Bài giảng đất nước phần 2 thầy phạm hữu cường - Pdf 37

Hocmai.vn – Website học trực tuyến số 1 tại Việt Nam
Khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN - C: Môn Ngữ văn (Thầy Phạm Hữu Cường)

Đất Nước – N.K Điềm

ĐẤT NƯỚC (PHẦN 2)
Giáo viên: PHẠM HỮU CƯỜNG
TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
Đây là tài liệu đi kèm với bài giảng Đất Nước (Phần 2) thuộc khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN-C: Môn Ngữ văn
(Thầy Phạm Hữu Cường) tại website Hocmai.vn.

PHẦN 2:
NHỮNG ĐỊNH NGHĨA ĐỘC ĐÁO VỀ ĐẤT NƯỚC
VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC
I. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC VÀ PHẠM VI RA ĐỀ:
1. Tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại".
2. Hình tượng đất nước, những khám phá mới mẻ về đất nước và tình cảm của nhà thơ đối với đất
nước. (Chú ý so sánh với Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Tuyên
ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm...)
3. Những khám phá mới mẻ về nhân dân và tình cảm nhà thơ đối với nhân dân. (Chú ý so sánh với
Việt Bắc của Tố Hữu, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên…)
4. Nghệ thuật sử dụng và giá trị ý nghĩa của các chất liệu văn hoá dân gian trong đoạn thơ.
5. Phân tích, cảm nhận được các đoạn tiêu biểu:
- 9 dòng đầu.
- "Trong anh và em hôm nay…Làm nên Đất Nước muôn đời"
- Những người vợ nhớ chồng…Những cuộc đời đã hoá núi sông ta"
- "Em ơi em/Hãy nhìn rất xa…….Đất Nước của ca dao thần thoại"
II. KIẾN THỨC CƠ BẢN:
Đoạn thơ: “Đất là nơi anh đến trường... Làm nên Đất Nước muôn đời”
Đoạn thơ bình giảng dưới đây Nguyễn Khoa Điềm đã tách riêng 2 yếu tố đất nước và trình bày theo lối
đ/n giải thích để khẳng định đất nước chính là sự hoà hợp của 2 yếu tố đất, nước. Nó gắn bó mật thết với đời

Những câu thơ trên được viết bằng tư duy, vừa mang tính trữ tình lại vừa giàu sức triết luận. Nhà thơ
tách 2 yếu tố đất nước Đất tương ứng với anh, nước tương ứng với em. Khi Nguyễn Khoa Điềm nói riêng về
anh và em với những kỷ niệm tuổi thơ mỗi người thì nhà thơ tách riêng 2 chữ “đất, nước, còn đến khi anh
em hò hẹn gắn kết thành “ta” thì 2 chữ đất nước lại được đứng sát cạnh nhau và ở đầu dòng thơ. Qua đây
NKđ muốn thể hiện: đất nước chính là sự hoà hợp của 2 yếu tố đất và nước. Đất nước không phải là cái gì
cao siêu xa vời mà nó là không gian sinh tồn hết sức gần gũi thân quen với mỗi người, đó là nơi anh đến
trường – nơi ghi dần những kỷ niệm đầu đời, khi lần đầu tiên bước chân đi học để làm người có ích mai sau.
Nơi ấy còn là chốn hẹn hò của tình yêu lứa đôi. Câu thơ “ Nước là nơi em tắm” gợi người đọc liên tưởng
đến những giếng nước, ao làng trong vắt, ngọt lành của quê hương. Có thể nói câu thơ:
“ Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
Là câu thơ viết rất hay và sâu sắc, thầm đẫm chất liệu văn hoá dân gian gợi cho người đọc nhớ tới ca dao!
“Khăn thương nhớ ai!
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai”
Hình ảnh khăn trong bài ca dao là sự hoá thân cho của người con gái trong tình yêu lứa đôi thật đẹp, thật
nồng thắm, da diết. Nguyễn Khoa Điềm tiếp nối mạch cảm xúc ấy để khẳng định đất nước có trong tình cảm
của đôi lứa yêu nhau, hay nối cách khác nhau, tình yêu lứa đối đã hoà hợp làm 1 với tình yêu đất nước. Đây
là 1 từ thơ đẹp đã được nhiều nhà thơ nói đến.
“ Anh yêu em như yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngàn”
( Nguyễn Đình Thi)
Đất nước không chỉ hoà hợp trong tình yêu lứa đôi, gắn bó mật thiết với con người với mỗi chàng trai, cô
gái mà thể hiện ở vẻ đẹp tự nhiên, làm đẹp thêm cuộc sống con người.
“ Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi “ con cá ngư ông mang nước biển khơi”
Từ những câu ca dao miền Trung đẹp huyền thoại đã được nhà thư đưa vào 2 câu thơ trên gợi ra 1 đất
nước giàu đẹp với muôn trùng núi bạc bát ngát biển khơi.
Những câu thơ tiếp vẫn theo lời triết luận, suy tưởng với giọng thơ trầm lắng để tác giả thực hiện cảm
nhận của mình về đất nước trên bề rộng lớn không gian và thời gian đằng đẵng:

rệt, gợi 1 vẻ đẹp đất nước vàư chân thực, vừa phảng phất chất huyền thoại. Đồng thời đánh thức tình cảm tổ
tiên, tình cảm cội nguồn trong đầy tâm linh người Việt. Dù là sống ở miền ngược, miền xuôi trên rừng hay
dưới bể, trong Nam hay ngoài Bắc đều là con cháu một nhà của tổ tiên Lạc Long Quân, Âu cơ gắn bó ruột
thịt bao đời chung sức, chung lòng tạo dựng được quê hương ngày càng tươi đẹp, hùng mạnh. Đất nước ấy,
dân tộc ấy tồn tại và phát triển do các thế hệ con người Việt Nam lớp lớp nối tiếp:
“Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trò để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết nhớ ngày giỗ Tổ”.
Những câu thơ thật tự nhiên mà vô cùng xao động lòng người đem đến những nhận thức về mối liên hệ
vô cùng chặt chẽ, giữa các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi liên hệ ấy thật tự nhiên
và mật thiết như máu chảy về tim. Thế hệ sau tiếp tục sống, bảo vệ, giữ gìn dựng xây những thành quả mới,
làm tiếp những công việc mà người đi trước kể lại giọng thơ trong những câu thơ này thật trữ tình, bình dị
mà sâu sắc vô cùng làm cho mỗi con người Việt Nam đang sống của ngày hôm nay không những đối với thế
hệ tương lai. Nhưng đặc sắc nhất vẫn là 2 câu thơ này:
“Hàng năm ăn đâu là đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”
Nâng tầm vóc dân tộc, tầm vóc đất nước lên tầm cao mới, chúng ta thấy ở đây vẻ đẹp của cảm xúc, của
tầm hồn, của hình thức và trách nhiệm đều nổi bật. Hai chữ “cúi đầu” thực hiện sự thành kính, ngưỡng vọng
Tổng đài tư vấn: 1900 58-58-12

- Trang | 3 -


Hocmai.vn – Website học trực tuyến số 1 tại Việt Nam
Khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN - C: Môn Ngữ văn (Thầy Phạm Hữu Cường)


Hai câu thơ (bốn dòng) được cấu trúc giống nhau theo kiểu cấu trúc của câu có điều kiện trong văn xuôi hay
lời nói thông thường: Khi... Đất Nước. Hai câu thơ cũng là những lời khẳng định (kết quả của sự nhận thức)
về một chân lý. Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng trưng: cầm tay diễn tả sự
thân thiết, tin cậy, yêu thương lẫn nhau. Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ (hài hoà, nồng
thắm, vẹn tròn, to lớn). Bởi vậy, dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức
nặng của tình cảm chân thành. Những câu thơ này còn có một tầng nghĩa thứ hai, tác giả không trực tiếp nói
ra. Đó là đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải một giá trị bất biến, có sẵn. Đất
nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao ở về phía tất cả những con người trong đất nước đó. Nói rõ
ràng ra, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa mỗi một con người với đất nước.
Từ câu chuyện hiện tại, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc và suy nghĩ về đất nước ở tương lai:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Tổng đài tư vấn: 1900 58-58-12

- Trang | 4 -


Hocmai.vn – Website học trực tuyến số 1 tại Việt Nam
Khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN - C: Môn Ngữ văn (Thầy Phạm Hữu Cường)

Đất Nước – N.K Điềm

Đến những tháng ngày mơ mộng…
Đất nước không chỉ có ngày hôm qua và hôm nay. Đất nước của ngày mai. Từng thế hệ kế tiếp sẽ làm cho
đất nước trường tồn mãi mãi nhờ bàn tay, khối óc và sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân.
Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến khốc liệt thời bấy giờ, phải thấy ở những câu thơ trên còn là một khát
vọng: Đất nước sẽ hoà bình, đất nước sẽ tươi đẹp và còn nhiều hơn thế nữa.
Những khổ thơ cuối, nhà thơ nêu lên trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ


Tổng đài tư vấn: 1900 58-58-12

- Trang | 5 -


Hocmai.vn – Website học trực tuyến số 1 tại Việt Nam
Khóa học Luyện thi THPT quốc gia PEN - C: Môn Ngữ văn (Thầy Phạm Hữu Cường)

Đất Nước – N.K Điềm

Mặt đường khát vọng có tính luận đề (chính luận). Qua cảm nhận mới về đất nước, với những tri thức lịch
sử, địa lý, văn hoá, nhà thơ nhằm thức tỉnh tinh thần yêu nước trong thế hệ trẻ, thúc giục họ đứng về phía
nhân dân, tham gia đấu tranh cách mạng. Về phương diện nghệ thuật, cả bốn khổ đều viết theo lối quy nạp,
ghi lại những luận điểm làm sáng tỏ chủ đề. Tính chính luận còn thể hiện qua giọng thơ hào hùng, kêu gọi
thiết tha, hàm súc, cô đọng như những lời tục ngữ.
Tính luận đề dễ làm thơ khô khan. Nguyễn Khoa Điềm vượt qua khó khăn ấy khi đặt giữa chính luận và trữ
tình một dấu gạch nối. Chất trữ tình bộc lộ ở cảm xúc nồng nàn, say đắm, trân trọng và tha thiết đối với đất
nước. Qua giọng tâm sự lứa đôi, khi thì như độc thoại, lúc lại như đang trò truyện với bạn tình, Nguyễn
Khoa Điềm đã kết hợp hài hoà giữa chính luận hùng hồn và trữ tình thiết tha. Phong cách ấy thấm vào từng
câu chữ của bốn khổ thơ.
Khổ thơ thứ nhất (9 câu đầu): Sau khi điểm qua hai quá trình “bắt đầu” và “lớn lên” của đất nước, tác giả
khẳng định :“Đất Nước có từ ngày đó...” - từ rất xa xưa. Những cái xa xưa thường hay xa lạ, nhưng đất nước
thì không - đất nước gần gũi với mọi người.
Mở đầu là những lời bình dị nhưng hàm súc: “Khi ta lớn lên, Đất Nước đã có rồi”. Đất nước thành bậc tiền
nhân. Mọi người đều được nuôi dưỡng từ đất nước... Nhắc lại điệp khúc “ngày xửa ngày xưa...”, tác giả
muốn chứng tỏ đất nước hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời mẹ kể.
Gắn liền với sinh hoạt gia đình: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”. Tứ thơ này làm sống lại
nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn
Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Tuy


Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ
thơ sau.
Khổ thơ thứ hai (33 dòng): Một định nghĩa mới, quan niệm mới về đất nước. Đất nước gắn liền với tình yêu
lứa đôi. Trong “anh” và “em”, cũng như trong mọi người đều có một phần đất nước, cho nên :
“Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở/Làm nên Đất Nước muôn đời”
Tác giả tách hai âm tiết “Đất Nước” (viết hoa) để thể hiện tình, ý mới. Chỉ trong tiếng Việt và một số tiếng
phương Đông, từ này mới gồm hai yếu tố mang nghĩa (ngôn ngữ phương Tây không thể làm như thế). Cách
triết tự thông minh đem lại cảm nhận thú vị :
Đất là nơi anh đến trường/Nước là nơi em tắm/Đất nước là nơi ta hò hẹn
Có 3 lần từ “Đất Nước” được tách riêng ra rồi kết hợp lại theo quy luật trên để tạo nên ba điệp khúc với âm
điệu khác nhau:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc/Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển
khơi/Thời gian đằng đẵng/Không gian mênh mông/Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ...
Song song với quá trình tách - hợp nói trên, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” - “em” thành “ta” và
“Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân - Âu Cơ. Qua các câu thơ, tác giả cho ta thấy: đất
nước “bắt đầu” hình thành, “lớn lên” như những mối tình thân thiết, yêu thương.
Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao đảo ngược. Thay đổi dưới
dạng : Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm, cảm hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một
câu văn xuôi bình thường.
Đất nước không phải chỉ là núi sông, rừng bể, không chỉ nâng đỡ tình yêu của anh và em, đất nước còn là
nơi dân mình đoàn tụ với mối tình vĩ đại: Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Từ
đó, đất nước thành không gian cộng đồng sinh tồn. Qua khổ thơ thứ hai, đất nước được cảm nhận như sự
thống nhất hài hòa giữa cái hàng ngày và vĩnh hằng, trong mỗi cá nhân và toàn dân tộc, trong quá khứ, hôm
nay và mai sau. Từ suy ngẫm trên, Nguyễn Khoa Điềm kết luận:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Đất nước không xa xôi mà tồn tại trong mỗi con người. Cá nhân không tách rời đất nước; vì thế, ai cũng
phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ. Đoạn thơ kết lại với lời nhắn nhủ chân thành, thiết tha:
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình/Phải biết gắn bó và san sẻ/Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ

nghĩa mới về đất nước. Tác giả chọn ba tứ ca dao để nói về truyền thống dân tộc: Say đắm trong tình yêu
(Yêu em từ thuở trong nôi...); coi trọng tình nghĩa (Quý công cầm vàng ...); thật quyết liệt trong chiến đấu
(Đi trả thù mà không sợ dài lâu)
Qua đoạn thơ, ta thấy sự vận dụng sáng tạo văn học dân gian của Nguyễn Khoa Điềm. Ông ít lặp lại nguyên
văn mà thường sử dụng từng ý, từng hình ảnh thơ của người xưa. Giọng chính luận - trữ tình phù hợp với
nội dung tác phẩm. Thực ra, tư tưởng đất nước nhân dân đã hình thành từ lâu. Nguyễn Khoa Điềm chỉ nâng
cao tầm tư tưởng ấy và diễn đạt nó bằng ngôn từ, giọng điệu mới, độc đáo. Ông tạo được một đoạn thơ hiện
đại đậm đà bản sắc dân gian. Bởi vậy, thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa quen vừa lạ và có sức thuyết phục cao.

Giáo viên: Phạm Hữu Cường
Nguồn

Tổng đài tư vấn: 1900 58-58-12

:

Hocmai.vn

- Trang | 8 -


Hocmai.vn – Website học trực tuyến số 1 tại Việt Nam

5 LỢI ÍCH CỦA HỌC TRỰC TUYẾN







kì thi THPT quốc gia. Phù hợp
với học sinh cần ôn luyện bài
bản.

Là các khóa học tập trung vào
rèn phương pháp, luyện kỹ
năng trước kì thi THPT quốc
gia cho các học sinh đã trải
qua quá trình ôn luyện tổng
thể.

Là nhóm các khóa học tổng
ôn nhằm tối ưu điểm số dựa
trên học lực tại thời điểm
trước kì thi THPT quốc gia
1, 2 tháng.

-




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status