tiểu luận kinh tế vĩ mô chính sách kích cầu cảu việt nam - Pdf 24

2009

GVHD: GS – TS NGUYỄN VĂN LUÂN
Nhóm Wall.E
12/28/2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT BÀI TIỂU LUẬN BỘ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện:
P.GS TS. NGUYỄN VĂN LUÂN 1. Lê Ngọc Hạnh
2. Phan Nữ Quỳnh Mơ
3. Đoàn Quốc Huy
4. Lã Văn Thọ
TP. Hồ Chí Minh – 12 /2009
CHÍNH SÁCH KÍCH C



T ĐHQG TP.HCM

2
MỤC LỤC

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý thuyết về Khủng hoảng tài chính 4
1.2. Chính sách kích cầu 8
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TIỄN
2.1. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế hiện nay 16
2.1.1. Ảnh hưởng đối với kinh tế thế giới 16
2.1.2. Tác động đối với nền kinh tế Việt Nam. 22
2.2. Chính sách kích cầu của các quốc gia 27
2.2.1. Chính sách kích cầu của một số quốc gia có tính tham khảo đối với Việt Nam
27
2.2.2. Chính sách kích cầu của Việt Nam 36
2.3. Tác động của chính sách kích cầu của Việt Nam đối với nền kinh tế 45
2.3.1. Tác động của gói kích cầu trong ngắn hạn. 45
2.3.2. Tác động gói kích cầu trong dài hạn. 46
2.3.3. Mặt trái của quá trình kích cầu 53
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG - BIỆN PHÁP
3.1. Đối với thị trường tài chính 56
3.2. Chi tiêu đầu tư của chính phủ 56

T ĐHQG TP.HCM

3
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta biết đến kinh tế học là một môn nghiên cứu những lữa chọn của cá nhân và xã
hội về cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên có giới hạn. Kinh tế học nghiên cứu các
hiện tượng kinh tế trên hai góc độ: Một là góc độ bộ phận gia đình, hai là góc độ toàn bộ
nền kinh tế . Cách tiếp cận thứ hai đã dẫn tới việc hình thành môn kinh tế vĩ mô. Như vậy
có thể xác định đối tượng nghiên cứu của kinh tế vĩ mô là nền kinh tế và sự hoạt động của
nền kinh tế. Nhiệm vụ của của nó là phối hợp với các môn khoa học khác của khoa học
kinh tế giúp cho người học hiểu được sự hoạt động của nền kinh tế, xác định được các
vấn đề của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn, hiểu được nguyên nhân và hậu quả của mỗi
vấn đề, đề xuất được giải pháp cho mỗi vấn đề đó.
Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mĩ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu, gây
ra những hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng
không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng, nhất là khi mà chúng ta đã trở thành thành viên
thứ 150 của WTO. Khủng hoảng đã có những ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống xã
hôi, và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói riêng cũng như chính
phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát
khỏi khủng hoảng. Đối với sinh viên, họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là tầng
lớp trẻ củ xã hội thì cuộc khủng hoảng vừa qua là cơ hội để sinh viên có được mối liên hệ
giữa thực tế với kiến thức được học.
Là những sinh viên đang theo học khối ngành kinh tế tại Khoa kinh tế ĐHQG. TP Hồ
Chí Minh, với niềm đam mê môn học kinh tế vĩ mô, và mong muốn được tìm hiểu, mong


ĐHQG TP.HCM

4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LY LUA ̣N
1.1. Lý thuyết về Khủng hoảng tài chính
1.1.1. Khái niệm về tài chính.
Tài chính (finance) hiểu theo nghĩa rộng là sự luân chuyển các luồng (dòng) vốn
(tiền và giống như tiền). Trên con đường luân chuyển đó hình thành vô số các quỹ (nhà
nước, doanh nghiệp, trung gian tài chính và tổ chức, gia đình, cá nhân) hay nói cách khác
dòng luân chuyển đó là tập hợp của vô số quỹ với các mối quan hệ chằng chịt giữa các
quỹ này tạo nên một hệ thống tài chính.
Vậy ta có thể định nghĩa: Tài chính là tập hợp các quỹ tiền (giống như tiền) cùng
các mối quan hệ giữa chúng. Nếu nằm trong khu vực quốc gia thì hình thành hệ thống
tài chính quốc gia (national finance) và trên phạm vi khu vực hay toàn cầu thì thì hình
thành hệ thống tài chính quốc tế (international finance).
1.1.2. Khái niệm khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn
đến sụp đổ. Nó chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc
đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình.
Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung, nhu cầu về
tiền mặt của người dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân
hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và tài chính có thể sụp đổ.
Trong nền kinh tế thế giới hiện đại, sự lây lan của khủng hoảng tài chính luôn đi kèm với
tình trạng nền kinh tế bị suy thoái bị kéo dài. Chính vì vậy khủng hoảng tài chính mang
đặc điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra trong
nền kinh tế từ nhiều năm qua.

5
1.1.3. Dấu hiệu và một số dạng của khủng hoảng tài chính
a. Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính
- Các Ngân hàng trung ương (NHTW) không hoàn trả được các khoản tiền gửi
của người gửi tiền.
- Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể
hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Theo quy luật của sự phát triển, khi lên đến điểm phát triển cực đại chịu tác động mạnh
mẻ của nền kinh tế chính trị xã hội thì nền kinh tế đó sẽ chuyển sang thời kỳ đi xuống suy
thoái khủng hoảng.
b. Một số dạng khủng hoảng đặc thù
- Khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis)
Rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi của các thể nhân và pháp
nhân để cho vay lại nen rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại
tiền. Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại
được dẫn đến tỷ lệ nợ quá cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi
đến hạn.
- Khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis)
Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên
không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ,
thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (VD: CHDCND Triều Tiên).
- Khủng hoảng tiền tệ (Monnetary Crisis)
Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn đáp ứng nhu cầu (cả
thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ đề duy trì tỷ
gia hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
- Khủng hoảng thị trường chứng khoán (Crisis of Security Market)

ĐHQG TP.HCM

6
chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc/ leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do
hiệu ứng “ bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “ bán đổ bán tháo” hoặc thị trường bị đông
cứng vì không có giao dịch tạo ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng khoán) vào/ra thị
trường chứng khoán.
- Khủng hoảng cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn.
Cán cân thanh toán/ cán cân vãng lai/cán cân vốn(còn được gọi là tài khoản) là cấu thành
quan trọng nhất của tài khoản quốc gia. Khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt
quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân vãng lai
thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập khẩu-xuất khẩu) bị thâm hụt và khủng hoảng
cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào.
- Khủng hoảng khả năng/tính thanh khoản (Crisis of Liquidity)
Nếu các loại khủng hoảng tài chính ở trên liên quan tới cả 3 mặt số lượng, thời gian và
chủng loại của tiền, thì khủng hoảng tính thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liên quan
tới thời hạn và chủng loại của giống tiền và một số loại tài sản đặc thù.
- Khủng hoảng ngân sách (Budget Crisis)
Ngân sách nhà nước thâm hụt nặng và kéo dài trong khi các nguồn bù đắp thâm hụt (in
tiền, vay nợ trong và ngoài nước) bị hạn chế hay/và không thể bị lạm dụng hơn nữa nếu
muốn tránh hậu quả tai hại hơn như vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát.
1.1.4. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Có thể kể khái quát 1 số nguyên nhân sau:
- Giá hàng hóa leo thang: Khi giá hàng hóa leo thang một cách chóng mặt, đặc
biệt là giá vàng và giá dầu sẽ khiến cho khủng hoảng tài chính dễ dàng xảy ra.
- Các ngân hàng trên thế giới đồng loạt thua lỗ: Các ngân hàng và các định chế
tài chính có thể thua lỗ hàng tỉ đôla Mỹ từ cuộc khủng hoảng tín dụng do khủng

ĐHQG TP.HCM

7
- Thị trường tín dụng bị đóng băng: Các khoản vay thế chấp đã giảm hẳn trong
năm 2008, trong đó khoản vay thế chấp thương mại hoàn toàn bị biến mất trên
biểu đồ.
- Thị trường địa ốc sụp đổ: Thị trường nhà ở của Mỹ phát triển thành bong bóng
từ năm 2001, người Mỹ đồng loạt đi vay tiền mua nhà ở cho dù năm 2004 –
2005 lãi suất các khoản vay đã được đẩy lên cao, khi tình hình kinh tế khó khăn
thì giá nhà hạ xuống mạnh, từ cuối năm 2008 bong bóng nhà ở bắt đầu xẹp hơi,
khiến nền kinh tế chao đảo.
Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu là các vấn đề liên
quan đến thị trường nhà ở địa ốc, thêm vào đó, tình trạng hoản loạn trên thị trường tài
chính thế giới cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá cổ phiếu giảm mạnh và thị
trường tín dụng bị thu hẹp. Nói cách khác có thể thấy cuộc khủng hoản tài chính toàn cầu
hiện nay là do tỷ lệ cấp vốn vào thị trường so với GDP vượt quá giá trị có thể đảm bảo
một sự phát triển ổn định trong tương lai.
1.1.5. Phương thức chung giải quyết một cuộc khủng hoảng tài chính.
Trước hết, chúng ta phải giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng
hai chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị
trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường
yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt.
Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh
khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó. Khi đó,
công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường
mở với các giao dịch mua bán lại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành. Ngoài công
cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp


8
NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối
cùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào
đó thì đồng tiền sẽ giảm giá.
Giải quyết khủng hoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những điều
không chắc chắn của nhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân. Thêm vào đó,
buộc các thể chế này phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và
bán cho cơ quan cơ cấu lại nợ của Chính phủ. Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt
khó khăn cho người cho vay – ngân hàng. Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính
triệt để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuật
thích hợp.
1.2. Lý thuyết về Chính sách kích cầu
1.2.1. Khái niệm
Chính sách kích cầu là một loạt các biện pháp kinh tế nhằm duy trì và gia tăng
tổng cầu của một nước thông qua sự can thiệp của Nhà nước.
1.2.2. Nguồn gốc và cơ sở của chính sách kích cầu
Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học nổi tiếng
người Anh John Maynard Keynes (1883-1946). Trong lý thuyết của mình, Keynes rất coi
trọng tổng cầu của nền kinh tế. Theo ông, nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ
bản: Tổng cung, tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu, tức toàn thể số
hàng hóa mà người ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm
trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu. Tổng cung giữ vai trò thụ
động, nó chịu sự tác động của tổng cầu. Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố: mức chi tiêu
cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu
ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng).
December 28, 2009

Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường không
theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tư, gây
ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng này phải tăng
tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư. Do đó sẽ gia tăng việc làm
và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được gia tăng.
Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh
tế thông qua chính sách kich cầu của Chính phủ. Ông cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng
và thất nghiệp cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng
việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ như chương trình
đầu tư Nhà nước; Chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; Mở rộng việc làm
bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự; Khuyến
khích tiêu dùng cá nhân
Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả
thuyết quan trọng của học thuyết Keynes.
- Giả thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa. Biểu hiện của
tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử dụng hết công suất: thất
nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và hàng
hóa ế thừa.

AD

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

10
Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọng bán được hàng
hóa. Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cả các thị trường. Lúc này
những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm vì họ đã thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũng không khuyến khích người mua, và cầu
càng ở dưới xa cung thực tế.

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

11
AD

Y*

December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T

 Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong
dài hạn.
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T
tiền cho lưu thông để tăng thu nhập bằng tiền cho xã hội, tung thêm đồng nội tệ để mua
ngoại tệ Tất cả việc này sẽ làm lạm phát gia tăng, nhưng nó lại kích thích sản xuất tăng
trưởng, công ăn việc làm gia tăng, tiêu dùng gia tăng và nền kinh tế tăng trưởng theo.
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T


tượng rút vốn đầu tư ở nước đó để di chuyển vào những nước có lãi suất cao hơn, nên làm
cho đầu tư trong nước không tăng mà lại sụt giảm và ngược lại.
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

17

December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM


và hỗ trợ tăng trưởng.
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

hơn với nền kinh tế và tự do thương mại Mỹ. Đồng thời, khủng hoảng toàn cầu khiến cho
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

won của Hàn Quốc cũng đang trong giai đoạn mất giá nghiêm trọng kể từ sau cuộc khủng
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

1,4019 và giảm sâu tới mốc 1,2466 vào ngày 27/10/2008 và dừng ở mức 1,273 vào ngày
December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM

December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM


December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM


December 28, 2009

CHÍNH SÁCH KÍCH C

U C

A VI

T NAM
Nhóm Wall.E

|
L

p K8T KHOA KINH T

-
LU

T ĐHQG TP.HCM


Trích đoạn Đối với thị trường xuất khẩu Đối với thị trường nội địa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status