1
LỜI NÓI ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I.Cơ sở lý thuyết 3
1.Tiền tệ và các chức năng của tiền tệ 3
2.Cung và cầu tiền tệ 3
3.Chính sách tiền tệ 3
4.Nội dung cơ bản và những công cụ của chính sách tiền tệ 4
II.Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong những năm gần đây 6
1.Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2007 6
2.Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2008 8
3.Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2009 11
4.Những chính sách tiền tệ năm 2010 13
III.Những ưu, khuyết điểm của chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian vừa
qua và cách khắc phục 15
1.Những ưu điểm của chính sách tiền tệ thời gian qua 16
2.Những thiếu sót của chính sách tiền tệ thời gian qua 16
3.Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ của nhà nước 17
KẾT LUẬN 19
2
Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải
mở giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa
mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhu cầu mở
rộng lượng tiền cung ứng (Cầu về tiền) ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ
cung - cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt
nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.
Ngày nay không ai còn có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh tiền tệ cho phù
hợp với nhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức
của các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ phải theo đuổi.
Hàm cung tiền tệ: MS = M
0
+ D
H = M
0
+ R
b. +*: Là toàn bộ lượng tiền mà tác nhân trong nền kinh tế muốn giữ để thoả
mãn nhu cầu trao đổi, thanh toán và tích luỹ giá trị.
Hàm cầu tiền tệ: LP = k.Y – h.i
3. !,!- !
Khái niệm: Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô nhằm kiểm soát tiền
tệ của nhà nước thông qua ngân hàng nhà nước với hai công cụ chủ yếu là: mức
cung tiền và lãi suất. Qua đó tác động đến đầu tư tư nhân, tổng cầu để đạt được các
mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế .
Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong
việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng
trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng ,nó thể
4
hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ .Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết
quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.
Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến
sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định được
xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch
vụ trong nước)và sức mua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại
tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm
phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được,để có một tỷ lệ lạm phát
giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
Tạo công ăn việc làm cho người lao động, hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp và duy trì ở mức
thất nghiệp tự nhiên: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử
Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với
các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại,
Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân
hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa
trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan (cho vay) của
các Ngân hàng thương mại.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán
giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá,
gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác
động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm
tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính
sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt
lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1
công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ
trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi
suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
6
Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính
của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ
chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương
buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng
ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung
cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác
động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập
khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn
dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính
tranh chấp kinh tế, thương mại hay những lý do chính trị nào đó, thị trường cho
hàng hóa của Việt Nam sẽ được mở rộng và ổn định hơn. Và do vậy, lợi ích từ
thương mại quốc tế của chúng ta sẽ tăng.
- Tự do hóa giá cả nông sản sẽ có lợi cho các quốc gia sản xuất nông nghiệp.
Bảo hộ giá nông sản của các quốc gia phát triển giảm xuống sẽ mở rộng hơn nữa
thị trường nông sản của Việt Nam.
- Chi phí kinh doanh sẽ giảm vì hiện tại lĩnh vực dịch vụ là khu vực được Nhà
nước bảo hộ nhiều nhất. Hậu quả là năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ kém
và giá cao. Khi gia nhập vào WTO, độc quyền của những ngành này sẽ phải bãi bỏ,
buộc các doanh nghiệp này phải cải cách, cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng và
hạ giá dịch vụ, hiệu quả cho toàn nền kinh tế sẽ lớn hơn.
- Với hiệp định những biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMS)
đã tạo thêm sự đảm bảo quốc tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Để kiềm chế lạm phát đồng thời ổn định thị trường ngoại hối trong nước.
NHNN đã có các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng phương
tiện thanh toán thông qua 2 biện pháp chủ yếu là rút tiền từ lưu thông về và giảm
tốc độ tăng trưởng tín dụng, giữ ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái thông qua các
biện pháp là: tăng cường bán tín phiếu NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở,
Việc rút từ lưu thông về còn được thực hiện bằng cách tung tiền VND để mua
8
ngoại tệ chủ yếu vẫn là USD; thậm chí tiền đồng này được lấy từ nguồn “phát
hành”
Một biện pháp bình ổn giá cả hạn chế lạm phát của nhà nước được nhiều người
chú ý đến đó là giải pháp “kiểm soát giá niêm yết”.Kiểm soát giá niêm yết có nghĩa
là sử dụng “quyền” của Nhà nước để điều hành giá cả. Biện pháp này cho hép nhà
nước quản lí giá của một số mặt hàng có tính chiến lược như xăng dầu, phân bón,
thuốc trừ sâu, than, điện
Tác động của những chính sách tiền tệ tới thị trường
Giả sử ban đầu nền kinh tế Việt Nam đạt trạng thái cân bằng trong ngắn hạn
tại điểm A ( Y
B
CM = i
0
A
Y
1
Y
0
Y
9
Nền kinh tế tăng trưởng nóng .
Khả năng lạm phát tăng cao.
Vậy để kiềm chế lạm phát , kiềm chế nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và ổn
định thị trường ngoại hối. Nhà nước đã sử dụng chính sách tiền tệ là: rút tiền từ lưu
thông về, giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, giữ ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái
và kiểm soát giá niêm yết của một số mặt hàng thiết yếu.
Việc rút tiền từ lưu thông về -> MS -> đường LM dịch chuyển sang bên trái->
điểm cân bằng dịch chuyển từ điểm B -> C ( Y
3
; i
3
)
Tại C: Y
3
<Y
2
; i
3
> i
2
tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng đồng thời
cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động
sản… đã tác động mạnh đến thị trường. Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh
mẽ: các hoạt động cho vay gần như co cụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở
lên bất ổn, thị trường bất động sản đang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở lên
lạnh giá, thị trường vàng như con ngựa bất kham, giá cả hàng hoá thì tăng vọt…
Chính sách tiền tệ bộc lộ thật rõ sức mạnh của nó.
Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hành
chính sách tiền tệ vào những tháng đầu năm 2008:
- Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%. (Quyết định 187/QĐ-
NHNN).
- Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng
0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%, lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định 305/QĐ-
NHNN).
- Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiện
vào ngày 17/3, với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364
ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-NHNN).
Cả ba giải pháp trên đều hướng tới mục tiêu rút bớt tiền trong lưu thông
về.Các giải pháp sau đó cũng không kém phần quyết liệt. Theo Quyết định
305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổn định ở mức
8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm. Sau hơn 3 tháng
thực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau,
11
ngày 11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bản
lên mức 14%/năm.
Trong khi đó, không thể không nói tới chính sách tài khoá
Mô hình IS-LM:
Giả sử ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng trong ngắn hạn tại A( Y
0
;i
0
= )
i
LM
1
IS
LM
IS
1
CM
=
A
C
B
Y
0
Y
2
Y
1
0
Y
12
Với: Y
2
<Y
1
; i
1
<ổn định được lãi suất.
Bản thân nền kinh tế trong nước cũng sẽ gánh chịu những ảnh hưởng lạm phát
từ năm 2008, các cân đối vĩ mô chưa ổn định, sức cạnh tranh nền kinh tế thấp.
Vì vậy Nhà nước đã thay đổi những chính sách tiền tệ để phù hợp với tình
hình kinh tế trong nước và thế giới hiện tại.
Nếu như năm 2008 nước ta sử dụng chính sách tiền tệ chặt, thì sang tới năm
2009 để kích thích thị trường đang trở nên nguội lạnh cũng như kích thích tăng
trưởng thì nhà nước đã ban hành những chính sách tiền tệ linh hoạt hơn từ thắt chặt
tới nới lỏng.
Những tháng đầu năm 2009, Nhà nước vẫn sử dụng chính sách tiền tệ thắt
chặt như năm 2008 để kiềm chế lạm phát cũng như hạn chế những ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế. Nhưng sau đó do nhận thấy nền kinh tế đang trở nên
nguội lạnh và có chiều hướng suy giảm Nhà nước đã thay đổi sang chính sách tiền
tệ lỏng với những gói kích cầu để kích thích tăng trưởng.
Giả sử ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng trong ngắn hạn tại
A ( Y
0
;i
0
) do tình hình kinh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng
nên kim nghạch suất khẩu của nước ta giảm so với năm 2008, đồng thời những
khoản đầu tư, cho vay từ nước ngoài cũng bị giảm đáng kể.
IS
1
LM
i
IS
LM
1
B
C
xuất khẩu khó có mức tăng cao. Hơn nữa, những khó khăn trong xuất khẩu của
Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp, gia công, sản phảm thô, giá trị chế
biến thấp nên khó tăng mạnh về kim ngạch; lạm phát ở các nước có khả năng cao
cũng là những trở ngại cho xuất khẩu và cuối cùng là do cầu tiêu dùng thế giới còn
thấp.
Thứ hai:
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng dần, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng vẫn còn hạn chế do các công ty lớn đang trong
thời kỳ hồi phục, cần nhiều vốn cho phát triển.
Thứ ba:
15
Bộ Tài chính nhận định, do thực hiện gói kích thích kinh tế ở các nước, một
lượng tiền lớn được đổ vào nền kinh tế, thâm hụt ngân sách tăng làm cho nguy cơ
tăng lạm phát, giá cả sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu tăng cao sẽ tác động lớn tới
những ngành sản xuất của Việt Nam đang phụ thuộc vào nguyên liệu, thành phẩm
nhập khẩu ở nước ngoài.
Thứ tư:
Khu vực tiền tệ chưa bền vững, rủi ro cao. Các thị trường chứng khoán, thị
trường tiền tệ, thị trường ngoại hối đã có dấu hiệu phục hồi, song còn chứa đựng
nhiều rủi ro, chưa ổn định; thị trường vàng còn biến động nhiều cũng tác không nhỏ
tới ổn định tiền tệ và các cân đối vĩ mô của Việt Nam.
Với việc sử dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt trong năm 2009. Nền kinh
tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, hạn chế được khả năng suy
thóai kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sang tới năm
2010 với mục tiêu vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, vừa kiềm chế lạm phát có thể
khiến Việt Nam chấp nhận những thay đổi về chính sách tiền tệ năm 2010.
Ngay từ những tháng cuối năm 2009, những biện pháp điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước bắt đầu cho thấy dấu hiệu chuyển dần từ nới lỏng
sang chính sách thắt chặt.
Trong lúc thực hiện mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế, phù hợp với mục
17
Giả sử ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng tại A ( Y
0
; i
0
)
Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa lỏng => đường IS dịch chuyển song
song sang phải.
Xác định điểm cân bằng mới trong nền kinh tế tại B ( Y
1
;i
1
)
Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ lỏng để thúc đẩy nền kinh tế
Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ lỏng => đường LM sẽ dịch chuyển
song song sang trái
Xác định điểm cân bằng mới tại C ( Y
2
;i
2
)
Tại C : Y
2
<Y
1
; i
2
> i
1
Sản lượng giữ nguyên nhưng I và C tăng lên.
chỉ số giá cả tăng thì NHNN thực hiện thắt chặt tiền tệ (năm 2008 tổng phương tiện
thanh toán cung ứng cho nền kinh tế giảm xuống chỉ còn 17% so với năm 2007).
Thành công lớn nhất của chính sách tiền tệ thời gian qua là việc đẩy lùi nguy cơ
suy thoái nền kinh tế do các tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.
Sau khi gia nhập WTO tình hình kinh tế nước ta có nhiều thay đổi để bắt kịp với xu
hướng phát triển vì vậy chính sách tiền tệ góp phần thúc đẩy quá trình thích ứng
của nền kinh tế với những sự thay đổi đó.
2. !3$!V*-W%&!,!- !!S$&T*&U
Còn chưa được đưa ra kịp thời.
Còn có những thiếu sót trong việc đưa ra các mức lãi suất hiện hành: mức lãi suất
hiện nay thường xuyên biến động gây ra tâm lí lo lắng cho nhà đầu tư.
Tỷ lệ tín dụng trung, dài hạn tăng không tương xứng với tốc độ tăng nguồn huy
động các loại vốn này.
Việc tái cấp vốn và kiểm soát lượng tiền cung ứng còn chưa được tiến hành một
cách hiệu quả.
Còn có nhiều tồn tại trong quy chế dự trữ bắt buộc: việc đưa ra các mức dự trữ bắt
buộc còn chưa bắt kịp với xu hướng phát triển kinh tế.
Những tồn tại trong tổng nguồn vốn huy động và mức dư nợ cho vay nền kinh tế bị
tăng chậm.
19
Một số chính sách còn chưa được hiệu quả và không đáp ứng hoàn toàn được mục
tiêu đề ra.
3. .-X$2Y! Y!Z(![!!,!- !%&!P\U
a. *!! 4$5!,!- !
Trong điều kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là trong bối cảnh kinh
tế thế giới đang sụt giảm, thì việc tiếp tục điều hành các công cụ chính sách tiền tệ
cần chủ động, linh hoạt; theo kịp sự phát triển của thị trường tiền tệ.
Duy trì việc tự do hoá công cụ lãi suất. Để Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực
sự là người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng, cần tiếp tục đổi mới
cơ chế điều hành lãi suất theo hướng : sử dụng lãi suất tái chiết khấu như lãi suất
chính sách tiền tệ của NHNN. Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN
phải thích ứng với mức độ hội nhập tài chính thế giới và phù hợp thể chế chính trị ở
nước ta. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật NHNN theo hướng trao thêm chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho NHNN trong xây dựng dự án chính sách tiền tệ;
chủ động trong việc sắp xếp cơ cấu tổ chức và nhân sự; tự chủ về tài chính trong
bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ NHNN;
có chế độ đãi ngộ hợp lý để khuyến khích thu hút nhân tài; hiện đại hoá công nghệ
quản lý trong việc tổng hợp, thống kê, phân tích, dự báo phục vụ cho việc điều
hành chính sách tiền tệ.
c. ab(c!-dY! `R%&!e`PS$U
Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng
thành viên tham gia thị trường; nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN
trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho thị trường
tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả
trong cơ chế truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
d. dY!X!fY$3&!,!- !\!,!- !!,!(.-X!,!
- !g!Vh(4g! U
Để nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ cần có sự phối hợp chặt chẽ
giữa chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác (chính sách tài chính,
chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài ). Trong điều kiện dòng vốn đầu tư nước
21
ngoài chảy vào Việt Nam nhiều như một số năm trước đây (trong đó có dòng vốn
ngắn hạn), nếu không kiểm soát tốt dòng vốn này, sẽ ảnh hưởng đến việc chống
lạm phát. Do đó, cần có sự phối hợp chặt giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài
chính và chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài : đánh thuế hoặc yêu cầu ký quỹ
đối với dòng vốn ngắn hạn vào Việt Nam. Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới
sụt giảm, thì việc điều hành chính sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp chính sách tài
chính nhằm mục tiêu góp phần ngăn chặn nguy cơ sụt giảm nền kinh tế trong nước,
nhưng đồng thời kiểm soát được lạm phát.
'i