Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế ở Việt Nam - Pdf 29

Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Lời mở đầu
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt
nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt
khác, nền kinh tế thị trờng bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do đó việc
ổn định giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính Quốc Gia
mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn định nền kinh
tế.
Ngày này việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết
trớc mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trởng kinh tế. Vì vậy
mà việc đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn đề th-
ờng trực. Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, trách thất nghiệp nhiều cần
tập trung vào chính sách tiền tệ nhng việc lựa chọn giải pháp nào để xây
dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn
là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Đợc sự hớng dẫn của thầy cô em xin nhận đề tài: Chính sách
tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn đinh kinh tế ở Việt Nam.
Tiểu luận gồm ba chơng:
Chơng I: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ với việc thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế.
Chơng II: Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định
kinh tế của Việt Nam thời gian qua.
Chơng III: Một số ý kiến đề xuất đổi mới và hoàn thiện chính
sách tiền tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bản thân em là
ngời Laos chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
đợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong bộ môn để tiểu luận đợc hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: chon đao văn na

Thứ hai: ổn định kinh tế vĩ mô là một chức năng quan trọng của
nhà nớc trong vai trò quản lý nên kinh tế thị trờng.

SV:
chon đao văn na Lớp : K42

02.02
2
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Trong nền kinh tế thị trờng Nhà nớc sẽ trực tiếp can thiệp vào việc
điều hành sản xuất kinh doanh, mà làm tốt chức năng định h ớng cho sự
phát triển xã hội (Bao gồm cả chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch) đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô,
quản lý tốt kinh tế nhà nớc, đảm bảo việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội.
Thứ ba: Trong thực trạng của kinh tế vĩ mô hiện nay, bên cạnh
những kết quả tích cực đã xuất hiện một số hạn chế, bất cập và đứng tr ớc
những thách thức không nhỏ.
II. Khái niệm và công cụ của chính sách tền tệ.
2.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính
sách kinh tế của nhà nớc để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền kinh
tế nhằm đạt đợc những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai đoạn nhất
định.
Chính sách tiền tệ có thể đợc hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông
thờng. Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành
toàn bộ khối lợng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền
bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là
ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa thông thờng là chính sách quan tâm đến khối lợng tiền cung

2.2.1 Các công cụ trực tiếp: Gọi là các công cụ trực tiếp vì thông
qua chúng,NHTW có thể tác động trực tiếp đến cung cầu tiền tệ, mà
không cần thông qua một công cụ khác.
- ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay.
NHTW có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các ngân
hàng kinh phải thi hành.
Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút đợc nhiều tiền gửi làm gia tăng
nguồn vốn cho vay. Nếu lãi suất thấp, sẽ là giảm tiền gửi, giảm khả năng
mở rộng kinh doanh tín dụng. Xong biện pháp này sẽ làm cho các ngân
hàng thơng mại mất tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh. Mặt khác
nó đễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng, nh ng lại thiếu vốn đầu
t, hoặc khuyến khích dân c dùng tiền vào dự trữ vàng, ngoại tệ bất động
sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng nh nguồn vốn cho
vay.
Trong điều kiện không thể áp dụng các biện pháp khác, chính phủ
có thể phát hành một lợng trái phiếu nhất định để thu hút bớt lợng tiền
trong lu thông. Việc phân bổ trái phiếu thờng mang tính chất bắt buộc.

SV:
chon đao văn na Lớp : K42

02.02
4
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
2.2.2. Các công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của
nó có đợc là nhờ cơ chế thị trờng.
- Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thơng mại phải đa và
dự trữ theo luật định. Phần dự trữ này đợc gửi vào tài khoản chuyên dùng
ở ngân hàng trung ơng và để tại quỹ của mình, với mục đích góp phần

Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Khi lạm phát cao, NHTW nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho
vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do số nhân
tiền tệ giảm), khối lợng tín dụng trong nền kinh tế giảm (cung tiền giảm)
dẫn tới lãi suất tăng, đầu t giảm do đó tổng cầu giảm và làm cho giá giảm
(tỷ lệ lạm phát giảm). Ngợc lại, nếu NHTW hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc
tức là tăng khả năng tạo tiền, thì cung về tín dụng của các NHTM cũng
tăng lên, khối lợng tín dụng và khối lợng thanh toán có xu hớng tăng,
đồng thời tăng xu hớng mở rộng khối lợng tiền. Lý luận tơng tự nh trên
thì việc tăng cung tiền sẽ dẫn tới tăng giá (tỷ lệ lạm phát tăng). Nh vậy
công cụ dự trữ bắt buộc mang tình hành chính áp đặt trực tiếp, đầy quyền
lực và cực kì quan trọng để cắt cơn sốt lạm phát, khôi phục hoạt động
kinh tế trong trờng hợp nền kinh tế phát triển cha ổn định và khi các
công cụ thị trờng mở tái chiết khấu cha đủ mạnh để có thể đảm trách
điều hòa mức cung tiền cho nền kinh tế. Nhng công cụ dự trữ bắt buộc
quá nhạy cảm, vì chỉ thay đổi nhỏ trong tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm cho
khối lợng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát.
3.2. Tái chiết khấu:
Là phơng thức để NHTW đa tiền vào lu thông, thực hiện vai trò ng-
ời cho vay cuối cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã tạo cơ sở
đầu tiên thúc đẩy hệ thống NHTM thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai
thông thanh toán. Tái chiết khấu là đầu mối tăng tiền trung ơng, tăng
khối lợng tiền tệ vào lu thông. Do đó ảnh hởng trực tiếp đến quá trình
điều khiển khối lợng tiền và điều hành chính sách tiền tệ. Tùy theo tình
hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền
tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặt tín
dụng mà NHTW quy định lãi suất thấp hay cao. Lãi suất tái chiết khấu
đặt ra từng thời kỳ, phải có tác dụng hớng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng
trong nền kinh tế của giai đoạn đó. Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết
khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để

thực hiện các mục tiêu của chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
1.1 chính sách tài chính.
Có nhiều đổi mới đã góp phần củng cổ và làm lành mạnh một b ớc
nền tài chính quốc gia, giữ ổn định và cân đối kinh tế vĩ mô, thúc đẩy
phát triển kinh tế.
Tổng thu ngân sách nhà nớc năm 2001 tăng 14,5% so với năm 2000
và đạt 21,6% GDP, năm 2002 tăng 14,6% và đạt 22,2% GDP. ớc tình 6
tháng đầu năm 2003 tăng 9,5% và đạt 22,8% GDP. Trong các khoản thu,
thu từ kinh tế nhà nớc năm 2001 tăng 17,6 % và năm 2002 tăng 7,6%, thu

SV:
chon đao văn na Lớp : K42

02.02
7
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
từ khu vực có vốn đầu t nớc ngoài năm 2001 tăng 13,1% trong đó thu về
dầu thô tăng 11,7%, năm 2002 tăng 2,7%, riêng dầu thô giảm 2,6%. Thu
ngân sách liên tục tăng qua các năm và tăng mạnh hơn tốc độ tăng trởng
kinh tế, chủ yếu do hệ thống thuế đã từng bớc đợc cải cách, đây là một b-
ớc tiến bộ quan trọng của quá trình đổi mới chính sách tài chính, đã dần
phù hợp với nền kinh tế thị trờng và yêu cầu của hội nhập nên đã từng b-
ớc giảm đợc phần thất thu.
Chi ngân sách nhà nớc năm 2001 tăng 19,1% so với năm 2000 và
băng 27% GDP, năm 2002 tăng 13,3% và băng 27,4% GDP, ớc tính 6
tháng năm 2003 tăng 14% và băng 13,4%. Cơ cấu chi ngân sách nhà nớc
đã có những chuyển biến theo hớng tiếp tục tăng chi thờng xuyên ở mức
cao. Chi đầu t phát triển tập trung chủ yếu vào cho xây dựng hạ tầng cơ
sở, xong vẫn đảm bảo luôn ở mức 1/3 tổng chi ngân sách nhà nớc.
Chi thờng xuyên năm 2001 tăng 15,8% và bằng 14,9%GDP, năm

phát triển sản xuất. NHNN vẫn tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ thận
trọng, nhằm mục đích ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát góp phần thúc
đẩy tăng trởng kinh tế, thị trờng không có những biến động lớn về giá cả,
lãi suất và tỷ giá. Tuy nhiên hoạt động ngân hàng vẫn cha phát huy mạnh
mẽ vai trò là công cụ quan trọng điều tiết kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền
tệ và khả năng kiểm soát giám sát nền kinh tế thông qua hệ thống ngân
hàng còn hạn chế.
II.Sơ lợc về tình hình sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ của Việt Nam nhằm ổn định
kinh tế.
2.1 Lãi suất.
Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các n-
ớc. ở nớc ta NHTW đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất
nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong qua trình chuyển đối có thể
thấy rõ tình linh hoạt của chinh sách lãi suất qua các thời điểm:
- Trớc ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nớc Việt Nam thực hiện cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản Đồng VN, mức lãi suất cơ bản đợc công bố
trong những tháng đầu năm 2002 là 0,6%/tháng. NHNN cũng đã mạnh
dạn thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất đối với ngoại tệ từ tháng 6
năm 2001. Chính sách lãi suất nh vậy là phù hợp với thực tiễn của VN
trong qua trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng và bám sát với những
diễn biến của thị trờng quốc tế.
- Từ ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nớc quyết định chuyển sang cơ
chế lãi suất ổn định Đồng VN của các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng. Đây là một sự cởi trói cho các tổ chức tín dụng trong các hoạt

SV:
chon đao văn na Lớp : K42

02.02

NHNN mua các giấy tờ có giá là chủ yếu (NHNN bơm tiền ra), chiếm tỷ
lệ từ khoảng 71% lên trên 90%.
2.3 Các công cụ khác.

SV:
chon đao văn na Lớp : K42

02.02
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status