Cán cân thanh toán Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN [1]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Cán cân thanh toán Việt Nam
[PHẦN I]
TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN
I. Lý luận chung về cán cân thanh toán
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán
1.1. Khái niệm
Cán cân thanh toán (CCTT) được hiểu là bảng kế toán tổng hợp các luồng vận động về
hàng hoá dịch vụ, tư bản… của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất
định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong
nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài
sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một
quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong
nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh
toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản
có. Vậy, cán cân thanh toán là một bản đối chiếu giữa các khoán tiền thu được từ nước ngoài với
các khoản tiền trả cho nước ngoài của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
Theo Nghị định số 164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về quản lý cán cân
thanh toán quốc tế của Việt Nam, Cán cân thanh toán của Việt Nam được quy định là bảng tổng
hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư
trú trong một thời kỳ nhất định. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao là cơ quan
chịu trách nhiệm chủ trì lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán.
1.2. Ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán
Thực chất của cán cân thanh toán là một tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai
đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tích những quan hệ kinh tế tài chính của một
nước với nước ngoài trong một thời gian xác định. Do đó, CCTT là một trong những công cụ
quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô. Thông qua cán cân thanh toán trong một thời kỳ, Chính
phủ của mỗi quốc gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thực tế thu được từ nước ngoài với
những khoản tiền mà thực tế nước đó chi ra cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Từ đó,
đưa ra các quyết sách về điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất nhập
khẩu.
- Cán cân thương mại hàng hóa
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong
một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập
khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược
lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng
bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
- Cán cân dịch vụ
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính, viễn
thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa người cư trú với người không
[5]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
cư trú. Giống như xuất nhập khẩu hàng hoá xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên nó
được ghi vào bên co và có dấu dương; nhập khẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu ngoại tệ. Các nhân tố
ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất
nhập khẩu dịch vụcũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá.
- Cán cân thu nhập
+ Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập
khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú hay ngược lại.các nhân tố ảnh
hưởng lên thu nhập của người lao động ở nước ngoài.
+ Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư giấy tờ
có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và không cư trú.
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều
Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác
bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người không cư trú
và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa
người cư trú với người không cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên
được ghi vào bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ (-).
- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR)
- Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L)
- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiền của quốc gia lập cán
cân thanh toán (≠)
OFB = ΔR + L + ≠
Một thực tế rằng, khi dự trữ ngoại hối tăng thì chúng ta ghi nợ (-) và giảm thì ghi có (+),
do đó nhầm lẫn thường xảy ra ở đây. Điều này được giải thích như sau : Chúng ta hình dung,
quốc gia Việt Nam được chia thành hai bộ phận gồm NHTW và phần còn lại không bao gồm
NHTW (gọi là nền kinh tế - NKT). Tiêu chí để phân thành NHTW và NKT là: NHTW có chức
năng can thiệp lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, còn nền kinh tế thì không có chức
năng can thiệp. Theo quy tắc CCTTQT được lập trên cơ sở của nền kinh tế, do đó, các hoạt động
can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối (mua bán nội tệ) nhằm tác động lên nền kinh tế,
được xem là quan hệ giữa người cư trú với người không cư trú. Khi NHTW can thiệp bán ngoại
tệ ra, làm cho dự trữ ngoại hối giảm, đồng thời làm tăng cung nội tệ cho nền kinh tế, do đó ta
phải ghi có(+) . Khi NHTW can thiệp mua ngoại tệ vào làm cho dự trữ ngoại hối tăng, đồng thời
làm tăng cầu ngoại tệ đối với NKT , do đó ta phả ghi nợ (-)
2.2.6. Nhầm lẫn và sai sót
OB + OFB = 0 →OB = - OFB → CA+K+OM= - OFB → OM =-(CA+K+OFB)
Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót chính là độ lệch
giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn. Bởi vì cán cân bù
đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được xác định (luôn thể hiện là một số cụ
thể trên CCTT), do đó đẳng thức trên được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập CCTTQT
trong thực tế.
[7]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
3. Thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán
CCTT được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán ghi có luôn bằng
tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này có nghĩa là, về tổng thể thì
Cán cân thanh toán Việt Nam
3.3. Thặng dư và thâm hụt cán cân cơ bản (BB = CA + Kl)
Khi CA < 0 nhưng (CA + KI )> 0 thì quốc gia không hề chịu rủi ro thanh toán. Chính vì
thế mà nhiều nhà kinh tế cho rằng, cán cân cơ bản phản ánh tổng quát hơn về trạng thái nợ nước
ngoài của một quốc gia so với cán cân vãng lai. Điều này xảy ra là vì: vốn dài hạn có đặc trưng
của sự phân phối lại thu nhập tương đối ổn định trong một thời gian dài giữa một quốc gia và thế
giới.
Thông thường người ta cho rằng một sự xấu đi của cán cân cơ bản là tín hiệu xấu của
nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải như vậy, nghĩa là cho dù cán cân cơ bản bị
thâm hụt nhưng đây chưa hẳn đã là điều xấu. Ví dụ, một quốc gia có thể đang bị thâm hụt cán cân
vãng lai & đồng thời có các luồng vốn dài hạn chảy ra, điều này khiến cho cán cân cơ bản trở lên
thâm hụt nặng; nhưng các luồng vốn chảy ra sẽ hứa hện những thu nhập như lãi suất, cổ tức hay
lợi nhuận trong tương lai; những thu nhập mày sẽ góp phần cải thiện thâm hụt hay tạo thặng dư
cán cân vãng lai trong tương lai. Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt.
khi mà luồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán cân cơ
bản trở lên thặng dư.
Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà luồng vốn ròng
dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán cân cơ bản trở lên thặng dư.
3.4. Thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể
Cán cân tổng thể phản ánh bức tranh các hoạt động của Ngân hàng Trung ương trong
việc tài trợ cho sự mất cân đối cuối cùng của nền kinh tế.
OB= X-M + Se + Ic +Tr + Kl + Ks
OB = - OFB
Cán cân tổng thể có ý nghĩa vì: (i) Nếu thặng dư nó cho biết số tiền có sẵn để một quốc
gia có thể sử dụng để tăng dự trữ ngoại hối; (ii) Nếu thâm hụt nó cho biết số tiền một quốc gia
phải hoàn trả bằng việc bán ngoại hối.
Khái niệm thặng dư và thâm hụt cán cân tổng thể chỉ thích hợp đối với quốc gia áp
dụng tỷ giá cố định mà không thích hợp đối với quốc gia áp dụng tỷ giá thả nổi. Sở dĩ vậy là do,
nếu áp dụng tỷ giá thả nổi thì tỷ giá hoàn toàn tự do biến động và như thế thì cán cân tổng thể
luôn có xu hướng vận động về trạng thái cân bằng , vì Ngân hàng trung ương không can thiệp
Đầu tư khác 3640 343 -3269 -1502 -806
Lỗi và sai sót -1044 -9029 -3690 -5475 -1839
Nguồn : www.vietnam-report.com
1. Cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai bao gồm một số cân đối chi tiết là cán cân thương mại, cán cân dịch vụ,
cán cân thu nhập dân cư và cán cân chuyển tiền.
Bảng 2: Cán cân vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2000-2011
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
[10]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
Cán cân vãng lai
( tỷ USD)
-0,49 -0,16 -6,99 -10,79 -6,1 -4,3 -0,236
%GDP -0,9 -0,3 -9,8 -11,9 -6,6 -4,1 -0,5
Nguồn : IMF
a) Cán cân thương mại
Xuất khẩu năm 2012 diễn biến theo hướng tích cực, tăng trưởng xuất khẩu đã vượt mức
kế hoạch đề ra và cao hơn so với kim ngạch xuất khẩu của năm 2011. Theo số liệu của Tổng cục
Hải quan, tính đến ngày 15/11/2012, xuất khẩu đạt 98.555 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ
năm 2011. Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn khiến cho cầu hàng xuất khẩu
giảm thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2012 của Việt Nam dù thấp hơn so với cùng kỳ năm
2011 (tăng 34,7%) vẫn là một kết quả tương đối tốt.
Nhập khẩu 11 tháng đạt 98.729 triệu USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó,
kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 52.037
triệu USD, chiếm tới 52,7% kim ngạch nhập khẩu của cả nước và tăng 23,8% so với cùng kỳ năm
2011.
b) Cán cân dịch vụ
Bảng 3: Cán cân dịch vụ của Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2012
nhập khẩu dịch vụ vận tải tăng lên 69,37% năm 2011 so với nhập khẩu dịch vụ du lịch giảm
xuống còn 14,42% năm 2011. Các ngành dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tài chính, dịch vụ chính phủ,
dịch vụ bưu chính viễn thông vẫn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ lần lượt là 4,85%, 1,97%, 1,51%,
0,8% tổng kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2011.
c) Cán cân thu nhập
Bảng 4 : Cán cân thu nhập của Việt Nam 2000-2011
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Các khoản thu 0,36 0,67 1,09 1,36 0,8 0,5 0,4
Các khoản chi 1,58 2,1 3,26 5,76 3,8 5 5,4
Thu nhập ròng -1,22 -1,43 -2,17 -4,4 -3,0 -4,6 -5,1
( Đơn vị : Tỷ USD) Nguồn : IMF
Thâm hụt cán cân thu nhập gia tăng do phần thu của các hạng mục thu nhập đầu tư (gồm
thu lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng, thu cổ tức từ hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra
nước ngoài và đầu tư vào chứng khoán do người không cư trú phát hành) tăng với tốc độ thấp
hơn tốc độ tăng chi của các khoản mục này.
Các khoản thu được phản ánh trong cán cân thu nhập còn bao gồm cả các khoản tiền
lương, tiền thưởng của người cư trú làm việc tại nước ngoài. Trong những năm gần đây thì số
lượng người Việt Nam làm việc tại nước ngoài tăng lên nhanh chóng do những chính sách
khuyến khích xuất khẩu lao động của Nhà nước. Ðây là một trong những biện pháp giúp tạo công
ăn việc làm đồng thời tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể bổ sung và bù đắp cán cân thu nhập và cán
cân vãng lai của Việt Nam.
d) Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều
Bảng 5: Cán cân chuyển giao vãng lai một chiềucủa Việt Nam 2000-2011
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
[12]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
Chuyển giao tư nhân ( ròng ) 3,15 3,8 6,18 6,8 6,02 7,6 7,6
Chuyển giao chính thức ( ròng ) 0,23 0,25 0,25 0,51 0,4 0,3 0,3
1999 327 2565 2334
2000 391 2838 2413
2001 555 3142 2450
2002 808 2998 2591
[13]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
2003 791 3191 2650
2004 811 4547 2852
2005 970 6839 3308
2006 987 12004 4100
2007 1544 21347 8030
2008 1557 71726 11500
2009 1208 23107 10000
2010 1237 19886 11000
2011 14700 11000
2012 10500
Nguồn : http://www.vietnam-report.com
Giai đoạn hai từ 1995-1997 là những năm diễn ra làn sóng FDI thứ nhất. Giai đoạn này
đã thu hút được 2.130 dự án với vốn đăng ký là hơn 33,4 tỷ USD, vốn thực hiện 12,34 tỷ USD
Giai đoạn 2005-2009, bắt đầu một làn sóng FDI thứ hai vào Việt Nam. Đỉnh điểm là
năm 2008 khi vốn đăng ký đạt hơn 71 tỷ USD. Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, tình hình thu hút có chiều hướng giảm xuống. Cụ
thể, năm 2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đặt mục tiêu thu hút khoảng 20-21 tỷ USD vốn FDI,
nhưng kết quả là chỉ đạt 14,7 tỷ USD. Năm 2012, mặc dù đã giảm mục tiêu thu hút xuống còn
15-17 tỷ USD, nhưng tính đến hết tháng 11, Việt Nam mới thu hút được 12,181 tỷ USD, giảm
21,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kết thúc năm 2012, mặc dù nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới tiếp tục
suy giảm nhưng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các doanh nghiệp FDI đang hoạt động vẫn tăng
− Nguồn vốn ODA :
Bảng 7 : Tình hình vốn ODA cam kết từ năm 2005-2011
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Số vốn cam kết 3.7 4.4 5.4 5 5.9 8 7.9
Đơn vị tính : Tỷ USD Nguồn:Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại – Bộ Tài chính
Qua số vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam luôn tăng trong nhiều năm
gần đây: từ 2,356 tỷ USD năm 2001 lên 4,4 tỷ USD năm 2006, tăng đến mức 5,427 vào năm
2007. Năm 2009, con số này đã đạt kỷ lục 8,063 tỷ USD, so với năm 2008 tổng vốn cam kết tăng
41%. Đến năm 2011, ODA cam kết tài trợ cho Việt Nam đạt 7,9 tỷ và con số này vẫn duy trì ở
mức 7,4 tỷ USD cho năm tài khóa 2012. Trong khi nền kinh tế còn khó khăn, những con số cam
kết rất ấn tượng trên đã chứng tỏ niềm tin của các nhà tài trợ đối với việc sử dụng và phát huy
hiệu quả nguồn vốn tài trợ cho Việt Nam.
2. Nguyên nhân
a) Đối với cán cân thương mại
Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong giai đoạn từ năm 2005 -2011 bắt nguồn từ
những nguyên nhân :
- Thứ nhất, tăng trưởng nhập khẩu nhanh hơn xuất khẩu .Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao
nhưng nhìn chung vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu. Trong giai đoạn 2000 - 2011,
tốc độ tăng trưởng bình quân của kim ngạch xuất khẩu là 20,02%/năm trong khi đó, kim ngạch
nhập khẩu đạt mức tăng trưởng 21,27%/năm. Xuất khẩu của Việt Nam tuy tăng trưởng tương
đối cao nhưng không vững chắc, thành phần xuất khẩu của Việt Nam chưa đa dạng và phụ
thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào nhập từ nước ngoài và một số mặt hàng chủ lực
với giá trị gia tăng thấp. Tình trạng đó dẫn đến kết quả tất yếu là cán cân thương mại rơi vào
trạng thái thâm hụt.
- Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu và chi phí nhập khẩu tăng cao. Nền kinh tế Việt Nam đang trong
giai đoạn chuyển đổi. Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khiến cho nhu
cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng để mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các
ngành đều tăng mạnh. Trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2011,
[15]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
các thị trường mới như Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil. Sản phẩm dệt may của Việt Nam hiện chiếm khoảng
2,69% thị phần thế giới.
Nhu cầu lương thực, thực phẩm thế giới tăng, nhất là gạo và các mặt hàng nông sản nhiệt
đới của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Môi trường chính trị xã hội ổn định, những thành công trong chính sách xóa đói giảm
nghèo cũng như trong các chính sách kinh tế vượt qua khủng hoảng đã nâng cao uy tín và vai trò
của Việt Nam trên thế giới. Điều đó cộng với sự đóng góp tích cực của Việt Nam trên thế giới
cũng tạo nên những thuận lợi cho việc xuất khẩu của Việt Nam qua các thị trường mới
b) Ðối với cán cân dịch vụ
[16]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
Về xuất nhập khẩu dịch vụ, Việt Nam vẫn nhập siêu lớn do thâm hụt thương mại về dịch
vụ vận tải, dịch vụ bảo hiểm…Và dù có xuất siêu về dịch vụ du lịch nhưng cũng không bù đắp
được.
Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ như vận tải, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tài chính,
ngân hàng ở trong nước chưa được phát triển do thời gian hội nhập với quốc tế chưa lâu, hơn
nữa, lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các công ty nước ngoài cung cấp giá cả rẻ hơn, đã
có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực dịch vụ này và tạo dựng được uy tín trên thị trường. Vì
vậy, nhập khẩu dịch vụ của nước ta vẫn còn khá cao, gây ra khoản thâm hụt lớn trong cán cân
dịch vụ cũng như cán cân vãng lai.
c) Ðối với cán cân thu nhập
Như đã phân tích ở trên, các khoản thu nhập ròng từ đầu tư đóng vai trò đáng kể trong cán
cân thu nhập. Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu nên rất cần
nguồn vốn đầu tư thông qua hình thức đầu tư trực tiếp và vay nợ nước ngoài. Trong khi thu nhập
từ đầu tư của Việt Nam không lớn (chủ yếu là lãi của các khoản tiền gửi của người Việt Nam tại
các ngân hàng ở nước ngoài nhưng số lượng và giá trị các khoản tiền này không đáng kể, số
lượng các dự án đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài cũng rất ít và giá trị không lớn) thì
việc luồng vốn FDI và vay nợ nước ngoài thu hút được trong thời gian qua tăng nhanh sau khi
nhà nước còn những bất cập. Do đó, việc phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng cho các bộ, ngành,
địa phương hiện nay mặc dù được coi là rất đúng đắn, nhưng lại đang tiềm ẩn những rủi ro, hạn
chế hiệu quả của dòng vốn FDI.
Nguyên nhân những hạn chế của nguồn vốn FII :
Công tác thu thập dữ liệu và bảo vệ nguồn vốn FII phục vụ cho điều hành chính sách
kinh tế vĩ mô không thể thực hiện được một cách chính xác.
Việc phân công trách nhiệm, cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà
nước trong công tác quản lý vốn FII còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân định rõ ràng giữa hoạt
động quản lý, giám sát hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động quản lý dòng
vốn và phối hợp, chia sẻ thông tin trong quản lý vốn FII đã hạn chế đến việc tham vấn, hoạch
định chính sách vĩ mô để điều tiết các dòng vốn này cũng như hoạt động TTCK.
Hệ thống công nghệ thông tin, nhân sự phục vụ công tác quản lý, giám sát dòng vốn
FII còn hạn chế.
Thị trường tài chính chưa phát triển, còn thiếu tính đồng bộ và yếu tố phát triển bền
vững. Đây vừa là nguyên nhân, vừa là hạn chế trong việc thu hút dòng vốn FII cũng như duy trì
sự ổn định của dòng vốn này.
Một số cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu rõ về vốn FII, nắm bắt chưa đầy đủ về cơ
chế vận hành của dòng vốn này. Dòng vốn FII mang lại nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tiềm
tàng rủi ro nhất định. Vì vậy, thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước là phải giám sát
được dòng vốn này và không nên ngăn cản bằng biện pháp hành chính.
Nguyên nhân những hạn chế của nguồn vốn ODA:
Các vướng mắc do nguyên nhân chủ quan:
- Thời gian chuẩn bị dự án và chuẩn bị thực hiện dự án kéo dài, bao gồm từ khâu đề
xuất ý tưởng dự án cho đến khi ký kết điều ước cụ thể về ODA thường mất khoảng từ 2-3 năm,
dẫn đến việc dự án phải điều chỉnh thiết kế, thay đổi phương án công nghệ dự kiến, tổng mức đầu
tư thay đổi do biến động về giá cả và chi phí giải phóng mặt bằng tăng.
- Nguồn nhân lực tham gia triển khai dự án hạn chế ,cán bộ dự án và tham gia dự án
thiếu kinh nghiệm. Hầu hết các cán bộ đều chưa có kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm về dự án và
phải vừa làm vừa học.Năng lực của các Ban QLDA còn có nhiều hạn chế. Đặc biệt ở các khâu
như: lập kế hoạch, quản lý rủi ro trong quá trình triển khai, kỹ năng theo dõi, đánh giá
trình, dự án còn thấp, đặc biệt là đối với các dự án sử dụng vốn vay của WB (dự án Hiện đại hoá
hải quan và dự án Hiện đại hoá quản lý thuế).
e) Cán cân tổng thể
● Thứ nhất, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
● Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu cao nhờ được tài trợ bởi luồng vốn nước ngoài như
nguồn vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài.
● Thứ ba, giá cả hàng hoá quốc tế tăng cao, đặc biệt là giá các nguyên vật liệu đầu vào
cho sản xuất đã khiến kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh;
[19]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
● Thứ tư, nhập khẩu tăng mạnh và cao hơn nhiều so với xuất khẩu chứng tỏ khi thực
hiện các cam kết đa phương trong WTO, giảm nhiều dòng thuế đã làm cho hàng hoá nước ngoài
vào Việt Nam, trong khi đó muốn tăng trưởng xuất khẩu lại cần có thời gian.
● Thứ năm, lạm phát trong nước cao hơn lạm phát của các đối tác thương mại, trong
khi tỷ giá danh nghĩa giữa VND và USD và tỷ trọng thương mại của Việt Nam với các nước
tương đối ổn định khiến VND lên giá thực, tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu.
3. Giải pháp cải thiện cán cân thanh toán Việt Nam
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực song
vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam về hàng hóa xuất khẩu còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ
lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài…Định hướng điều chỉnh cán cân thanh toán
của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
- Tăng cường hơn nữa thu hút vồn đầu tư nước ngoài bằng cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường dự trữ ngoại tệ và phục vụ cho phát triển kinh tế.
- Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam mặc dù cán cân vãng lai đã có chiều hướng được cải thiện
tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn cũng chưa tạo được độ chắc chắn trong thời gian sắp tới. Vì
vậy, mục tiêu là phải tiếp tục đảm bảo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai (không bao gồm
các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả các khoản nợ hiện tại. Nhưng sự đảo ngược trong các chính sách
nguyên liệu thuốc lá, ngô, đậu tương… Là một nước mà cơ cấu sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm
tỷ trọng khá lớn, tuy nhiên những nguyên liệu phục vụ chế biến như trên chúng ta vẫn phải nhập
khẩu từ nước ngoài. Vì vậy, cần có những biện pháp tạo điều kiện về mặt định hướng, kỹ thuật
cũng như cơ chế giải quyết đầu ra cho các sản phẩm mà trong nước có thế mạnh để hạn chế nhập
khẩu những nguyên liệu thô để sản xuất trong nước, vừa làm giảm nhập siêu và đồng thời giá cả
trong nước cũng rẻ hơn, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa
trong nước.
Thứ tư, hạn chế tối đa việc nhập khẩu hàng tiêu dung đặc biệt là các hàng tiêu dung xa xỉ
và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu ô tô và linh kiện xe hai bánh gắn máy. Đồng thời, quan tâm
tới thị trường tiêu thụ khá lớn trong nước, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm thu hút tại thị
trường trong nước, có các chương trình như “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”,
nâng cao tinh thần quốc gia nhằm tác động giảm xu hướng sính ngoại của người Việt Nam.
Nói chung, những biện pháp hạn chế nhập khẩu chỉ là tạm thời, hiệu quả không cao và có
thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. trong tình thế hiện nay, để giảm được thâm hụt
thương mại, Việt Nam có thể tập trung vào các biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu thay
vì việc tập trung để giảm nhập khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu như trước đây.
3.1.2. Chính sách khuyến khích xuất khẩu
- Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển, cải tiến chế độ phân phối, chế
độ xuất nhập khẩu, tạo ra một sự phân phối nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cùng làm
nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu với cùng một ngành hàng, không phân biệt đó là doanh
nghiệp nhà nước hay tư nhân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao vị thế và sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, trong tiến trình hội
nhập, Việt Nam cần phấn đấu thực hiện những mục tiêu như: đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ
thuật trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi với tất cả quốc gia trên mọi lĩnh vực, thúc đẩy tự do hóa
thương mại bằng các biện pháp giảm bớt thuế, dần tiến tới phi thuế; hủy bỏ việc cấm xuất khẩu,
cấm nhập khẩu; tăng năng suất lao động, giảm bớt chi phí sản xuất hàng hóa để tăng sức mạnh về
giá; đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục đầu tư, thủ tục hải quan, ngoại hối, ngân hàng.
[21]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
- Nhà nước nên có chiến lược khai thác hiệu quả các điểm du lịch vốn đã có tiếng và được
nhiều du khách nước ngoài biết đến.
- Mặt khác, cần nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ cán bộ, lao động,
hướng dẫn viên trong ngành du lịch song song với việc tuyên truyền giáo dục nhận thức cho nhân
dân để mỗi người dân phải có thái độ thiện chí và lòng hiếu khách, chú trọng đến công tác tuyên
truyền quảng bá về đất nước, văn hóa, con người Việt Nam.
[22]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
Thứ hai, nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân dịch vụ của Việt Nam là
do nước ta phải nhập khẩu rất nhiều dịch vụ từ nước ngoài, đặc biệt là các dịch vụ liên quan tới
ngoại thương như vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính… Với một nền kinh tế còn non trẻ như
Việt Nam thì năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ còn yếu so với thế giới là điều dễ hiểu.
Trong thời gian tới, Việt Nam cần có những biện pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các
ngành dịch vụ non trẻ đó, trong đó tập trung đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng.
3.1.4. Biện pháp cải thiện cán cân thu nhập
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động:
- Cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên nhiều lĩnh vực, ngoài những lĩnh vực được xem
là truyền thống với lao động xuất khẩu ở Việt Nam như xây dựng, đánh bắt thủy hải sản, cơ khí…
Việt nam cần chú ý tới các lĩnh vực mới mà lao động Việt Nam có khả năng đáp ứng như nhân
viên tạp vụ nhà hàng, công nhân làm trong các khu công nghệ cao, sản xuất hàng trang trí nội thất
cao cấp.
- Cần đa dạng hóa thị trường lao động, giữ vững những thị trường truyền thống như Ðài
Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản… và tìm kiếm, thúc đẩy xuất khẩu lao động vào các thị
trường mới tiềm năng như Mỹ, châu Âu, Trung Ðông, đây là những thị trường có nền kinh tế
phát triển và có chế độ đãi ngộ tốt, mức lương trả cho lao động cao.
- Tăng cường chất lượng nguồn lao động. Muốn có thu nhập cao thì người lao động phải
có trình độ tay nghề vững, có tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật tốt. Vì vậy, Nhà nước và các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần phải tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo bài bản cho người
thành sản phẩm tăng, giảm sức cạnh tranh và đến lượt nó là yếu tố cản trở tăng xuất khẩu. Tỷ giá
tăng cũng là nguyên nhân trực tiếp làm cho gánh nặng về nợ của các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu và các nhà đầu tư tăng lên.
- Về chính sách tài khóa, Việt Nam có thể tăng các rào cản phi thuế quan đối với hàng
nhập khẩu như sử dụng biện pháp cấp phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan (theo cam kết gia
nhập WTO, Việt Nam đã bảo lưu được quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với 4 nhóm mặt
hàng là: đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối), các loại phí phụ thu… Tuy nhiên, việc áp
dụng các biện pháp này phải được xem xét trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO và
phải tuân thủ lộ trình giảm thuế đã cam kết. Bên cạnh đó, kiểm soát chi tiêu của Chính phủ, nâng
cao hiệu quả đầu tư công cũng là biện pháp quan trọng phải tính đến.
- Về chính sách tiền tệ, do tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt theo hướng sát với giá trị thực
của nó, vai trò của tỷ giá như là chiếc neo danh nghĩa nhằm kiểm soát lạm phát không còn nữa,
đồng thời để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam nên thực hiện chính sách tiền tệ
hướng vào mục tiêu kiểm soát lạm phát (áp dụng chính sách mục tiêu lạm phát); trong đó đặc biệt
lưu ý vai trò của lãi suất là công cụ điều hành của chính sách tiền tệ.
3.2. Các giải pháp đẩy mạnh cán cân vốn và tài chính
Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đứng trước hai vấn đề quan trọng có
liên quan đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:
- Tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu của Nhà
nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư.
- Tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước
dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai và sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài.
Cả 2 vấn đề này có thể giải quyết bằng cách thu hút vốn ngoài nước, trong đó có FDI và
ODA.
[24]
GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung Nhóm 4 – Đêm 4 – K22
Cán cân thanh toán Việt Nam
3.2.1. Thu hút và sử dụng vốn có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)
Trong các luồng vốn nước ngoài vào, đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp được coi là