Cộng hoà nam phi, giải pháp phát triển cho quan hệ kinh tế - thương mại giữa việt nam và cộng hoà nam phi trong thời gian tới - Pdf 64

Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp tục kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 1991-2000, mở rộng đa dạng
hoá thị trường vẫn là một trong những khâu then chốt của chiến lược phát triển xuất
nhập khẩu cho thời kỳ 2001-2010. Trong đó, đẩy mạnh tìm kiếm các thị trường mới
là quan điểm chủ đạo, xuyên xuốt. Trong khi nhiều thị trường đã trở nên bão hoà thì
Châu Phi lại nổi lên như một thị trường thật sự mới mẻ và tiềm năng.
Trong số 54 quốc gia tại Châu Phi, Cộng hoà Nam Phi là nước có nền kinh tế
phát triển nhất, với diện tích 1.228 triệu km, dân số 43,2 mở ra nhiều tiềm năng và
cơ hội cho Việt Nam, đóng một vai trò quan trọng trong hợp tác kinh tế thương mại
giữa Việt Nam và Châu Phi nói chung.
Hơn thế nữa, Nam Phi có một nền kinh tế khá mạnh, vị trí địa lý thuận lợi, cơ
sở hạ tầng rất phát triển, với hệ thống cảng biển hiện đại ngang tầm với các nước
phát triển khác trên thế giới. Nam Phi được coi là thị trường đầu mối hết sức quan
trọng ở Châu Phi. Thông qua đó, chúng ta có thể nhập khẩu rồi tái xuất đi các thị
trường khác ở Châu Phi, thậm chí sang cả các thị trường phát triển như EU, Mỹ...
Tuy nhiên, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Cộng hoà Nam Phi còn ở
mức độ rất khiêm tốn, thực sự chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên. Năm
2002, xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi đạt 50 triệu USD, kim ngạch này chỉ
chiếm chưa đầy 0,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam
từ Nam Phi lại càng thấp, chỉ đạt 5,07 triệu USD, chiếm 0,08% kim ngạch nhập
khẩu của Nam Phi.
Bên cạnh đó, quan hệ hợp tác giữa nước ta và Châu Phi trên các lĩnh vực
thương mại, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ đang ở mức không đáng kể.
Chính vì thế, để tăng cường quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Cộng
hoà Nam Phi nói riêng và toàn Châu Phi nói chung, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng
buôn bán hai chiều trong thời kỳ 2001-2010, cũng như mở rộng quan hệ trên các
lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Việc nghiên cứu và tìm hiểu thị trường
Nam Phi, nắm bắt thực trạng mối quan hệ thương mại hiện nay giữa Việt Nam với
4

giúp em hoàn thành được khoá luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
5
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
chú Nguyễn Anh Tuấn, Vụ phó Vụ Châu Phi Tây Nam Á; anh Tạ Đức Minh,
chuyên viên Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Thương mại, những người đã cung cấp
cho em có được nhiều tài liệu quý giá.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ NAM PHI
I/ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN :
1/ Điều kiện địa lý-khí hậu:
1.1/ Điều kiện địa lý:
Đất nước Cộng hoà Nam Phi nằm ở phía dưới cùng của Châu Phi với
1.219.912 km
2
, bao gồm cả hải đảo Prince Edward, thuộc vĩ độ 22-35
o
về phía
Nam và 17-33
o
về phía Đông. Nam Phi chiếm 4% diện tích toàn Châu Phi, lớn
gấp năm lần diện tích của Anh, gấp đôi Pháp và gần bằng diện tích của Đức,
Pháp, Italia cộng lại.
Nam Phi có đường biên giới chung với nước Namibia, Botswana và
Zimbabue, trong khi Vương quốc Lesotho nằm hoàn toàn trong Nam Phi. Phía
Đông Bắc giáp ranh với Mozambique và Swaziland. Phía Tây, Nam, Bắc có
biển Đại Tây Dương và biển Ấn Độ Dương bao bọc, chính vì thế phía Tây
được bao bọc bởi dòng nước lạnh Benguela từ biển Atlantic, phía Đông là dòng
nước ấm từ Ấn Độ Dương. Bờ biển của Nam Phi dài tới 2.954 km với rất nhiều
đồng cỏ, thảo nguyên và rừng.

gốc Á. Tốc độ tăng dân số là 60.000 người/tháng. Số người ở độ tuổi lao động
(từ 15-64) là 14,4 triệu và tăng lên theo mức 2,8% hàng năm. Bên cạnh đó, cũng
có tới 54% dân số ở độ tuổi dưới 24, trong đó tỷ lệ dưới 14 là 32,01% tổng dân
số.
7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
II/ ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI-CHÍNH TRỊ-KINH TẾ :
1/ Điều kiện xã hội :
1.1. Lịch sử:
Từ thế kỷ 16 trở về trước, trên lãnh thổ Nam Phi chỉ có người Phi thuộc
các bộ lạc Bantu, Khoi-Khoi và Hottentotes sinh sống. Thế kỷ 17 và 18, người
Hà Lan và người Anh đến đây xâm chiếm, đẩy lùi người dân bản xứ vào sâu nội
địa. Sau cuộc chiến tranh diễn ra từ năm 1899 đến 1902, người Hà Lan buộc
phải chấp nhận sự bảo hộ của Thực dân Anh.
Ngày 31/5/1910, sau khi sát nhập 4 tỉnh Cape, Orange, Transval và Natal,
Vương quốc Anh thành lập Liên bang Nam Phi tự trị. Năm 1948, Đảng Quốc
gia của người da trắng lên nắm quyền ở Nam Phi, thi hành chính sách Apacthai
và các đạo luật phân biệt chủng tộc, đàn áp, bóc lột người bản xứ.
Ngày 31/5/1961, sau khi đơn phương trưng cầu dân ý trong những người
da trắng, chính quyền Nam Phi rút ra khỏi Khối Liên hiệp Anh và tuyên bố
thành lập nước Cộng hoà Nam Phi độc lập. Các tầng lớp tư sản Nam Phi khai
thác tài nguyên thiên nhiên giầu có, bóc lột người Phi và cấu kết với người tư
bản nước ngoài, tạo nên “thần kì kinh tế” trong những năm 20-60, xây dựng cơ
sở hạ tầng tương đối phát triển ở Nam Phi.
Từ cuối những năm 80, trước sức ép của cộng đồng quốc tế và sức mạnh
của đấu tranh nhân dân, chính quyền Nam Phi đã buộc phải tiến hành cải cách,
trả tự do cho các nhà hoạt động chính trị, trong đó có Nelson Mandela, đối thoại
với các đảng phái đối lập, xoá bỏ chế độ phân biệt chủng tộc Aparthai. Năm
1994, Nam Phi tiến hành cuộc tổng tuyển cử đa sắc tộc đầu tiên, đảng ANC

nước phương Tây.
1.3. Đời sống:
9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
Trải qua thời kỳ mông muội, nghèo đói của một Châu Phi lạc hậu và giai
đoạn hà khắc của chế độ phân biệt chủng tộc Aparthai, đời sống của người dân
Nam Phi đã thay đổi nhanh chóng. Năm 2002, với mức thu nhập bình quân đầu
người trên 3000 USD, Nam Phi đã được xếp vào hàng có thu nhập cao trong số
các nước đang phát triển (theo phương pháp PPP, GDP/người năm 2002 lên đến
9.400USD).
Mặc dù vậy, chính sách phân biệt chủng tộc đã được xoá bỏ cách đây gần
một thập niên, hiện nay khoảng cách giữa mức sống của người da đen và người
da trắng vẫn còn rất xa. Thậm chí, đối với một số người, Nam Phi là hai nước
chứ không phải một: một nước là của người da trắng, với mức sống tương
đương với người dân những quốc gia phát triển nhất thế giới, và một nước của
người da đen, có thể xếp vào những quốc gia nghèo nhất thế giới.
Bên cạnh đó Nam Phi còn tồn tại rất nhiều vấn đề nóng bỏng. Theo số
liệu năm 2000, tỷ lệ lạm phát là 5,3%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 30%, tỷ lệ dân số
sống dưới mức nghèo khổ là 50%, chủ yếu là người da đen.
Một trong những vấn nạn nghiêm trọng nhất của xã hội Nam Phi hiện nay
là sự bành trướng của dịch bệnh AIDS. Nam Phi hiện là nước có số dân nhiễm
virus HIV nhiều nhất thế giới. Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, có hơn 4 triệu
200 ngàn người Nam Phi là nạn nhân của căn bệnh thời đại này. Riêng trong nữ
giới, cứ 4 người phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 29 là có 1 người nhiễm HIV.
Thiếu hiểu biết về sự lây lan của căn bệnh, ăn ở thiếu vệ sinh và thiếu
điều kiện chăm sóc sức khoẻ là những nguyên nhân gây ra sự lây lan nhanh
chóng của bệnh AIDS ở Nam Phi. Căn bệnh tai ác này còn là mối đe doạ chính
cho dân số Nam Phi. Bởi nếu không có bệnh AIDS, dân số Nam Phi, từ khoảng
gần 44 triệu hiện nay sẽ có thể tăng lên 52 triệu vào năm 2015.

HIẾN PHÁP
THỐNG ĐỐC
TỈNH
QUỐC HỘI
TOÀ ÁN
THƯỢNG
THẨM, TỐI CAO
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
3. Kinh tế :
3.1. Tăng trưởng kinh tế :
Mặc dù là một nước đang phát triển, Cộng hoà Nam Phi là nước có nền
kinh tế lớn nhất, đa dạng nhất và tiên tiến nhất ở Châu Phi. GDP của Nam Phi
năm 2002 đạt 148 tỷ USD, lớn gấp 3 lần Ai Cập, gấp 4 lần Nigeria, là những
nước có nền kinh tế mạnh nhất của Châu Phi.
Nhìn chung, mức tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 1995-2000
đạt 874 tỷ Rand (đồng tiền của Nam Phi) tức là khoảng 127 tỷ USD, đạt 2.3%,
trong đó nông nghiệp tăng 5%, công nghiệp tăng 37%, dịch vụ tăng 58%. GDP
bình quân đầu người năm 2000 lên đến 2.896 USD. Động lực cho sự phát triển
chủ yếu nhờ sự thay đổi trong chính sách của Chính phủ trong việc chuyển từ
tập trung vào thị trường nội địa sang nền kinh tế hướng ra xuất khẩu. Nguyên nhân
thứ hai là do việc thay đổi cơ cấu của nền kinh tế sang sản xuất và xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ thay vì chỉ dựa chủ yếu vào khai thác nguyên liệu khoáng sản.
GDP tính theo loại hình hoạt động kinh tế với giá hiện hành và giá cơ bản (tỉ rand)
Giai
đoạn
Nông
lâm
ngư
nghiệp

1999 24.555 44.187 135.952 21.262 21.304 71.340 95.159 309.384 723.247
2000 25.375 51.563 148.875 22.352 22.995 80.062 103.923 339.042 793.993
2001 25.689 51.756 151.169 23.389 24.268 89.626 113.569 349.458 832.158
2002 25.897 52.468 159.654 25.469 28.459 93.156 189.457 353.458 864.157
Nguồn Niên giám Nam Phi 2001 - 2002
3.2. Cơ cấu nền kinh tế :
Nam Phi là một nước rất giầu tài nguyên, khoáng sản, công nghiệp,
nông nghiệp phát triểm có khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nam
Phi có thế mạnh về sản xuất hàng công nghiệp, điện năng, khai khoáng, dịch
vụ, thương mại.
3.2.1/ Nông nghiệp:
Vị trí địa lý thuận lợi với bờ biển dài tới 3000km, đã tạo nên một khí hậu
khá ôn hoà với 2 mùa mưa nắng, nhiệt độ trung bình từ 20-25
0
C, hình thành nên
một môi trường cho cây trái quanh năm xanh tốt. Nam Phi là một trong số
không nhiều nước trên thế giới có nền nông nghiệp phát triển đa dạng sản phẩm
như lúa mì, ngô, mía đường, thuốc lá, hạt hướng dương, hoa quả nhiệt đới...
chẳng những đảm bảo được an ninh lương thực mà hàng năm còn xuất khẩu với
một khối lượng đáng kể.
Riêng năm 2001, nông nghiệp đóng góp khoảng 3% vào GDP của Nam
Phi và thu hút khoảng 9% lực lượng lao động. Hiện nay, Nam Phi không chỉ tự
túc được về hầu hết các nông sản chủ yếu mà còn là một nhà xuất khẩu nông
sản. Mặc dù nông nghiệp có xu hướng giảm tỷ trọng trong GDP, nhưng nông
sản và nông sản chế biến đóng góp khoảng 4% kim ngạch xuất khẩu của Nam
Phi khoảng trên dưới 1 tỷ USD/năm.
3.2.2/ Lâm nghiệp :
13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E

Tờn khoỏng sn n v
Sn lng
(nm 2002)
T l % trong
tng sn lng
ton th gii
Th hng
trờn th
gii
Nhụm Nghỡn tn 172 1 22
Nhụm-silicat Nghỡn tn 188 32 1
Antimoan Tn 4 534 12 4
Asbestos Nghỡn tn 104 4 7
Qung Chrome Nghỡn tn 3 600 37 1
Than ỏ Nghỡn tn 195 800 6 4
ng Nghỡn tn 173 2 13
Kim cng Nghỡn cara 10 324 10 5
St-chrom Nghỡn tn 1 104 35 1
St-mangan Nghỡn tn 662 10 3
St-silicon Nghỡn tn 99 3 6
Flourspar Nghỡn tn 218 6 4
Vng Tn 580 25 1
Qung st Nghỡn tn 32 300 3 8
Qung-mangan Nghỡn tn 2 851 12 3
Nicken Nghỡn tn 30 3 7
ỏ phosphat Nghỡn tn 2 466 2 9
Kim loi nhúm
Platin
Tn 184 53 1
Kim loi silicon Nghỡn tn 38 6 7

khác trước đó chưa tiến hành đầu tư ở Nam Phi bây giờ cũng bắt đầu tiến sâu
vào thị trường này với những bước đi hứa hẹn. Đặc biệt như Italia, Thuỵ Điển
và Hà Lan. Chính vì vậy, Châu Âu cùng với Bắc Mỹ đã trở thành nguồn FDI
chính tại đất nước Nam Phi này.
Về lĩnh vực đầu tư, công nghệ thông tin, năng lượng dầu khí, môtô, thực
phẩm và đồ uống, kinh doanh khách sạn , giải trí, du lịch là những lĩnh vực
chiếm khối lượng FDI lớn, lên tới 30 tỷ rand.
16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
3.2.6. Dịch vụ, du lịch:
Lĩnh vực dịch vụ của Nam Phi khá phát triển, chiếm 66% GDP năm 2001.
Quan trọng nhất phải kể đến du lịch, bình quân đóng góp khoảng 5% vào GDP.
Năm 2000 có trên 6 triệu khách du lịch nước ngoài tới Nam Phi (đứng đầu châu
Phi). Ngoài ra, các dịch vụ như tài chính ngân hàng, viễn thông, vận tải của Nam
Phi khá hoàn chỉnh và tiên tiến so với các nước đang phát triển khác.
Cũng như vậy, kể từ khi chế độ của đảng Dân tộc chính thức lên nắm
quyền năm 1994 ở Nam Phi, ngành công nghiệp du lịch đã có một bước ngoặt
quan trọng, với tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch hàng năm lên tới 32%. Đây
được coi là một hiện tượng của ngành du lịch trên thế giới. Phát triển du lịch
trên thế giới nói chung và cải cách chính sách ở Nam Phi nói riêng. Một môi
trường hoà bình ổn định đã làm nên sự đột phá chưa từng có trong lĩnh vực du
lịch, đặc biệt là ở các thành phố như Johansbourg, Pretoria, Cape Town và
Durban.
3.2.7. Xuất nhập khẩu:
• Tốc độ tăng trưởng:
Nam Phi là thành viên của GATT trước kia và WTO hiện nay. Thị trường
Nam Phi được tự do hoá ở mức độ cao. Ngành ngoại thương chiếm khoảng 50%
GDP. Năm 1998, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đạt trên 64 tỷ USD,
trong đó xuất khẩu là 31 tỷ USD, nhập khẩu là 33 tỷ USD.

Tăng
trưởng
3,9%/năm 4,9%/năm 2,9%/năm
Nguồn Bộ Thương mại
Nền ngoại thương Nam Phi phát triển nhất Châu Phi và có sự tăng
trưởng đáng kể trong thập kỷ 90, bình quân tăng 3,9%/năm. Từ năm 1991
đến 1997, kim ngạch mậu dịch tăng trưởng liên tục, đạt đỉnh cao vào năm
1997 là 59,9 tỷ USD. Trong mấy năm gần đây, buôn bán tăng giảm thất
thường nhưng vẫn ở mức cao. Đáng lưu ý là năm 1994 đến 2001, Nam Phi
luôn xuất siêu tương đối lớn.
18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
• Cơ cấu mặt hàng :
Nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu của Nam Phi là sản
phẩm chế tạo (cả thành phẩm và bán thành phẩm), chiếm 58,3% xuất khẩu vàng
84% nhập khẩu năm 2001. Khoáng sản và nhiên liệu chiếm vị trí thứ hai trong
xuất khẩu (chiếm 37,9%xuất khẩu năm 2001) và cả trong nhập khẩu (15%).
Nhóm hàng nông sản ngày càng giảm tỷ trọng trong trao đổi thương mại của
Nam Phi, năm 2001 chỉ chiếm 3,5% xuất khẩu và 1,4% nhập khẩu.
Xét về mặt hàng, kim loại quý (đặc biệt là vàng), sắt thép, các sản phẩm
máy móc thiết bị luôn là những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Nam Phi. Xuất
khẩu vàng và các kim loại quý khác năm 2002 đạt 11,6 tỷ USD, chiếm trên 30%
tổng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu sát thép cũng liên tục tăng và năm 2002
đạt trên 2,7 tỷ USD. Trong những năm gần đây, máy móc thiết bị và phương
tiện vận tải được tập trung vốn đầu tư và kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn.
Tổng giá trị xuất khẩu năm 2002 lên đến trên 3,4 tỷ USD. Mặt hàng nông sản
(đường, các loại hoa quả) cũng là một thế mạnh xuất khẩu của Nam Phi. Ngoài
ra phải kể đến đồ uống có cồn, hoá chất, than và uranium.
Các sản phẩm nhập khẩu chính của Nam Phi gồm máy móc thiết bị các

USD)
Thứ tự Tên nước
Kim ngạch
XNK (tỷ USD)
1 Mỹ 6,98 6 Italia 1,95
2 CHLB Đức 6,05 7 Pháp 1,81
3 Anh 5,14 8 Bỉ 1,44
4 Nhật Bản 4,37 9 Đài Loan 1,36
5 Hà Lan 2,07 10 Zimbabue 1,33
Nguồn : Niên giám Nam Phi 2002
Sau đây là 3 nước tiêu biểu có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào Nam
Phi, đó là Đức, Mỹ, Anh . Đấy là 3 trong những nước phát triển có mối quan hệ
buôn bán với Nam Phi từ nhiều năm nay:
Đức:
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
Nam Phi nhập khẩu từ Đức 10 loại mặt hàng chính. Trong đó chủ yếu là
máy móc các loại chiếm tỷ lệ lớn nhất (chiếm tới 40%). Tuy nhiên tỷ lệ tăng
trưởng của mặt hàng này lại ở mức độ thấp (4,7%) từ năm 1996-2000. Bên cạnh
đó các thiết bị đặc biệt của ôtô cũng chiếm bị trí thứ hai trong kim ngạch nhập
khẩu từ Đức (39,72%). Tỷ lệ tăng hằng năm của mặt hàng này là 12,68%. Hoá
chất là mặt hàng đứng thứ ba trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Đức vào Nam
Phi. Tốc độ tăng trưởng hàng năm là 9,24%. Da thuộc chất lượng cao tuy chỉ
chiếm 0,2% kim ngạch nhập khẩu từ Đức nhưng lại có tốc độ tăng cao nhất
(33,38%). Chỉ có các mặt hàng từ sắt và các chất không hợp kim giảm 12,1%.
Hiện nay Nam Phi có các nhà máy lắp ráp và sản xuất linh kiện ôtô cho 3
hãng xe ôtô của Đức là BMW, Mercedez Ben, VW. Nhu cầu nhập khẩu hàng để
lắp ráp và thay thế của các nhà máy đó ngày càng tăng chúng minh cho lsu
thành công của các doanh nghiệp sản xuất xe ôtô khi thâm nhập thị trường Nam

1. Tình hình hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường của Cộng hoà Nam Phi:
Nhận thức sự hợp tác kinh tế và hội nhập khu vực có một vai trò quan
trong trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, từ đầu những năm 1990,
Nam Phi đã tích cực hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Nam Phi là thành
viên chủ chốt của SACU
(*)
(Liên minh quan thuế miền Nam Châu Phi) và là
thành viên tích cực của SADC
(**)
(Cộng đồng phát triển miền Nam Châu Phi).
(
*)
Liên minh quan thuế miền Nam Châu Phi(SACU): Bao gồm các nước Đông Nam Phi
là Nam Phi, Botxoana, Lesotho, Namibia, Xoadilen.Hoạt động thương mại giữa các nước
SACU là hoàn toàn tự do, và hầu như không có rào cản để nhằm mục đích đẩy mạnh buôn bán
trong nội bộ khối. Ngoài ra, tổ chức này còn quy định một biểu thuế quan chung giữa các nước
thành viên.
(
**)
Cộng đồng phát triển miền Nam Châu Phi (SADC): Bao gồm 14 nước ở miền
Trung v Nam Châu Phi, bao gà ồm Angola, Botxoana, CHDC Côngô, Lesotho, Malaisia,
Mauritius, Mozambic, Namibia, Seychelles, Nam Phi, Swaziland, Tazania, Zambia và
22
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
Năm 2000, Hiệp định Nam Phi - EU về thương mại, phát triển và hợp tác
đã có hiệu lực, theo đó 95% hàng xuất khẩu của Nam Phi và 85% hàng xuất
khẩu của EU được tự do thâm nhập vào thị trường của nhau mà không chịu hạn
ngạch và thuế.
Quan hệ thương mại giữa Mỹ và Nam Phi về thương mại cũng rất gắn bó,

mặt hàng hiện nay vẫn cần giấy phép nhập khẩu là các sản phẩm sữa (vì lý do
sức khoẻ), xăng dầu (mặt hàng chiến lược), hoá chất độc hại, vũ khí.
2/ Các chính sách xuất nhập khẩu của Cộng hoà Nam Phi:
2.1. Hệ thống các biện pháp mới về mở cửa thị trường.
2.1.1. Thực hiện loại bỏ và cắt giảm thuế quan:
Trước kia Nam Phi tính phí phụ thu nhập khẩu (import surcharge) từ 5%
đến 40% trị giá nhập khẩu cho một số mặt hàng như : nông sản, hàng công
nghiệp ... sau 01/10/1995 tất cả các phí phụ thu đó bị loại bỏ.
Theo thoả thuận cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay về GATT thì Nam
Phi đã cam kết giảm thuế từ mức trung bình 21% xuống còn 14% vào năm 1999.
Giai đoạn giảm thuế đầu tiên bắt đầu từ 27/01/1995 và gia đoạn cuối cùng vào
năm 1999. Tuy nhiên Nam Phi đã tiến nhanh hơn trong quá trình này. Ví dụ như
mặt hàng thuế cam kết đáng lẽ phải ở mức 16% thì nay Nam Phi áp dụng là 8%.
Một số mặt hàng nằm trong danh sách mặt hàng nhạy cảm như ô tô, dệt may đòi
hỏi phải có khoảng thời gian lớn hơn là thời gian thông thường 5 năm. Hàng dệt
may là một ví dụ. Nam Phi cam kết sẽ giảm thuế quần áo từ 100% xuống còn
45%, vải từ 50% xuống 25%, sợi chỉ (yam) từ 35% xuống còn 17,5% và sợi thô
(fibre) từ 15% xuống còn 10%.
Riêng đối với khối SADC thì Nam Phi đã cam kết lịch trình lại bỏ thuế
quan trong vòng 12 năm bắt đầu từ tháng 12/2000.
Bên cạnh đó, Nam Phi miễn và giảm thuế cho khoảng 86% hàng nhập
khẩu từ EU trong vòng 12 năm (81% hàng nông sản và 86% hàng công nghiệp.
EU cũng cam kết tương tự với khoảng 95% hàng nhập khẩu từ Nam Phi (61,4%
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
hàng nông sản và 99,98% hàng công nghiệp) trong vòng 10 năm. Hiệp định tự
do thương mại EU/Nam Phi bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2000. Dựa trên cơ
sở đó Nam Phi cũng cam kết thành lập khu vực thương mại tự do với 15 nước
EU vào năm 2012, chiếm 90% tổng thương mại hiện nay giữa hai bên. Tuy

quy định về chuyển đổi ngoại tệ đều do EXCON (Vụ quản lý ngoại tệ của Ngân
hàng Dự trữ Quốc gia Nam Phi) điều chỉnh. Các Ngân hàng được quyền mua
bán ngoại tệ theo quy định của EXCON.
Việc thanh toán hàng nhập khẩu bằng ngoại tệ được thực hiện dựa trên
việc trình các chứng từ hợp lệ đối với Ngân hàng. Thông thường các Doanh
nghiệp Nam Phi phải trình Hợp đồng mua bán hoặc Profoma Invoice cho Ngân
hàng.
2.1.3. Các cải tiến về hệ thống tiêu chuẩn và xác nhận.
Nam Phi đã tiến hành cải tiến hệ thống tiêu chuẩn đo lường và xác nhận phù
hợp với các quy định của Quốc tế trong quá trình hội nhập, Cục đo lường và tiêu
chuẩn của Nam Phi (SABS) chịu trách nhiệm đề ra những tiêu chuẩn đối với
việc quản lý chất lượng và kiểu mã sản phẩm cho hàng nhập khẩu và sản xuất
trong nước. Cung cấp thông tin về tiêu chuẩn, giấy chứng nhận và kiểm tra . Cục
này là thành viên đầy đủ của ISO.
Ngoài ra, Trung tâm thông tin của Nam Phi về tiêu chuẩn tại SABS có
thể cung cấp thông tin cho các nhà xuất khẩu về hơn 500.000 tiêu chuẩn ,
mã của các biện pháp thực hiện và kiểm tra. Các tiêu chuẩn của Quốc tế như
ISO, IEC, CISPR. Các tiêu chuẩn của Châu Âu như CEN, CENELEC và các
tiêu chuẩn quốc gia như BSI, DIN, AFNOR, ANSI và cả các tiêu chuẩn của
nước nhập khẩu.
Hơn nữa, SABS còn có một bộ phận cấp phép cho các hoạt động kinh doanh
sản xuất và người tiêu dùng. Có ba hệ thống chứng nhận chính: chứng nhận về
hệ thông, chứng nhận về sản phẩm, chứng nhận về từng lô hàng cụ thể.
26
Kho¸ luËn tèt nghiÖp T¹ Thu Hµ - Líp Ph¸p 1-
K38E
• Hệ thống chứng nhận được nhiều người biết đến nhất là ISO 9001/
9002 cho quản lý chất lượng và hệ thống quản lý môi trường SABS
14000. Chúng bao gồm những đánh giá hoặc kiểm tra chất lượng của
Công ty hoặc hệ thống quản lý môi trường tổng thể phù hợp với các

xuất nhập hàng hoá xuống còn 19 cảng cạn, 10 cửa khẩu hàng không, 7 cảng
biển và các địa điểm thông quan đường sắt được đăng ký.
Nói chung chứng từ hải quan cho xuất nhập khẩu ở Nam Phi không khác
so với các nước. Một số hàng hoá nh là thực phẩm và dược phẩm cần phải có
các giấy chứng nhận bổ xung để có thể vào bán tại Nam Phi.
Để thanh toán, các nhà nhập khẩu phải trình diện bộ chứng từ vận tải và hoá
đơn thương mnại cho Ngân hàng như là bằng chứng của lô hàng đã được thông
quan.
3.2.1. Cải cách trong hệ thống thuế quan nhập khẩu
Vì Nam Phi là thành viên của WTO nên Nam Phi cho tất cả các nước thứ
ba được hưởng thuế MFN.
Nam Phi cũng đã ký kết Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Quốc tế về hài
hoà và đơn giản hoá thủ tục hải quan (Hiệp định Kyoto) với mục đích là loại bỏ
sự khác biệt về thông lệ và thủ tục hải quan mà có thể là sẽ gây ảnh hưởng xấu
tới thương mại Quốc tế và các trao đổi quốc tế khác. đảm bảo một hệ thống
thích hợp cho việc quản lý hải quan , đáp ứng nhu cầu của hải quan và thương
mại quốc tế, cho phép hải quan có thể phản hồi lại đối với những thay đổi cơ
bản trong phương pháp và kỹ thuật quản lý kinh doanh.
Hàng năm một danh sách các mặt hàng cần có giấy phép nhập khẩu được
nêu trong chương trình quản lý nhập khẩu hàng năm và có hiệu lực đối với tất cả
các nước. Giấy phép cho hàng hoá chịu sự quản lý do Vụ trưởng của Ban quản
lý xuất nhập khẩu Bộ Công thương cấp.
28

Trích đoạn NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CỘNG HOÀ NAM PHI: Cụ thể hoá chủ trương phát triển quan hệ thương mại với CH Nam Ph Đẩy mạnh công tác thông tin: Hỗ trợ về tài chính: Thành lập trung tâm thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status