Quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam & Mỹ - Pdf 14

Lời Nói Đầu
Trong số các xu hớng mang tính toàn cầu nổi lên trong mấy thập
niên gần đây, xu hớng chủ đạo thờng đợc đề cập đến là toàn cầu hoá. Toàn
cầu hoá, trên thực tế là xu hớng đợc khởi xớng từ các nớc phát triển. Nhng
cho đến nay nó đã và đang kéo tất cả các nớc, kể cả các nớc chậm phát
triển nhất vào quỹ đạo của mình nh một tất yếu lịch sử. Nó đang thiết định
những nguyên tắc mới của cuộc chơi trên bàn cờ thế giới cho tất cả các n-
ớc mà không phân biệt lớn hay nhỏ, phát triển hay kém phát triển. Cũng
vậy, Mỹ và Việt Nam không nằm ngoài "cuộc chơi" này.
Đối với nớc ta, với bớc chuyển sang hệ thống kinh tế thị trờng mở
cửa, xu hớng này cũng đang tác động rất mạnh, có ảnh hởng to lớn và toàn
diện đến tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế-chính trị-xã hội. Trong
đó, việc thiết lập quan hệ thơng mại với Mỹ- một siêu cờng kinh tế thế giới
đang là một trong những vấn đề bức xúc cần thúc đẩy.
Về phía Mỹ, sau hơn 20 năm áp đặt lệnh cấm vận kinh tế và tuyệt
giao mối quan hệ với Việt Nam, đến nay Mỹ đã dần tháo bỏ những bức tờng
cấm đó để thực hiện quá trình bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam trong
đó mục tiêu kinh tế đợc coi là cơ sở, nền tảng chủ yếu trên nguyên tắc đôi
bên cùng có lợi, đồng thời đây cũng là kết quả tất yếu khách quan của tiến
trình toàn cầu hoá đang đợc thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ.
Do từ khi kết thúc chiến tranh năm 1975 đến năm 1991, mối quan hệ
Việt Mỹ hầu nh bị lãng quên nên trong bản luận văn này, ngời viết muốn
phân tích về mối quan hệ đó từ năm 1991 đến nay, bắt đầu từ mối quan hệ
ngoại giao đến việc ký kết các hiệp ớc kinh tế, tháo gỡ các rào cản thơng
mại và tài chính và việc ký kết một hiệp định thơng mại cũng nh những triển
vọng của mối quan hệ này.
Trong quá trình làm tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót
em mong nhận đợc ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn đọc.
1
Chơng I
Sự hình thành phát triển quan hệ Việt-Mỹ

khuôn khổ 'đồng yên'. Theo thực định, " Kịch Bản Châu á" đợc hình thành
do hai hớng phát triển kinh tế chính trị : Một hớng do các nguyên nhân bên
ngoài tạo ra và một hớng khác do tiến trình của các sự kiện bên trong sinh
ra. Thứ nhất, các mâu thuẫn thơng mại giữ một bên là Đông á, một bên là
Mỹ và Tây âu đã đạt đến độ gay gắt trong đó Nhật Bản, các nớc Đông Bắc
2
á, Đông Nam á luôn nêu cao chủ nghĩa khu vực. Thứ hai, thơng mại bên
trong khu vực và các dòng đầu t qua lại đang đợc tăng cờng đến mức tất
yếu là cơ sở cho dòng liên kết chính trị. Trong trờng hợp đó, một chính
sách chung sẽ đợc đa ra và hoạt động phù hợp với tổ chức thơng mại thế
giới (WTO) , bao quát tất cả các lĩnh vực thơng mại, hoạt động đầu t và
kinh tế vĩ mô mà điều này cuối cùng sẽ dẫn đến hình thành khu vực tự do
Đông á hoặc thị trờng chung Đông á.
Hơn nữa, một lý do thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, mậu dịch nội khu
vực phát triển mạnh mẽ cũng đợc giải thích bằng sự không đồng đều về
trình độ phát triển giữa các nớc trong khu vực. Nó có nghĩa là mô hình
phân công lao động nhiều tầng đã đợc các nớc trong khu vực, đặc biệt nớc
đang phát triển, khai thác bằng cách thực hiện chiến lợc mở cửa nền kinh tế
thu hút công nghệ cao và phát huy những thế lợi so sánh của mình.
Do đó, trong những năm qua buôn bán giữa các nớc Đông á với nhau,
giữa Đông á với các nớc khác trong khu vực Châu á -Thái bình Dơng đã
trở thành động lực chính thúc đẩy sự phát triển của cả khu vực. Các Công ty
xuyên quốc gia chuyển trọng tâm chiến lợc đầu t vào Đông á. Tỷ Trọng
mậu dịch giữa các nớc trong khu vực đã tăng từ 37% đến 40% trong những
năm trớc khủng hoảng.
Cùng với xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá trên thế giới, châu á cũng
hình thành nhiều chơng trình hợp tác kinh tế khu vực và tiểu khu vực: Khu
vực mậu dịch tự do ASEAN , vùng kinh tế Đông á, vùng kinh tế Đông Bắc
á, vùng kinh tế Hoàng Hà, Hoa Nam, các tam giác, tứ giác tăng trởng giữa
các nớc ASEAN.

1997 trở thành nguyên nhân dẫn đến sự mở cửa trở lại cho đầu t
trực tiếp nớc ngoài mạng mẽ hơn rất nhiều. Chỉ riêng trong năm
1998, Hàn Quốc đã nhận đợc 8 tỷ USD _ FDI, Thái Lan cũng
nhận đợc 8 tỷ USD chiếm gần 8% GNP. Đến năm 2000, Châu á (
không kể Nhật Bản) có khả năng đuổi kịp và vợt Tây Âu về thu
hút FDI. Các nghành chế tạo, đặc biệt là nghành viễn thông và kỹ
thuật thông tin sẽ là những nghành dẫn đầu về thu hút FDI vaò
năm 2000.
1.2 Lợi ích của Mỹ ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đặc biệt B.Clinton lên nắm quyền, vấn
đề kinh tế đã đợc các nhà lãnh đạo Mỹ coi là trọng tâm trong chính sách
đối ngoại của mình. Họ đã đa ra một khái niệm mới về an ninh quốc gia -
an ninh kinh tế và chọn khu vực Châu á - Thái bình Dơng làm nòng cốt.
Thứ nhất, tiềm năng tăng trởng cao, liên tục của Đông á ( trung bình 7%
từ năm 1965 - 1993) theo mô hình hớng về xuất khẩu đã mở rộng quan hệ
mậu dịch với phần còn lại của thế giới. Khu vực này đợc đánh giá là trung
tâm tiêu thụ lớn nhất, đang dẫn đầu trong cuộc chạy đua toàn cầu vào thế
kỷ 21. Hơn nữa, việc trao đổi dịch vụ giữ hai bờ Thái bình dơng rất sôi
động. So với các nớc Châu á ven bờ thái bình dơng, Mỹ là nớc có lợi thế so
sánh về xuất khẩu và dịch vụ. Vì vậy, nếu nhập khẩu dịch vụ từ Mỹ, các n-
ớc này sẽ có điều kiện tiết kiệm đợc các nguồn của sự tăng trởng bền vững
mà Mỹ theo đuôỉ để bớc vào thế kỷ 21. Hiện nay Châu á thái bình dơng
chiếm 1/2 GNP và 40% ngoại thơng thế giới. Nếu năm 1980, tổng kim
nghạch trao đổi mậu dịch của Mỹ với khu vực Châu á-Thái bình Dơng đạt
xấp xỉ mức buôn bán với Tây Âu thì năm 1991 chỉ số đó đã vợt 40% so với
mức buôn bán Mỹ-Tây Âu đạt 315 tỷ USD.
Thứ hai, Châu á- Thái bình Dơng rất quan tâm đến việc đầu t vào cơ sở
hạ tầng kinh tế nền tảng để phát triển các ngành dịch vụ liên quan, tạo tiền
đề sản xuất, chuyển giao công nghệ. Đây là cơ hội lớn để Mỹ nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn cũng nh tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu t thông qua hàng

dùng an ninh kinh tế cùng với thực lực quân sự làm hậu thuẫn, tham dự và
mở rộng các công việc quốc tế và khu vực, từ đó thựch hiện vai trò lãnh đạo
thé giới của Mỹ.. Nh vậy, chiến lợc châu á thái bình dơng là sự triển khai
chiến lợc toàn cầu này, mang đầy đủ tính chất và mục tiêu mà Mỹ theo
đuổi.
Nội dung của Chiến lợc bao gồm:
Tăng cờng quan hệ an ninh: Trong lĩnh vực an ninh, quân sự,
chính quyền Oashinhton duy trì các mối quan hệ an ninh với các
nớc đồng minh truyền thống nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,
Philipin, Australia, trong đó hợp tác an ninh Mỹ , Nhật có tầm
quan trọng số một.
Đẩy mạnh các hoạt động thơng mại và liên kết kinh tế:
Củng Cố quan hệ đồng minh với Nhật Bản
Cải thiện và phát triển quan hệ với Trung Quốc.
5
II. Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam:
Quan hệ Hoa kỳ và Việt Nam là quan hệ giữ một nền kinh tế hùng mạnh
nhất thế giới với một nớc đang phát triển nằm khiêm tốn trên bán đảo Đông
Dơng thuộc Đông Nam á với diện tích bằng 1/30 diện tích Hoa Kỳ, GNP
bằng 1/360 GNP Hoa Kỳ, GNP đầu ngời bằng 1/100 GNP đầu ngời của
Hoa kỳ.
Gần 20 năm kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh năm 1975, Mỹ thực thi
chính sách cấm vận Việt Nam về kinh tế với việc duy trì các đạo luật, chính
sách kiềm chế sự phát triển của Việt Nam. Mối quan hệ Việt -Mỹ trong giai
đoạn này chỉ là những thơng lợng về tù binh chiến tranh. Cho đến năm
1991, khi tổng thống Clinton lên nắm quyền, với chơng trình 5 điểm về
kinh tế đối ngoại nhằm mục tiêu chính là ổn định nền kinh tế Mỹ và Thế
giới, coi thơng mại là nhân tố u tiên đối với an ninh Mỹ, tăng cờng vai trò
lãnh đạo của Mỹ trong giới tài chính quốc tế, mở rộng thị trờng sang các n-
ớc đang phát triển và Việt Nam cũng nằm trong chơng trình này. Quán triệt

chúng ta hãy xếp vào quá khứ. Hãy để cho giờ phút này là một thời điểm để
hàn gắn và thời điểm kiến tạo" thì cũng là lúc Việt Nam mở cửa đón nhận
luồng gió mới của xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, trong
đó việc " khép lại quá khứ , hớng tới tơng lai " đối với Mỹ cũng nằm trong
chiến lợc này. Đó cũng là lúc cả hai nớc đều ý thức đợc tiềm năng của việc
bình thờng hoá quan hệ và việc ký kết một hiệp định thơng mại song phơng
giữa hai nớc. Việc bình thờng hoá đợc bắt đầu từ sự thiết lập mối quan hệ
ngoại giao bằng cách đặt ĐSQ ở thủ đô của hai nớc, tiếp đó là việc nới lỏng
cấm vận, dỡ bỏ các rào cản kinh tế thơng mại. Trong hai năm qua, Mỹ và
Việt NAm đã tiến hành đàm phán về hiệp định thơng mại song phơng
(BTA) và đã đạt đợc một thoả thuận trên nguyên tắc cho các điều khoản
của hiệp định này.
BTA là bớc khởi đầu cho việc thực hiện dần dần những thay đổi thiết chế
quan hệ kinh tế trong nhiều năm. Việt Nam nhất thiết phải tiến hành những
thay đổi này để hội nhập kinh tế và tham gia vào tổ chức thơng mại thế giới
(WTO). Tự do hoá thơng mại phải đợc thực hiện cùng lúc với nhiều loại
hình cải cách kinh tế khác. Đối với VN, ích lợi quan trọng nhất mà BTA
đem lại là giành đợc quy chế quan hệ thơng mại bình thờng của Hoa Kỳ.
Quy chế này sẽ giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam tiếp cận đợc với thị trờng
tiêu dùng lớn nhất thế giới, và mặt khác nó giúp VN trở thành nơi hấp dẫn
các công ty nớc ngoài đầu t vào thị trờng xuất khẩu của VN. Năm 1998,
Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là hàng tiêu dùng nh cà phê, gia vị,
dầu ăn, hải sản, đạt 553 triệu USD. Nếu có quy chế NTR ( Quan hệ mậu
dịch bình thờng) hàng VN xuất khẩu vào Mỹ có thể lên tới 800 triệu USD,
chủ yếu là hàng may mặc. Hiệp định thơng mại cũng sẽ tạo điều kiện cho
các công ty Mỹ thâm nhập vào khu vực dịch vụ nh viễn thông, bảo hiểm,
ngân hàng. Nó là một yếu tố rất quan trọng để giúp sản phẩm của VN có
sức cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế. Ngoài ra, tiếp cận với thị trờng Hoa
Kỳ cũng tăng khả năng thu hút đầu t nớc ngoài của VN tiến tới việc phát
triển nhiều nghành CN mới. Từ đó, sự gia tăng nhiều nghành nghề mới sẽ

thông qua việc hội nhập một cách êm ả Đông Dơng vào cộng đồng toàn cầu
và khu vực.
ChơngII
Quan hệ kinh tế thơng mại của Việt Nam và Mỹ
từ 1991đến nay
I Lịch sử và thực trạng quan hệ kinh tế thơng mại Việt -Mỹ từ 1991
cho đến trớc khi ký kết hiệp định thơng mại.
1.1 Giai đoạn trớc khi bình thờng hoá (1991-1994)
Tháng 4/1991, chính quyền BUSH đã trao cho các quan chức VN một lộ
trình trong đó vạch ra những bớc mà VN và Mỹ, mỗi bên sẽphải thực hiện
để tiến tới bình thờng hoá các quan hệ đã bị đình chỉ về căn bản kể từ khi
kết thúc chiến tranh năm 1975. Theo lộ trình này, sự tiến bộ vcủa VN trong
việc giúp giải quyết vấn đề POW/MIA là các vấn đề khác sẽ đợc Mỹ đáp
lại bằng một loạt những bớc cụ thể nhằm mở rộng các quan hệ. Lộ trình
này gồm 4 giai đoạn mà kết thúc bằng việc Mỹ sẽ thiết lập các quan hệ
8
ngoại giao, cấp địa vị buôn bán tối huệ quốc và ủng hộ việc các tổ chức tài
chính quốc tế (IFI) giúp đỡ các nhu cầu không cơ bản của con ngời ở VN.
Năm 1992, Mỹ đã cung cấp3 triệu USD viện trợ nhân đạo cho Việt Nam
đồng ý tái thiết liên lạc viễn thông trực tiếp với VN, đồng ý cho phép các
công ty thơng mại Mỹ bán hàng để đáp ứng nhu cầu con ngời cơ bản ở VN
và loại bỏ những hạn chế với các dự án ở VN do các tài chính phi chính
phủ("NGOs") Mỹ thực hiện.
Vào tháng 7 /1993, đáp lại sự tiến bộ của chính phủ VN, Mỹ đã thôi phản
đối việc khôiphục các dự án của IFI. Ngay sau đó, vào tháng9/1993, chính
quyền Clinton đã gia hạn thêm lệnh cấm vận thơng mại nhng lại cho phép
các công ty Mỹ đâú thầu các dự án phát triển ở VN do IFI tài trợ.
1.2 Giai đoạn sau khi bình thờng hoá ( Từ 1994 đến nay)
1.2.1 Bãi bỏ lệnh cấm vận:
Tháng 2/1994, tổng thống Clinton đã bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán kéo

Để phân biệt các sản phẩm đợc hởng MFN và các sản phẩm không đợc h-
ởng địa vị đó, Mỹ đã duy trì một bản thuế quan gồm hai cột hoặc hai danh
sách về các loại thuế. Cột 1 thực tế đợc phân thành 2 phần chung và đặc
biệt,. Phần chung của cột cho thấy thuế suất áp dụng cho những hàng hoá
đợc chế tạo ở những nớc đợc hởng đại vị tối huệ quốc ; phần đặc biệt của
cột liệt kê các thuế quan u đãi hoặc đối xử đặc biệt mà Mỹ áp dụng theo
các hiệp định thơng mại đặc biệt nh hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ. Cột
2 cho thấy thuế xuất áp dụng cho những hàng hoá của những nớc không đ-
ợc hởng MFN. Thuế quan của cột 2, trong nhiều trờng hợp, hết sức cao.
Sự khác nhau giữa thuế suất tối huệ quốc và thuế suất không tối huệ quốc
là đáng kể. Đó là vì thuế quan tối huệ quốc đợc giảm đều đặn theo thời gian
do kết quả của các cuộc thơng lợng buôn bán nhiều bên trong đó Mỹ và các
bạn hàng của Mỹ đồng ý giảm thuế quan mà họ áp dụng cho các hàng hoá
của nhau trên cơ sở có đi có lại. Trong khi đó thuế quan ở cột 2 vẫn không
thay đổi kể từ khi chúng đợc định ra lần đầu. Thuế quan tối huệ quốc trung
bình của các hàng hoá hoà nhập vào thị trờng Mỹ là dới 4% còn thuế quan
trung bình trong cột 2 là trên 50%. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên là
mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của VN cho đến nay chỉ là cà phê. (VN xuất
khẩu gần 30 triệu USD sang Mỹ vào năm 1994, trở thành nớc cung cấp lớn
thứ 5 của Mỹ).
Trớc khi có vòng thơng lợng của hiệp định chung về thuế quan và mậu
dịch (GATT) Mỹ chỉ đối xử tối huệ quốc với những nớc đã thơng lợng các
hiệp ớc buôn bán tay đôi. Về sau, cùng với việc hình thành GATT Mỹ đã
chấp nhận nghĩa vụ của GATT là phải mở rộng địa vị tối huệ quốc vô điều
kiện cho tất cả các thành viên của GATT, kể cả những nớc mà Mỹ cha th-
ơng lợng một hiệp định buôn bán tay đôi nào.
Tuy vậy, những lo ngại về chủ nghĩa cộng sản đã dẫn đến Quốc hội và
chính quyền Mỹ đến chỗ đình chỉ tối huệ quốc đối với các nớc cộng sản.
Theo đạo luật hiện hành ban hành ngày 3/1/1975, tổng thống Mỹ đã phải
tiếp tục từ chối đối xử tối huệ quốc với bất cứ nớc nào đã bị từ chối địa vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status