Lời mở đầu
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt
nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt
khác, nền kinh tế thị trờng bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do đó việc
ổn định giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính Quốc Gia
mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn định nền kinh
tế.
Ngày này việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết
trớc mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trởng kinh tế. Vì vậy
mà việc đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn đề th-
ờng trực. Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, trách thất nghiệp nhiều cần
tập trung vào chính sách tiền tệ nhng việc lựa chọn giải pháp nào để xây
dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn
là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.
Đợc sự hớng dẫn của thầy cô em xin nhận đề tài: Chính sách
tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn đinh kinh tế ở Việt Nam.
Tiểu luận gồm ba chơng:
Chơng I: Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ với việc thực
hiện mục tiêu ổn định kinh tế.
Chơng II: Chính sách tiền tệ với việc thực hiện mục tiêu ổn định
kinh tế của Việt Nam thời gian qua.
Chơng III: Một số ý kiến đề xuất đổi mới và hoàn thiện chính
sách tiền tệ góp phần ổn định nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bản thân em là
ngời Laos chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
đợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong bộ môn để tiểu luận đợc hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: chon đao văn na
phát triển xã hội (Bao gồm cả chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch) đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô,
quản lý tốt kinh tế nhà nớc, đảm bảo việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội.
Thứ ba: Trong thực trạng của kinh tế vĩ mô hiện nay, bên cạnh
những kết quả tích cực đã xuất hiện một số hạn chế, bất cập và đứng tr ớc
những thách thức không nhỏ.
II. Khái niệm và công cụ của chính sách tền tệ.
2.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính
sách kinh tế của nhà nớc để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền kinh
tế nhằm đạt đợc những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai đoạn nhất
định.
Chính sách tiền tệ có thể đợc hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông
thờng. Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành
toàn bộ khối lợng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền
bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là
ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa thông thờng là chính sách quan tâm đến khối lợng tiền cung
ứng tăng thêm trong thời kì tới (thờng là một năm) phù hợp với mức tăng
trởng kinh tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn
định tiền tệ và ổn định giá cả hàng hóa.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu nh chính sách tài chính chỉ
tập trung vào thành phần. Kết cấu các mức chi phí thuế khóa của nhà n -
ớc, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào mức độ khả năng
thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối
lợng cần cung ứng cho lu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lợng
tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt
động của thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn theo những quỹ đạo đã định.
trong lu thông. Việc phân bổ trái phiếu thờng mang tính chất bắt buộc.
4
2.2.2. Các công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của
nó có đợc là nhờ cơ chế thị trờng.
- Dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thơng mại phải đa và
dự trữ theo luật định. Phần dự trữ này đợc gửi vào tài khoản chuyên dùng
ở ngân hàng trung ơng và để tại quỹ của mình, với mục đích góp phần
bảo đảm khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thơng Mại và dùng làm
phơng tiện kiểm soát khối lợng tín dụng của ngân hàng này. Khi tăng tỷ
lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm giảm khả năng cho vay và đầu t của
ngân hàng thơng mại từ đó giảm lợng tiền trong lu thông, góp phần làm
giảm cầu tiền để cân bằng với sự giảm cung xã hội. Trong trờng hợp
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng mở rộng cho vay của Ngân Hàng
Thơng Mại sẽ tăng lên, dẫn đến sự gia tăng lợng tiền trong lu thông, góp
phần tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền.
- Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn:
Tái chiết khấu và tái cấp vốn là những cách thức cho vay của NHTW đối
với các NHTM.
Công cụ này có u điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của
NHKD và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm tín
dụng đối với nền kinh tế.
III.Tác động của chính sách tiền tệ đối với
việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế.
3.1.Dự trữ bắt buộc.
Trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM có khả năng biến
những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi mới cho cả hệ
thống, khả năng sinh ra bộ số tín dụng, tức là khả năng tạo tiền. Để
khống chế khả năng này, NHTW buộc các NHTM phải trích một phần
dụng mà NHTW quy định lãi suất thấp hay cao. Lãi suất tái chiết khấu
đặt ra từng thời kỳ, phải có tác dụng hớng dẫn, chỉ đạo lãi suất tín dụng
trong nền kinh tế của giai đoạn đó. Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết
khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tín dụng của mình lên để
không bị lỗ vốn. Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm cầu về tín dụng và
kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi).
6
3.3. hoạt động thị trờng mở.
Nếu nh công cụ lãi suất chiết khấu là công cụ thụ động của
NHTW, tức là NHTW phải nhờ NHTM đang cần vốn đa thơng phiếu, kỳ
phiếu.. đến để xin tái cấp vốn thì nghiệp vu thị trờng mở là công cụ
chủ động của ngân hàng trung ơng để điều khiển khối lợng tiền, qua đó
kiểm soát lạm phát.
Qua nghiệp vụ thị trờng mở, NHTW chủ động phát hành tiền trung
ơng vào lu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lu thông bằng cách mua bán các
loại trái phiếu ngân hàng quốc gia nhằm tác động trớc hết đến khối lợng
tiền dự trữ trong quỹ dự trữ của NHTM và các tổ chức tài chính, hạn chế
tiềm năng tín dụng và thanh toán của các ngân hàng này, qua đó điều
khiển khối lợng tiền trong thị trờng tiền tệ chúng ta. Khi nghiên cứu phần
trớc đã biết rằng khối lợng tiền tệ ảnh hởng trực tiếp tới tỷ lệ lạm phát,
việc thay đổi cung tiền tệ sẽ làm thay đổi tỷ lệ lạm phát.
Chơng II
Chính sách tiền tệ với thực hiện mục tiêu ổn định kinh
tế của Việt Nam thời gian qua.
I.Sơ lợc tình hình kinh tế tiền tệ Việt Nam thời gian qua:
Bớc sang những năm đầu của thế kỷ 21 chúng ta đã thực hiện xong kế
hoạch năm năm lần thứ 6 là những năm có ý nghĩa quan trọng trong việc
thực hiện các mục tiêu của chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Thu chi ngân sách nhà nớc so với GDP
2003 2004 2005
Tổng thu 20,5 21,6 22,2
Thu nội địa 10,5 10,9 11,2
Thu từ kinh tế nhà nớc 4,6 4,8 4,6
Thu từ kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài 1,3 1,2 1,3
Thu hải quan 4,3 4,8 5,9
Thu dầu thô 5,3 5,5 4,8
Thu viện trợ không hoàn lại 0,5 0,4 0,4
Tổng chi 24,7 27,0 27,4
Chi đầu t phát triển 6,7 8,4 8,2
Chi trả nợ, viện trợ 3,0 3,1 3,7
8
Chi thờng xuyên 14,0 14,9 15,3
1.2 Chính sách tiền tệ.
Hoạt động ngân hàng từng bớc đợc chấn chỉnh, đã có một số tiến
bộ trong điều hành và sử dụng công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng tiếp
tục tăng, đáp ứng một phần quan trọng trong tạo nguồn vốn cho đầu t
phát triển sản xuất. NHNN vẫn tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ thận
trọng, nhằm mục đích ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát góp phần thúc
đẩy tăng trởng kinh tế, thị trờng không có những biến động lớn về giá cả,
lãi suất và tỷ giá. Tuy nhiên hoạt động ngân hàng vẫn cha phát huy mạnh
mẽ vai trò là công cụ quan trọng điều tiết kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền
tệ và khả năng kiểm soát giám sát nền kinh tế thông qua hệ thống ngân
hàng còn hạn chế.
II.Sơ lợc về tình hình sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ của Việt Nam nhằm ổn định
kinh tế.
2.1 Lãi suất.
trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống quá thấp.
2.2 Công cụ nghiệp vụ thị trờng mở.
Ngày 12/7/2000, NHNN Việt Nam chính thức đa công cụ nghiệp
vụ thị trờng vào hoạt động đây là một sự chuyển biến quan trọng điều
hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nớc Việt Nam, từ sử dụng các
công cụ trực tiếp sang sử dụng các cộng cụ gián tiếp theo tín hiệu của thị
trờng, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Qua hơn hai năm triển khai thực hiện, đến nay đã có 22 tổ chức tín
dụng đợc cấp giấy chứng nhận là thành viên nghiệp vụ thị trờng mở trong
đó có 4 ngân hàng thơng mại quốc dân, 10 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng
nớc ngoài, một công ty tổ chức và quỹ tín dụng nhân dân TW.
Từ tháng 5/2002 nghiệp vụ thị trờng mở đợc đa vào giao dịch hàng
tuần, quy mô và doanh số ngày càng tăng, lãi suất ngày càng linh hoạt.
Trong các hình thức giao dịch của nghiệp vụ thị trờng mở thì việc
NHNN mua các giấy tờ có giá là chủ yếu (NHNN bơm tiền ra), chiếm tỷ
lệ từ khoảng 71% lên trên 90%.
2.3 Các công cụ khác.
10