Thuế với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở việt nam. - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thì mục tiêu tăng trưởng
kinh tế của Nhà nước rất quan trọng. Nhất là đối với chúng ta đang xây dựng
một nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước lại càng quan
trọng. Trong khi đó thuế là nguồn chủ yếu của Nhà nước. Tiềm lực kinh tế của
Nhà nước có mạnh thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vĩ mô lại càng
có hiệu quả.
Như vậy, thuế không những là nguồn thu ngân sách chính mà còn là công
cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước. Do vậy, cùng với việc thực hiện
đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, Đảng và chính phủ đã giành nhiều sự
quan tâm chú ý lớn cho công tác đổi mới hệ thống thuế. Chủ trương cải cách hệ
thống thuế của nước ta đã được khởi xướng từ năm 1989. Ngày1/10/1990, một
hệ thống các luật, pháp lệnh về thuế áp dụng thống nhất trong cả nước đã được
ban hành. Các sắc thuế trong hệ thống này được áp dụng chính cho các thành
phần kinh tế, không còn sự phân biệt khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốc
doanh như trước đây nữa.
Chính vì thuế có vai trò quan trọng và nó thuộc về chuyên ngành học của
em cho nên em chọn đề tài: ''Thuế với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế ở việt nam''. Do còn thiếu những tư liệu thực tế để tham khảo nên bài
viết không tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự chỉ bảo của cô và sự đóng
góp ý kiến của các bạn để bài viết được hoàn thiên hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cám ơn thầy cô giáo đã nhiệt tình giúp đỡ
em hoàn thành bài viết này.

1
1
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ MỤC TIÊU KTVM QUAN TRỌNG
1- Định nghĩa.

tiết của chính phủ, thuế ngày càng trở lên là một công cụ quan trọng nhằm thể
hiện vai trò điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính phủ. Chính sách
thuế hợp lý tạo ra một nguồn thu chủ yếu cho phần ngân sách tác động điều
chỉnh mạnh mẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh đảm bảo công bằng và kích
thích cạnh tranh.
2.1-Thuế là nguồn thu chủ yếu của NN.
Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng các
hình thức khác nhau: phát hành thêm tiền, phát hành trái phiếu để vay nước
ngoài, bán một phần tài sản quốc gia, thu thuế. Nhưng nếu chính phủ phát hành
tiền để chi tiêu sẽ dẫn đến lạm phát đưa nền kinh tế đến bờ vực thẳm, càng làm
khó khăn thêm cho NN. Còn nếu phát hành trái phiếu để vay trong nước và
ngoài nước vừa phải chịu ràng buộc về kinh tế và chính trị từ phía người cho
vay, vừa phải tìm nguồn để trả cả gốc lẫn lãi. Như vậy chỉ có thuế là một khoản
thu chủ yếu của chính phủ sẽ đem lại mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nhất. Sử
dụng công cụ thuế để huy động vào nguồn thu của NN có các ưu thế:
- Thuế là công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn.
- Chính phủ thu thuế bằng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc.
Do vậy Nhà nước đảm bảo việc thực hiện công bằng trong việc phân bố gánh
nặng của các khoản chi tiêu công cộng.
- Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân trong nước tạo ra. Như vậy, một bộ phận đáng kể thu nhập
của xã hội được tập trung vào trong tay Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu
cho các biện pháp kinh tế xã hội. Mặt khác nguồn thu của thuế được đảm bảo tập
trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định.
- Hơn nữa, thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức, được qui định dưới
hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các
chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh.
3
3
Có thể nói mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Nhà nước đã dùng sức mạnh

4
4
hậu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, ổn định và lâu dài. Ngược
lại, một chính sách thuế không phù hợp sẽ trở thành vật cản, gây trở ngại cho sự
lớn mạnh của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thậm chí
có thể gây lên khủng hoảng kinh tế và chính trị.
2.2-Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, Nhà nước hoàn toàn có khả năng
sử dụng thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Điều đó xuất phát từ cơ sở
của chức năng điều chỉnh của thuế. Vì lợi ích của xã hội, Nhà nước có thể tăng
hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp, để
kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau của
nền kinh tế. Bằng cách ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ doanh nghiệp,
quá trình điều tiết nền kinh tế quốc dân thông qua thuế được thực hiện.
- Nội dung điều chỉnh của thuế: nó có một số nội dung cơ bản sau:
+ Điều chỉnh nền kinh tế chu kỳ là một trong những nội dung quan
trọng của quá trình điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường sự
phát triển theo chu kỳ là điều khó tránh khỏi. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn
định, Nhà nước cần sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh quá trình đó. Trong
những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, nhà nước có thể hạ thấp mức thuế,
tạo ra những điều kiện thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng
đầu tư và mở rộng sức sản xuất. Điều đó có thể đưa nền kinh tế nhanh chóng
thoát khỏi khủng hoảng. Ngược lại trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ
dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ
vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra.
+ Việc điều chỉnh thuế cần góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp
lý theo yêu cầu phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn. Trong khi áp dụng
các chế độ thuế phân biệt đối với từng ngành kinh tế khác nhau, Nhà nước có thể
thúc đẩy sự phát triển các ngành quan trọng nhất, giữ vị ttrí then chốt trong nền
kinh tế hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng.

từng trường hợp cụ thể để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Thứ ba là, áp dụng các ưu đãi thuế: là hình thức cho người nộp thuế được
hưởng những điều kiện thuận lợi khi nộp thuế. Việc cấp các ưu đãi về thuế cho
phép nhà nước linh hoạt điều chỉnh nền kinh tế tuỳ thuộc vào cục diện thị
trường. Tác dụng kích thích của các ưu đãi thuế được xem như một hình thức
cấp phát vốn trực tiếp cho doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, Nhà
6
6
nước có thể tăng hoặc giảm qui mô và mức độ của các ưu đãi thuế để kích thích
tăng tích luỹ và tích tụ trong các doanh nghiệp.
II.TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TRONG ĐỐI VỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ.
1-Sự cần thiết phải điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Cơ chế
thị trường thông qua những yếu tố của nó, đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển, kích thích tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy
quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất.
Tuy nhiên, bản thân tăng trưởng kinh tế, chưa phải là mô hình tổ chức nền kinh
tế hoàn hảo. Cùng với sự phát triển kinh tế, nền kinh tế thị trường ngày càng bộc
lộ những nhược điểm vốn có của nó, đó là tình trạng khủng hoảng kinh tế theo
chu kỳ, tình trạng thất nghiệp, lãng phí tài nguyên, tiền vốn, lao động... nguyên
nhân là do chạy theo lơih nhuận tối đa, chỉ chú ý tới nhu cầu có khả năng thanh
toán đã đưa tới cơ cấu tăng trưởng kinh tế không hợp lý, mất cân đối, dễ dẫn tới
độc quyền thủ tiêu cạnh tranh...Đặc biệt với cơ chế phân phối qua thị trường,
ngày càng khoét sâu hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, làm nảy sinh
các hiện tượng tiêu cực về mặt xã hội, tạo lên sự bất ổn về mặt kinh tế và xã hội.
Để phát huy ưu điểm, hạn chế khuyết điểm của tăng trưởng kinh tế, hầu hết các
nước trên thế giới ngày nay đều thừa nhận tính cần thiết khách quan đối với sự
can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế xã hội.
Mặt khác về phương diện kinh tế, xã hội, Nhà nước trong nền kinh tế thị

điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế là vô
cùng quan trọng. Muốn có sự tác động mạnh mẽ từ phía Nhà nước vào nền
kinh tế để nó phát triển thì Nhà nước cần phải có một sức mạnh kinh tế vững
mạnh bên cạnh chế độ chính trị ổn định như ở nước ta. Điều đó giải thích tại
sao phải có một ngân sách đủ lớn để thực hiện vai trò chức năng của mình đối
với sự phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Muốn vậy Nhà nước phải có một nguồn thu ổn định; để đáp ứng yêu
cầu này thì chỉ có thuế là đảm bảo được nguồn thu ổn định cho NSNN.
2-Mối quan hệ giữa cải cách thuế và hiệu quả kinh tế.
8
8
Đứng trên quan điểm toàn quốc gia thì hiệu quả của cải cách thuế được
đánh giá bằng tỷ lệ phát triển nhanh GDP. Tương quan giữa cải cách kinh tế và
phát triển nhanh được giảI thích qua việc tăng đầu tư theo sơ đồ sau đây:
Cải cách kinh tế  thu thuế tăng  chi nhà nước cho đầu tư tăng  nhịp
phát triển tăng.
Đứng trên quan đIểm tối đa hoá doanh thu và lợi nhuận của các xí nghiệp
thì hiệu quả của cải cách thuế khoá được đánh giá bằng sự tăng doanh thu và lợi
nhuận cao của các xí nghiệp: làm thế nào để tăng thu thuế nhiều mà các xí
nghiệp vẫn tăng được doanh thu và lợi nhuận? Các vị giám đốc xí nghiệp sẽ
hoan nghênh cải cách thuế khi nào doanh thu và lợi nhuận các xí nghiệp tăng,
các xí nghiệp sẽ đóng được nhiều thuế hơn, trả được nợ ngân hàng, các xí nghiệp
cũng dùng tiền lãi để đầu tư thêm, mở rộng sản xuất và mướn thêm nhân công.
Tương quan giữa cải cách thuế và phát triển nhanh được giải thích qua sơ
đồ sau đây:
Cải cách thuế -> doanh thu và lợi nhuận các xí nghiệp tăng  các xí
nghiệp trả nợ ngân hàng, đóng thuế nhiều, tăng đầu tư, mở rộng sản xuất  phát
triển GDP nhanh.
Đứng trên quan điểm thu nhập các hộ gia đình thì hiệu quả của cải cách
thuế được đánh giá bằng sự gia tăng thu nhập của những gia đình: thu nhập của

+ Thuế thu nhập công ty cũng được cải cách theo xu hướng áp dụng thuế
GTGT thay cho thuế thu nhập cá nhân: cắt giảm thuế xuất và mở rộng diện đánh
thuế.
10
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status