Mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế và khung khổ chính sách thương mại việt nam (TT) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM SỸ AN

MỐI QUAN HỆ GIỮA THƢƠNG MẠI VÀ
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ
VÀ KHUNG KHỔ CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM

Chuyên ngành:
Mã số:

Kinh tế phát triển
62.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI1 – 2016


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học: 1. TS. Bùi Trƣờng Giang
2. TS. Võ Trí Thành

Phản biện 1: PGS.TS. Lê Quốc Hội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Văn Nam

đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh như mở rộng hoạt động sản
xuất trong nước, tăng hiệu ứng kinh tế theo quy mô, tăng chuyển giao
công nghệ, tăng lượng vốn. Nhưng đồng thời ngoại thương cũng có thể
truyền tải những rủi ro và cú sốc từ bên ngoài vào nền kinh tế trong
nước nhanh hơn và với mức độ nghiêm trọng hơn. Nhìn từ hai khía
cạnh này, việc xem xét tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế
để từ đó nắm được các kênh truyền dẫn những tác động tích cực và các
kênh truyền dẫn những tác động tiêu cực sẽ góp phần thiết kế chính
sách thương mại trong thời gian tới khi mà Việt Nam tham gia ở các
cấp độ sâu hơn, rộng hơn và đa dạng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam. Đồng thời luận án sẽ phân tích các kênh
1


tác động từ thương mại đến tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn
2001-2014 để từ đó đề xuất chính sách thương mại.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa thương
mại và tăng trưởng kinh tế, và khung khổ chính sách thương mại của
Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:
* Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung xem xét tác động của
thương mại hàng hóa quốc tế và các kênh tác động đến tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam.
* Phạm vi thời gian: khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm
2014 và những hàm ý hoàn thiện chính sách thương mại đến năm 2025.

7. Kết cấu luận án
Chương 1 sẽ tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài
nước liên quan đến đề tài, chỉ ra khoảng trống trong nghiên cứu.
Chương 2 sẽ tổng hợp cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa
thương mại với tăng trưởng để làm cơ sở cho việc mô tả và phân tích
tác động của thương mại đến tăng trưởng ở chương tiếp theo.
Chương 3 mô tả tăng trưởng và thương mại của Việt Nam giai
đoạn 2001-2014. Đồng thời, chương này cũng phân tích tác động của
thương mại đến tăng trưởng kinh tế và những kênh tác động.
Chương 4 sẽ nêu ra hệ quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện
chính sách thương mại giai đoạn đến năm 2025 từ các phân tích ở trên.

3


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Các nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng
kinh tế nói chung và tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế
nói riêng hiện có rất nhiều.
Các nghiên cứu của Thirlwall (1994, 2000, 2002) cho rằng xuất
khẩu tác động mạnh đến tăng trưởng vì xuất khẩu không chỉ tác động
trực tiếp đến tổng cầu mà nó còn tác động gián tiếp thông qua những
thành phần khác của tổng cầu. Nhập khẩu phần lớn được tài trợ bởi xuất
khẩu, và tiêu dùng, đầu tư cũng được hỗ trợ phần nào bởi xuất khẩu.
Bên cạnh đó, những loại công nghệ (máy móc, trang thiết bị) không thể
sản xuất trong nước nhưng lại đóng vai trò lớn trong hoạt động sản xuất
chỉ có thể có được thông qua nhập khẩu. Hay nguyên vật liệu nhập khẩu
cũng là một đầu vào rất quan trọng cho hoạt động sản xuất.

Cho đến nay, mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tăng
trưởng kinh tế chưa được khám phá đầy đủ và hệ thống ở Việt Nam.
Những bài nghiên cứu thường tìm nguồn gốc tăng trưởng kinh tế dưới
dạng hàm sản xuất (mặt cung) như Trần Võ Hùng Sơn và Châu Văn
Thành (1998), Lê Đăng Doanh và cộng sự (2002), Chu Quang Khởi
(2003), Trần Thọ Đạt và cộng sự (2004).
Phạm Sỹ An (2005) xem xét tính ràng buộc của thương mại
(tăng trưởng xuất khẩu và độ co giãn của nhập khẩu đối với thu nhập)
đến tăng trưởng của một nền kinh tế. Phạm Sỹ An (2006) phân tích mô
hình mở rộng hơn về tác động của thương mại đến tăng trưởng, đồng
thời cũng nghiên cứu trường hợp cụ thể Việt Nam trong giai đoạn 19912004. Các nghiên cứu riêng về thương mại thì có khá nhiều như
Oostendorp và Quang (2010) phân tích tác động của tự do hoá thương
mại đến lợi tức giáo dục của Việt Nam, hay Trang, Tâm và Nam (2011)
xem xét những nhân tố quyết định đến xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam.
Nói tóm lại, kết quả phân tích từ các công trình nghiên cứu ngoài
nước là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho luận án. Còn các công trình
nghiên cứu trong nước ở các khía cạnh riêng rẽ như tăng trưởng hay
thương mại có tương đối nhiều, nhưng phân tích một cách hệ thống tác
động từ thương mại đến tăng trưởng cũng như các kênh truyền tải tác
5


động thì còn thiếu sót. Vì vậy, luận án được hy vọng sẽ là công trình
nghiên cứu bổ sung cho các công trình nghiên cứu hiện nay và làm sáng
tỏ hơn nhiều câu hỏi nghiên cứu, nhiều vấn đề được đặt ra trong giai đoạn
sắp tới.
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƢỞNG, THƢƠNG MẠI VÀ
QUAN HỆ GIỮA THƢƠNG MẠI VỚI TĂNG TRƢỞNG

suất.
Tiếp đến, David Ricardo (1772-1823) phát triển lý thuyết về lợi
thế so sánh dựa trên các giả sử về cạnh tranh hoàn hảo và toàn dụng
nguồn lực. Lý thuyết này cho rằng các quốc gia có thể thu được lợi ích
thông qua chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa với chi phí cơ hội thấp
nhất và trao đổi hàng hóa thặng dư. Đây thực chất là lợi ích tĩnh từ quá
trình phân phối lại nguồn lực từ ngành này đến ngành khác khi chuyên
môn hóa gia tăng dựa trên lợi thế so sánh. Ngược lại với lợi ích tĩnh, lợi
ích động liên tục làm dịch chuyển toàn bộ đường biên khả năng sản
xuất của các quốc gia nếu thương mại dẫn đến đầu tư nhiều hơn và năng
suất tăng nhanh hơn dựa trên tính kinh tế theo quy mô, học qua làm và
thu nhận kiến thức mới từ nước ngoài mà cụ thể là thông qua đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Lợi ích động từ thương mại được lý thuyết thương mại hiện đại
và lý thuyết tăng trưởng “mới” chú trọng phân tích và đưa vào mô hình.
Lợi ích động thiết lập một mối liên kết quan trọng trong chuỗi nhân quả
giữa xuất khẩu và tăng trưởng.
Ranis (2007) thể hiện một số kênh thương mại có thể tác động
đến tăng trưởng của nền kinh tế thông qua lợi ích tĩnh và lợi ích động.
Lợi ích của thương mại là tìm đường đi cho các nguồn lực thặng dư hay
nhàn dỗi và tạo ra sự thay đổi công nghệ kiểu của Adam Smith hoặc
Schumpeter (1934) (thông qua chuyên môn hóa lao động, cạnh tranh, và
học hỏi).
Berg và Krueger (2003) liệt kê một danh sách các kênh cùng với
các nghiên cứu thực nghiệm kèm theo mà thương mại có thể tác động
đến tăng trưởng của nền kinh tế. Cơ chế thông qua đó phân phối nguồn
lực tĩnh tác động đến tăng trưởng ít rõ ràng hơn mặc dù một số các kênh
đã được chỉ ra, gồm có: a) hiệu quả đầu tư tăng, cụ thể đó là tầm quan
trọng của hàng hóa vốn nhập khẩu tại các nước đang phát triển; b) khả
7

2.3 Mô hình về mối quan hệ giữa thƣơng mại và tăng trƣởng
Mô hình về mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng được
lấy từ nghiên cứu của Edwards (1998). Mối quan hệ này thể hiện dưới 2
phương trình sau:
8


(1)
(2)
Trong đó,
là GDP,
là kho tri thức hay TFP,
là vốn và
là lao động. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tăng trưởng của vốn,
lao động và TFP.
̇ ⁄ là tốc độ tăng trưởng của TFP, là tốc độ đổi mới trong
nước,
là tốc độ một quốc gia có khả năng thu hẹp khoảng cách tri
thức với thế giới và chịu tác động của các chính sách thương mại,

kho kiến thức của thế giới, kho này được giả sử tăng trưởng tại tỷ lệ cao
hơn so với tốc độ đổi mới trong nước (
).
Theo Edwards (1998), có 2 nguồn dẫn đến tăng trưởng TFP, đó là
nguồn xuất phát từ bên trong nền kinh tế được thúc đẩy bởi đổi mới
(innovation) và vốn con người (giáo dục) và nguồn xuất phát từ quốc tế
được thúc đẩy bởi khả năng bắt chước hay hấp thụ công nghệ từ các
quốc gia đi đầu. Bắt chước phụ thuộc vào khả năng “đuổi bắt” („catchup‟) của nền kinh tế. Những quốc gia đang phát triển càng cách xa trình
độ công nghệ của các nước dẫn đầu bao nhiêu thì khả năng và tốc độ
đuổi bắt càng lớn bấy nhiêu. Và một quốc gia có độ mở cửa lớn hơn với

nhưng với điều kiện các hàng hóa nhập khẩu này được sử dụng để sản
xuất hàng hóa cho xuất khẩu. Hay nói cách khác, nhập khẩu không thể
được sử dụng để sản xuất các hàng hóa bán trong nước.Theo đánh giá
của Westphal và Kim (1977), đây là chính sách định hướng xuất khẩu
quan trọng, ít ra là cho đến tận năm 1975.
Ngoài việc loại bỏ thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa đầu vào
cho hoạt động sản xuất xuất khẩu, đầu những năm 1970 và liên tiếp
trong 2 thế kỷ sau đó, Hàn Quốc tiến hành giảm dần thuế nhập khẩu và
ở phạm vi lớn hơn, giảm từ 40% xuống còn 13%, đã gây sức ép cạnh
tranh lên các doanh nghiệp trong nước nhưng vẫn tạo cho họ khoảng
thời gian để điều chỉnh kế hoạch và chiến lược sản xuất – kinh doanh.
2.4.2. Kinh nghiệm Đài Loan (Trung Quốc):
Chính sách thương mại định hướng xuất khẩu:
Trước hết, Đài Loan thực hiện chính sách công nghiệp hóa hướng
xuất khẩu thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp như (i) Điều hành
tỷ giá hối đoái ổn định; (ii) Để thúc đẩy xuất khẩu, Đài Loan giảm hàng
rào thuế quan hoặc các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu khác thông qua hoàn
thuế; (iii) Thiết lập các khu chế biến xuất khẩu đầu tiên trên thế giới tại
Kaohsiung; (iv) Các doanh nghiệp được tự do xuất – nhập khẩu, khai
thác lợi thế so sánh quốc tế và tiếp cận đến thị trường thế giới rộng lớn
hơn nhiều. Tất nhiên, tại Đài Loan cũng tồn tại sự bảo hộ nhưng mức độ
bảo hộ được điều chỉnh giảm dần.
10


2.4.3. Kinh nghiệm Trung Quốc:
Chính sách thương mại hay chính sách mở cửa của Trung Quốc
đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ đầu đổi mới cũng như trong giai
đoạn tăng tốc thần kỳ của Trung Quốc trong mấy thập kỷ vừa qua.
Kể từ khi bắt đầu cởi trói nền kinh tế, các nhà lãnh đạo Trung

Việt Nam như sau: Thứ nhất, chính quyền Đài Loan lựa chọn khu vực
doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo cho quá trình công nghiệp
hóa nền kinh tế; thực hiện các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư
nhân đổi mới, sáng tạo và phát triển. Song song với đó là mở cửa thị
trường, coi hoạt động xuất khẩu như đường ra cho các sản phẩm sản
xuất trong nước và coi thị trường bên ngoài là nơi tạo sức ép nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Hay nói cách
khác, Đài Loan đã lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa định hướng
xuất khẩu thay vì thay thế nhập khẩu. Thứ hai, một loạt các giải pháp
quan trọng khác hỗ trợ cho hoạt động sản xuất trong nước và cho xuất
khẩu được Đài Loan thực hiện như: Điều hành tỷ giá hối đoái ổn định;
Giảm hàng rào thuế quan xuất khẩu hoặc hỗ trợ xuất khẩu thông qua
hoàn thuế; Xây dựng khu chế biến xuất khẩu; Khuyến khích các doanh
nghiệp tự do xuất khẩu và nhập khẩu để khai thác lợi thế so sánh và
thúc đẩy tiếp cận đến thị trường thế giới; Giảm dần mức độ bảo hộ cho
các doanh nghiệp trong nước.
Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, bài học rút ra cho Việt Nam
như sau: Thứ nhất, bên cạnh lực lượng lao động thiếu kỹ năng dồi dào
thì Trung Quốc có một lực lượng lớn lao động có kỹ năng và làm việc
thực sự chăm chỉ. Thứ hai, hàm lượng công nghệ trong các mặt hàng
xuất khẩu của Trung Quốc ngày càng tăng từ việc khuyến khích các
doanh nghiệp nước ngoài đặt các dây chuyền sản xuất linh kiện tại
Trung Quốc cho đến việc nâng cấp các doanh nghiệp công nghiệp của
Trung Quốc. Thứ ba, Chính phủ Trung Quốc đầu tư mạnh vào cơ sở hạ
tầng và chất lượng nguồn nhân lực để giảm thiểu chi phí sản xuất cũng
như tạo cơ hội nâng cấp các sản phẩm công nghiệp của Trung Quốc
trong chuỗi giá trị toàn cầu. Thứ tư, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn
định và thuận lợi. Tỷ lệ lạm phát thấp và đồng NDT của Trung Quốc
được định giá thấp so với đồng USD cũng đã khuyến khích hoạt động
sản xuất cho xuất khẩu thay vì nhập khẩu.

3.2. Chính sách thƣơng mại và thƣơng mại quốc tế giai đoạn 20012014
a. Chính sách thương mại:
Trong giai đoạn 2001-2014, nước ta tham gia nhiều hiệp định
thương mại song phương, đa phương và khu vực. Tham gia các Hiệp
13


định thương mại đòi hỏi có những thay đổi về biểu thuế, các hàng rào
định lượng, các hàng rào kỹ thuật, phạm vi và cách thức trợ cấp của
chính phủ,… . Vì vậy, mỗi mốc hội nhập kinh tế quốc tế phản ánh sự
thay đổi trong chính sách thương mại của nước ta. Tỷ lệ thuế giảm dần
qua những lần mở cửa thương mại, hạn ngạch cũng đã hạn chế sử dụng,
tín dụng trợ cấp xuất khẩu đóng vai trò nhất định trong thúc đẩy xuất
khẩu, yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa đã và đang được sử dụng nhưng đem lại
kết quả nhỏ bé trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, mua sắm
chính phủ được sử dụng nhưng mục tiêu hướng tới chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế không rõ ràng, các rào cản hành chính thì chưa được sử
dụng cho thúc đẩy cơ cấu kinh tế.
b. Thực trạng thương mại và cấu trúc thương mại của Việt Nam:
Trong giai đoạn 2001-2014, tỷ trọng thương mại so với quy mô
nền kinh tế có xu hướng tăng, điều này phần nào phản ánh nền kinh tế
nước ta đang ngày một mở cửa lớn hơn với bên ngoài. Tỷ trọng thương
mại/GDP năm 2001 là 103% thì đến năm 2014 tăng lên 169%, độ mở
của nền kinh tế nước ta cao hơn rất nhiều so với nhiều nước đang phát
triển và phát triển trên thế giới.
Cấu trúc thương mại nước ta phản ánh chính xác trình độ phát
triển của nền kinh tế và phản ánh đúng đặc điểm thường thấy của một
nền kinh tế đang phát triển, đó là chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng gia
công, lắp ráp, may mặc, đây là những mặt hàng nghiêng về sử dụng
công nghệ sản xuất thâm dụng lao động. Bên cạnh đó là xuất khẩu

đầu người 0,1 ha, và những nước có quỹ đất thuộc loại eo hẹp này
thường trở thành những nước nhập khẩu thuần lương thực và các nông
sản khác, chứ không phải là nước xuất khẩu thuần” (trang 312-313).
Ohno và Lê Hà Thanh (2015) nhận xét rằng “xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam chủ yếu do các tên tuổi lớn như Samsung, Canon, Intel,
Fujitsu và những thương hiệu lớn của nước ngoài khác cũng như các
nhà sản xuất hàng may mặc và da giầy trong và ngoài nước. Các ngành
này đều là các ngành thâm dụng lao động trong khi Việt Nam phụ thuộc
nhiều vào nguyên vật liệu, linh kiện công nghiệp và sản phẩm tiêu dùng
nhập khẩu. Việc xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng lao động và nhập
khẩu các nguyên liệu và sản phẩm công nghiệp gần như không thay đổi
nhiều trong hai thập kỷ qua”.

15


Về đối tượng tham gia xuất khẩu, hầu hết mọi loại hình doanh
nghiệp đều tham gia xuất khẩu hàng hóa, tuy nhiên, chủ thể nổi bật nhất
trong xuất khẩu hàng hóa là các doanh nghiệp FDI.
Hàm lượng FDI trong các mặt hàng xuất khẩu như điện thoại các
loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy ảnh,
máy quay phim và linh kiện; phương tiện vận tải và phụ tùng đều chiếm
trên 80%. Giày dép các loại xuất khẩu có hàm lượng FDI chiếm đến
gần 80% (Trần Đình Thiên, 2015b).
3.3. Quan hệ giữa thƣơng mại và tăng trƣởng
Mối quan hệ giữa tăng trưởng vốn và độ mở của nền kinh tế giai
đoạn 1987-2014 có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Điều này phản
ánh rằng quá trình mở cửa nền kinh tế đem lại cơ hội cho nền kinh tế,
tuy nhiên nước ta mới chỉ khai thác lợi thế so sánh tĩnh để tận dụng cơ
hội này.

năm 2001, tiếp cận thị trường khổng lồ của thế giới qua sự kiện Việt
Nam gia nhập WTO, và tiếp cận dễ dàng hơn đến các thị trường lớn
như Mỹ, EU, Nhật Bản, ASEAN qua các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới như TPP, FTA giữa Việt Nam và EU, AEC, RCEP) sẽ làm
gia tăng đầu tư và vốn của nền kinh tế, từ đó tác động đến tăng trưởng
kinh tế.
Tỷ lệ tiết kiệm trong nước và/hoặc dòng vốn nước ngoài vào cao
hơn khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại song phương hay
đa phương trong giai đoạn 2001-2014.
Lợi tức thực của vốn cao hơn khi khai thác lợi thế so sánh là
lao động thặng dư: Với việc mở cửa thị trường thông qua các mốc hội
nhập quan trọng như BTA giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2001, WTO
năm 2007, nền kinh tế nước ta thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng thâm
dụng lao động (như dệt may, giày dép) cho thấy lợi tức thực của vốn tại
các ngành có lợi thế so sánh là lao động đã cao hơn khi thị trường được
mở rộng.
Hiệu ứng tăng trưởng nội sinh vì tăng trưởng nhanh do mở cửa
thương mại: Mở cửa thương mại làm tăng kỳ vọng của các nhà đầu tư
vào triển vọng của nền kinh tế, tăng kỳ vọng vào thu nhập tương lai và
do đó tăng đầu tư, sản xuất và tiêu dùng; từ đó thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tăng lại làm kỳ vọng vào thu nhập dài hạn
tăng, kỳ vọng vào doanh thu tăng và sản xuất sẽ tăng. Hơn nữa, sản xuất
17


tăng kéo theo sự mở rộng của nền kinh tế, làm gia tăng đặc tính kinh tế
theo quy mô, và năng suất của nền kinh tế.Tuy nhiên, cũng như các
kênh truyền dẫn vừa nêu trên, ngay trước hoặc sau khi mở cửa (qua các
hiệp định thương mại song phương, đa phương, và khu vực), nền kinh
tế có thể tăng trưởng ở mức cao do kỳ vọng vào lợi nhuận và thu nhập

bên ngoài: Cạnh tranh có thể là kênh truyền dẫn quan trọng mà thương
mại quốc tế tác động đến năng suất của nền kinh tế, tuy nhiên, cấu trúc
thị trường của nhiều sản phẩm nước ta còn mang tính độc quyền hay nói
cách khác chưa mang tính cạnh tranh cao như thị trường điện, xăng dầu,
dược phẩm, tài chính. Hơn nữa, với việc tham gia hội nhập toàn cầu thì
cũng cần phải xác định sức ép cạnh tranh mãnh liệt hơn, nếu không hội
nhập toàn cầu sẽ chỉ đem lại kết quả nhỏ bé cho nền kinh tế.
Phân tán công nghệ và quá trình học thông qua làm: Có thể
thông qua kết nối với các công ty FDI để học tập và hấp thụ công nghệ.
Tuy nhiên, có hai nguyên nhân làm cho quá trình phân tán công nghệ từ
bên ngoài vào nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Thứ nhất là
nguồn nhân lực chất lượng để có thể học tập, hấp thụ và vận hành được
công nghệ nước ngoài và thứ hai là ngành công nghiệp hỗ trợ của nước
ta vừa thiếu lại vừa yếu, làm thiếu vắng bước trung gian để công nghệ
cao từ nước ngoài có thể được truyền tải vào doanh nghiệp trong nước
thông qua đối tác thương mại hoặc thông qua các công ty FDI.
Chuyên môn hóa trong những ngành công nghiệp có tính kinh tế
theo quy mô có thể được thực hiện bằng cách tạo dựng nên các khu
công nghiệp, khu chế xuất hay khu công nghệ cao.
Hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất tại nước ta đã diễn
ra từ lâu, tuy nhiên, các khu này mới chỉ tạo ra không gian cho các
doanh nghiệp định cư chứ chưa đóng vai trò hình thành nên các đặc
điểm để tạo nên tính kinh tế theo quy mô. Các khu công nghiệp, khu
chế xuất chưa có sự đồng nhất hay liên kết theo chuỗi các doanh nghiệp
trong một khu, ngược lại khu công nghiệp và khu chế xuất thường bao
gồm một nhóm đa dạng các doanh nghiệp không có sự tương đồng, liên
quan đến nhau. Các địa phương có khu công nghiệp, khu chế xuất chỉ
mong muốn kêu gọi, thu hút nhằm lấp đầy (lấp đầy là một tiêu chí cho
sự thành công của khu công nghiệp) chứ chưa đặt ra vấn đề hình thành
đặc tính tính kinh tế theo quy mô hay độ lan tỏa về công nghệ.

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là xu hướng chính của nền
kinh tế toàn cầu.
Thứ ba, Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, tuy nhiên
giai đoạn kết thúc thời kỳ dân số vàng của nước ta là 2020-2025.
20


4.2. Một số dự báo, xu hƣớng tăng trƣởng và thƣơng mại tới năm
2025
Xét dưới khía cạnh quy mô nền kinh tế, Việt Nam đang đứng
thứ 55 thế giới với GDP đạt khoảng 186 tỷ USD. Theo dự báo của ngân
hàng đầu tư Goldman Sachs, “đến năm 2025, GDP sẽ tăng vượt bậc lên
mức 450 tỷ USD. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ tiến lên vị trí 17 thế
giới”.
4.3. Quan điểm và định hƣớng chính sách thƣơng mại tới năm 2025
Thứ nhất, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản
và nông sản thô; tăng dần tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng chế tác, công
nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ, các mặt hàng nông nghiệp tinh
chế.
Thứ hai, đa dạng hóa thương mại để tránh phụ thuộc nguồn
cung ứng đầu vào tại một thị trường hoặc tránh phụ thuộc vào số ít thị
trường.
Thứ ba, giảm dần các chính sách thương mại thiên về sử dụng
thuế quan và các giới hạn hạn ngạch, chuyển sang các biện pháp phi
thuế quan như thủ tục hành chính, các rào cản kỹ thuật tinh vi để phù
hợp với các cam kết trong các hiệp định, vừa đạt được các mục tiêu
tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cấu trúc thương mại.
4.4. Các giải pháp hoàn thiện chính sách thƣơng mại nhằm thúc
đẩy tăng trƣởng của nền kinh tế
Các đề xuất chính sách được chia thành 3 nhóm: nhóm các giải

sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có đặc tính tính
kinh tế theo quy mô, và có hiệu ứng lan tỏa lớn đến
các ngành, sản phẩm và khu vực khác của nền kinh
tế;
(ii)
Các cơ quan chức năng và Hiệp hội ngành hàng cần
đồng hành với các doanh nghiệp xuất khẩu tham
gia các hội chợ triển lãm và giới thiệu sản phẩm ở
nước ngoài;
Chính sách nhập khẩu:
(i)
Nhập khẩu có chọn lọc các loại đầu vào chất lượng
để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế nói chung và các ngành, doanh
nghiệp nói riêng;
(ii)
Xây dựng các công cụ bảo hộ tinh vi nhằm hỗ trợ
cho các mục tiêu sản xuất trong nước, hỗ trợ cho
22


quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
hiện đại;
(iii)
Sử dụng tỷ lệ nội địa hóa để giúp phát triển ngành
công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp mũi
nhọn, tuy nhiên, biện pháp này cần đi kèm với các
giải pháp như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, hợp tác
chuyển giao công nghệ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status