diệu về phát triển kinh tế với mức tăng trởng cao
liên tục, thể hiện ở bảng sau:
Bảng1 : Tốc độ tăng trởng kinh tế của Singapore
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
Tốc độ tăng trởng kinh tế (%)
8,9
6,2
7,8
1,3
5,5
9

thiếu lơng thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn lơng thực.
Lu thông hàng hoá bị đình đốn dẫn đến giá cả tăng nhanh lạm phát có nguy cơ
ngày càng trầm trọng: đầu năm 1980 tăng khoảng 30-50% hàng năm, cuối
năm 1985 lên đến 587,2% và siêu lạm phát lên đến đỉnh điểm vào năm 1986
với 774,7%,, đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Thêm vào đó là chính sách
cấm vận của Mỹ duy trì trong thời gian này đã hạn chế quan hệ kinh tế của
Việt Nam.Từ năm 1976 kim nghạch xuất nhập khẩu có tăng nhng không đáng
kể so với thời gian trớc, luôn trong tình trạng nhập siêu. Vốn đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam thời kỳ này rất hạn chế, chủ yếu là các khoản vay không lãi suất
hoặc các khoản viện trợ không hoàn lại của các cơ quan liên hiệp quốc, các tổ
chức phi chính phủ và kết quả của chính sách đóng cửa nền kinh tế là đến
năm 1985 kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Trớc tình hình đó, Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1986 đã đa
ra đờng lối đổi mới toàn diện trong đó lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm. Nội
dung chủ yếu là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế
thị trờng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần dới sự quản lý của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Các quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng và nhà nớc ta là:
- Mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở bình đẳng hai bên cùng
có lợi để thực hiện mục tiêu dân giàu nớc mạnh đồng thời giữ vững nguyên
tắc: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau, đảm bảo sự phát triển của đất nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa.
- Khắc phục tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế, mở cửa nền kinh tế, từng
bớc hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Để thực hiện đợc điều này, chúng ta
phải thực hiện thông qua nhiều kênh, kênh quan trọng nhất là ngoại thơng.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
Đồng thời phải có chính sách thu hút mạnh mẽ đầu t của các công ty nớc

Cơ sở cho chính sách thơng mại thời kỳ này là nghị định 64/HĐBT ngày
16/6/1989 của Hội Đồng Bộ Trởng về chế độ tổ chức, quản lý kinh doanh hoạt
động xuất nhập khẩu. Nghị định đã thể hiện những nới lỏng bớc đầu trong cơ
chế quản lý ngoại thơng, dần dần thực hiện tự do hoá ngoại thơng của chính
phủ ta.
Tự do hoá ngoại thơng thể hiện:
( Nhà nớc cho phép các đơn vị kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đợc
phép xuất khẩu trực tiếp. Việc cho phép mọi thành phần kinh tế đợc phép xuất
khẩu trực tiếp là một điều mới mẻ vì trớc đây mọi hoạt động xuất nhập khẩu
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
đều đợc thực hiện dới sự quản lý độc quyền của bộ thơng mại.Việc xuất khẩu
trực tiếp phải tuân thủ các quy định pháp lý đã ban hành của nhà nớc.
( Tự do hoá một phần nhập khẩu, nhất là nhập khẩu phi mậu dịch đối với
những hàng hoá thiết yếu cho nhu cầu trong nớc mà sản xuất nội địa không
đáp ứng kịp.
( Đơn giản hoá các thủ tục xuất nhập khẩu nh cấp giấy phép, quota,
kiểm tra hải quan , th ờng xuyên có các kế hoạch điều chỉnh hợp lý biểu thuế
xuất nhập khẩu. Thực hiện các chính sách khuyến khích mở rộng thị trờng
xuất khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lợng hàng xuất khẩu. Đồng thời
chủ yếu nhập khẩu máy móc, nguyên nhiên vật liệu (chiếm 91%) và hàng năm
tăng bình quân 25%, hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 9%.
( Tự do hoá tỷ giá hối đoái: thay thế việc nhà nớc ấn định cứng nhắc nhiều tỷ
giá hối đoái bằng việc thực hiện tỷ giá thả nổi (đợc chính thức thực hiện vào
tháng 3/ 1989) đồng thời với việc mở hai trung tâm giao dịch ngoại tệ ở hà nội
và thành phố hồ chí minh tạo điều kiện cho tự do hoá tỷ giá hối đoái, cho phép
tất cả các lực lợng thị trờng tham gia xác định tỷ giá. Lãi suất ngân hàng cũng
đợc đẩy lên cao nhằm chống lạm phát. Nhờ đó tỷ lệ lạm phát đã giảm từ 400%
thời kỳ 1986-1988 xuống còn 5,2% năm 1993(thấp nhất).

1/1998 qua các lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và gần đây
nhất là năm 2000 đã chứng minh điều này. Đây đợc coi là văn bản pháp lý đầu
tiên đánh dấu sự chuyển hớng thực sự sang chính sách mở cửa theo cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc. Luật đầu t nớc ngoài cũng chính là tiền đề
cho các chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài vào Việt Nam, thể hiện:
( Các doanh nghiệp có vốn đâù t nớc ngoài không phải nộp thuế nhập khẩu
đối với hàng hoá nhập khẩu nh: thiết bị máy móc, linh kiện đi kèm, nguyên
liệu vật t nhập khẩu để thực hiện dự án BOT, BTO, BT
( Nhà đầu t nớc ngoài đợc phép chuyển lợi nhuận, thu nhập của mình ra nớc
ngoài sau khi thực hiện các nghĩa vụ về thuế
Với các chính sách này giúp cho vốn đầu t vào Việt Nam đặc biệt là vốn đầu t
trực tiếp FDI ngày một tăng. Tính tới ngày 31/8/2001, chỉ tính các dự án có
hiệu lực thì đã có 2914 dự án FDI với tổng vốn đầu t là 37.269,789 triệu USD.
Đây là một nguồn vốn không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế Việt Nam.
Kết quả: Thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của mình, Việt Nam đã
đạt đợc những thành tựu sau:
Thứ nhất: Cơ chế quản lý đã thay đổi căn bản: từ nền kinh tế bao cấp khép kín
đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế t bản t doanh trong đó kinh
tế ngoài quốc doanh chiếm 60% tổng sản phẩm trong nớc, tuy vậy kinh tế
quốc doanh vẫn đợc chú trọng để giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Thứ hai: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trởng cao:
Bảng2: Tốc độ tăng trởng kinh tế của Việt Nam
Năm
1996
1997
1998
1999
2000
Tốc độ tăng trởng GDP(%)

Nam là tự do trong khuôn khổ pháp luật, tự do có điều tiết của nhà nớc. Nh
vậy chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam và Singpore là tơng đối đồng
nhất, đều hớng tới thị trờng tự do thông qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh
tế đóng cửa sang nền kinh tế mở cửa và thu đợc những thành tựu khả quan.
Đây là một cơ sở giúp cho việc bắt tay giữa 2 nớc đợc thuận lợi và không gặp
trở ngại. Đồng thời Singpore là quốc gia đi trớc Việt Nam do vậy Việt Nam có
thể học hỏi từ Singpore rất nhiều trong quá trình hợp tác cùng phát triển.
Chơng II:
Thực trạng mối quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Singapore
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
I. Lịch sử phát triển mối quan hệ kinh tế th ơng mại giữa Việt Nam và
Singapore
Do một số nguyên nhân khách quan nên trớc kia quan hệ thơng mại giữa Việt
Nam và Singapore hầu nh cha phát triển. Việt Nam và Singapore bắt đầu xây
dựng mối quan hệ ngoại giao năm 1973. Sự kiện này đã cải thiện mối quan hệ
kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Singapore.
Bắt đầu từ những năm 1970s, Singapore thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá
hớng về xuất khẩu, tăng cờng đầu t ra nớc ngoài. Với một quốc gia hầu nh
không có nguồn tài nguyên thiên nhiên, thiếu nớc sạch và ít đất đai màu mỡ
thì đây là một chiến lợc đúng đắn giúp Singapore mở rộng quan hệ kinh tế th-
ơng mại với các nớc khác để khắc phục những nhợc điểm trên. Mặt khác
Singapore có thể tận dụng đợc u thế về vị trí địa lý của mình (một vị trí địa lý
chiến lợc, là trung tâm vận chuyển hàng hoá đi nơi khác) để phát triển kinh tế
và mở rộng quan hệ. Hiện nay, Singapore là một trong năm nớc sáng lập asean
và đã xây dựng hiệp hội thành một tập thể vững chắc cùng hợp tác phát triển.
Singapore cũng tích cực nâng cao vai trò của nớc sáng lập á- âu (ASEM) và
diễn đàn Đông á- châu mỹ latinh (EALAF). Singapore ngày một nâng cao hơn
nữa vị trí của mình trên diễn đàn khu vực và quốc tế.

để thâm nhập vào thị trờng Việt Nam đồng thời từng bớc cởi bỏ các trở ngại
trong quan hệ đầu t và và thơng mại giữa hai nớc. Bên Việt Nam cũng có
những u đãi đối với thơng nhân Singapore. Điều này thể hiện qua chính sách
của hai nớc đối với nhau.
Chính sách thơng mại đầu t của Singapore đối với Việt Nam:
- Thơng nhân Singapore nhập khẩu hàng Việt Nam không phải nộp thuế 0,5%
giá trị hàng nhập khẩu nữa để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu hàng hoá sang Singapore. Điều này chính thức đợc bãi bỏ sau khi hai nớc
ký hiệp định thơng mại.
- Tạo điều kiện cho các công ty xuất nhập khẩu Việt Nam thành lập văn phòng
đại diện tại Singapore và trong 6 tháng năm 1998 công ty xăng dầu Việt Nam
Air Petrol Company thuộc tổng công ty hàng không Việt Nam thành lập đại
diện tại Singapore.
- Đối với hàng nhập từ Việt Nam vào Singapore, Singapore cho các thơng nhân
Việt Nam hởng u đãi về điều kiện thanh toán, ra vào cảng thuận tiện (vì cảng
Singapore là cảng tự do). Hơn nữa hệ thống thuế nhập khẩu của Singapore rất
thấp. Hầu hết các mặt hàng (98%) đợc miễn thuế hoàn toàn. Chính sách u đãi
này đã góp phần đẩy mạnh quan hệ thơng mại giữa hai nớc.
- Thủ tục visa vào Singapore dễ dàng, thời gian làm thủ tục giảm từ 3 tuần
xuống còn 1 tuần, trong đó quy định quá cảnh 36h không cần xin visa. Vì vậy
hàng hoá Việt Nam vào Singapore không gặp trở ngại vì phải chờ đợi lâu.
- Để hỗ trợ các nhà đầu t Singapore vào Việt Nam, tháng 12/1991 cơ quan
quản lý tiền tệ Singapore (MAS) tuyên bố bãi bỏ cấm vận đầu t đối với Việt
Nam. Công ty Việt Nam hoặc công ty Singapore tại Việt Nam đợc vay vốn để
kinh doanh. Đồng thời các nhà đầu t đợc quyền tự do đầu t vốn của mình vào
tất cả các hình thức cũng nh lĩnh vực kinh doanh. Mục tiêu là để tận dụng
nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ.
Chính sách thơng mại đầu t của Việt Nam đối với Singapore:
- Dần dần cắt giảm thuế còn 0-5% đối với các hàng hoá buôn bán thuộc
nghành chế tạo, t liệu sản xuất, chế biến nông sản.

Nam mở đờng bay đi Singapore.Tiếp đó 28/2/1992 và 6/5/1992 hãng hàng
không Singapore mở đờng bay đi thành phố hồ chí minh và hà nội..
- hiệp định thơng mại 24/9/1992: ký kết trong chuyến thăm Singapore của bộ
trởng thơng mại và du lịch Việt Nam Lê Văn Triết theo lời mời của bộ trởng
bộ công nghiệp và thơng mại Singapore.
- Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu t ký ngày 29/10/1992 sau khi
Singapore mở sứ quán tại Việt Nam ngày 1/10/1992.
- Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trờng (14/5/1993)
- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (3/1994)
- Hiệp định hợp tác về du lịch (23/8-27/8/1994) ký kết nhân chuyến thăm của
Đoàn đại biểu tổng cục du lịch Việt Nam do tổng cục trởng Đỗ Quang Trung
dẫn đầu thăm Singapore theo lời mời của Cục xúc tiến du lịch Singapore
(STPB).
Để thể hiện thiện chí của chính phủ và nhân dân hai nớc, đã có hàng loạt
chuyến thăm hữu nghị của các quan chức lãnh đạo hai nớc:
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
Trong chuyến thăm chính thức của thủ tớng Phạm Văn Đồng đến Singapore
năm 1978, hai bên đã nhấn mạnh các nguyên tắc chỉ đạo trong mối quan hệ
hai nớc. Tháng 11 năm 1991, thủ tớng Võ Văn Kiệt thăm chính thức cộng hoà
Singapore. Sau chuyến thăm này, bộ trởng ngoại giao Singapore tuyên bố
Singapore mong muốn Việt Nam phát triển và thịnh vợng. Quan hệ hợp tác
cùng có lợi giữa hai nớc là rộng lớn. Singapore bằng mọi cách sẽ hợp tác giúp
đỡ, chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam. Singapore ủng hộ Việt Nam tham gia
hiệp ớc Bali.
Cộng hoà Singapore cũng có hàng loạt chuyến thăm chính thức Việt Nam vào
tháng 4 năm 1992, tháng 11/1993, tháng 3/1994. Thủ tớng Singapore Goh
Chok Tong phát biểu tại Hà Nội sau khi kết thúc chuyến thăm Việt Nam tháng
3 năm 1994 Thông qua asean và arf, mối quan hệ giữa hai nớc không chỉ đợc

Bảng 3: Kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Singapore
Đơn vị: triệu USD
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng kim nghạch
Nhập siêu
1991
428,0
722,2
1150,2
294,2
1992
510,3
867,8
1378,1
357,5
1993
380,3
1058,3
1438,6
678,0
1994
592,8
1170,7
1763,5
577,9
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp

2001
1044,0
2493,0
3537,0
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ
Trờng Đại Học Ngoại Thơng Khoá Luận Tốt Nghiệp
1449,0
2002
961,0
2534,0
3495,0
1573,0
Nguồn: Vụ kế hoạch và thống kê Bộ Thơng Mại
Dựa vào bảng 1 chúng ta thấy kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
sang Singapore trong những năm gần đây (từ năm 1996 đến nay) khá cao: kim
nghạch xuất khẩu đều trên dới 1 tỷ đô la Mỹ và kim nghạch nhập khẩu trên d-
ới 2 tỷ đô la Mỹ và hầu hết tăng đều qua các năm.
Thực trạng xuất khẩu: Năm 1992 là năm hai nớc bắt đầu ký hiệp định thơng
mại. Kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore tăng 19,2% so với
năm 1991, đạt 510,3 triệu USD. Năm 1993 kim nghạch sụt giảm song sang
năm 1994 lại phục hồi cao hơn 3 năm trớc (đạt 592,8 triệu USD). Năm 1995
đã tăng 14,5% đạt 678,8 triệu USD. Sang cuối năm 1996 kim nghạch xuất
khẩu tăng mạnh (29,9%) đạt 881,6 triệu USD. Kim nghạch xuất khẩu năm
1997 tăng vọt (1130 triệu USD) do 1996 kim nghạch xuất khẩu của một số
hàng xuất khẩu chủ lực tăng nh: gạo, thuỷ sản, dầu thô Trong năm 1998 tuy
Singapore gặp nhiều khó khăn về kinh tế do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
tài chính khu vực nhng kim nghạch xuất khẩu vẫn đạt trên 1 tỷ USD. Và năm
2002 kim nghạch xuất khẩu vẫn giữ ở mức gần 1 tỷ (961 triệu USD) dù có hơi
giảm so với năm trớc đó.

1993
Singapore
XK
NK
XK
NK
XK
NK
Indonesia
21,0
49,4
10,9
70,5
18,9
84,5
Malaysia
15,3
6,2
68,4
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE à1Đ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status