Những cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển ở khu vực đông nam á trong bối cảnh toàn cầu hóa giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006 - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH THÚY

NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở KHU VỰC
ĐÔNG NAM Á TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
HÓA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2007


1


MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT THEO TIẾNG ANH........................................ 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................7
2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ........................................................................................8
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................9
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................11
5. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................................12

CHƯƠNG 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á ............................................................ 13
1.1. Toàn cầu hóa – một số vấn đề lý luận ......................................................................13

2.2.5. Singapore ..............................................................................................................59

CHƯƠNG 3: NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỀN Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRONG
BỐI CẢNH TOÀN CÀU HÓA TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2006 ......................... 61
3.1. Những cơ hội cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối
cảnh toàn cầu hóa .............................................................................................................61
3.1.1. Toàn cầu hóa mở ra khả năng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, lôi kéo các
nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á vào trào lưu văn minh của nhân loại. ....61
3.1.2. Toàn cầu hóa đem lại cơ hội cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á
để khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển và đuổi kịp
dần các nước tiên tiến trên thế giới. ................................................................................62
3.1.3. Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho việc hợp tác để phát triển ...................................64
3.1.4. Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa rộng rãi giữa các quốc gia trong
khu vực và giữa các nước trong khu vực với thế giới ....................................................65
3.2. Những thách thức đối với các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong
bối cảnh toàn cầu hóa .......................................................................................................66
3.2.1. Toàn cầu hóa tạo ra những mâu thuẫn gay gắt và sự cạnh tranh quyết liệt cho các
nước đang phát triển, đặt các nước này trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.................66
3.2.2. Toàn cầu hóa làm tăng khả năng phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia và trong
nội bộ các nước. ..............................................................................................................67
3.2.3. Tỉ lệ nợ nước ngoài vẫn chiếm khá cao: ...............................................................69
3.2.4. Nền kinh tế các nước phụ thuộc vào xuất khẩu và phụ thuộc lợi ích của các nước
nhập khẩu phát triển ........................................................................................................69
3.2.5. Tình trạnh cơ sở hạ tầng thấp kém, chính sách chưa thông thoáng của chính phủ các
nước.................................................................................................................................70
3.2.6. Sự khủng hoảng, bất ổn về chính trị, sự gia tăng của xung đột sắc tộc, tôn giáo,
phong trào ly khai và khủng bố bạo lực là lực cản trên con đường phát triển kinh tế của
các nước. .........................................................................................................................71
3.2.7. Trình độ tri thức và công nghệ thấp khi chuyển sang nền kinh tế tri thức, sự tranh


AFTA:

ASEAN Free Trade Area
(Khu vực mậu dịch tự do ASEAN)

ASEAN:

Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các nước Đông Nam Á)

EU:

European Union
( Liên minh châu Âu)

FDI:

Foreign Direct Investment
(Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài)

GDP:

Gross Domestic Product
(Tổng sản phẩm quốc nội)

GNP:

Gross National Product
(Tổng sản phẩm quốc dân)

NIEs:

New Industrializing Economics
(Các nền kinh tế đang công nghiệp hóa mới)

ODA

Official Development Assistance

5


(Viện trợ phát triển chính thức)
OECD

Organization for Economic Co-operation and Development
(Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)

TNCs:

Transnational Companies
(Các công ty xuyên quốc gia)

UN:

United Nationas
(Liên hợp quốc)

UNCTAD:


Toàn cầu hóa, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hóa kinh tế, là một xu hướng khách quan của lịch sử.
Ngày nay, trong giai đoạn phát triển như vũ bão của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa như một cơn lốc
cuốn hút các nước trên thế giới không kể nước lớn, nhỏ hay giàu, nghèo, phát triển hay hoặc chậm
phát triển hoặc cũng buộc các nước phải chủ động tham gia quá trình này. Quá trình toàn cầu hóa, đặc
biệt là toàn cầu hóa kinh tế, tạo điêu kiện cho các quốc gia, các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế,
chế độ chính trị - xã hội khác nhau tham gia, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, là điều kiện thuận lợi
đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, là cơ hội cho sự giao lưu giữa các nền văn hóa, văn minh
trên phạm vi toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn.
Quá trình toàn cầu hóa đã và đang đem lại những thành tựu đáng kể nhưng cũng làm xuất hiện
những vấn đề phức tạp, khó khăn, nan giải mang tính toàn cầu. Toàn cầu hóa đang diễn ra như một xu
thế lớn trong sự vận động của lịch sử thế giới đương đại, nổi lên trong những xu hướng chủ đạo chi
phối hệ thống quan hệ quốc tế, đang tác động hàng ngày, hàng giờ đến mọi hoạt động, đến mối quan
hệ giữa các quốc gia, các dân tộc. Toàn cầu hóa là một quá trình không đơn giản mà là rất phức tạp với
những biến cố khôn lường, đầy mâu thuẫn. Quá trình toàn cầu hóa được xem như "con dao hai lưỡi"
vừa mang lại cho các nước, đặc biệt các nước đang phát triển những cơ hội lớn trong quá trình hội
nhập vào nền kinh tế thế giới nhưng cũng mang lại không ít những khó khăn, thử thách trong nhiều
vấn đề ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Toàn cầu hóa có những tác động đáng kể đến các nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội, văn hóa... nhưng đặc biệt là trong kinh tế. Đối với các nước đang phát triển, tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa là cơ hội để các quốc gia này phát huy lợi thế của mình, được bổ sung những yếu tố
mới, hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước
và cải thiện vị thế ở một số nước. Tuy nhiên, đằng sau những thành tựu mà các nước đang phát triển
đạt được là nhiều thách lớn mà các nước này phải đối đầu. Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, khách
quan của lịch sử, các nước trên thế giới không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa. Đông Nam Á là

7


một khu vực khá nhạy cảm với những vấn đề của thế giới. Hầu hết các quốc gia trong khu vực đều là
những nước đang phát triển và chịu tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, trong đó có Việt

Singapore), những nước còn lại chưa đạt trình độ phát triển như trường hợp của Singapore nhưng có
sự phát triển vượt trội so với các nước đang phát triển khác ở Đông Nam Á. Đây cũng là 5 nước thành
viên sáng lập tổ chức khu vực ASEAN (tạm gọi là nhóm ASEAN-5). Mỗi nước này có con đường
phát triển riêng nhưng cũng có những đặc điểm tương đồng trong quá trình phát triển của mình từ sau

8


khi độc lập cho đến nay. Đây là những nước mà quá trình toàn cầu hóa có những tác động không nhỏ
đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của họ.

Về thời gian, chúng tôi tập trung nghiên cứu những tác động của toàn cầu hóa đến các nước
đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2006. Từ sau khi kết
thúc chiến tranh lạnh, làn sóng toàn cầu hóa nổi lên mạnh mẽ trong lịch sử thế giới đương đại. Cuộc
cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ hai đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Từ năm 1989 trở đi,
internet cũng được nhiều người trên thế giới biết đến với mạng rộng toàn cầu (world wide web). Từ
khi internet xuất hiện đã thúc đẩy công nghệ thông tin phát triển thêm một bước mới, liên kết mọi
người trên thế giới và rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian giữa các quốc gia, các châu lục
trên thế giới. Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội các nước trên thế giới nhanh chóng. Đặc biệt, tháng 12 năm 1989 cũng đánh dấu sự
kết thúc tình trạng chiến tranh lạnh giữ Liên Xô và Mỹ, mở ra một thời kỳ phát triển mới giữa hai hệ
thống các nước theo hai con đường chính trị khác nhau, các nước bước vào giai đoạn hợp tác, phát
triển hòa bình và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục đích của đề tài tập trung giải quyết những vấn đề mang tính thời sự hiện nay ở các nước
đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á:
- Những cơ hội mà quá trình toàn cầu hóa mang lại cho các nước đang phát triển ở khu vực
Đông Nam Á.
- Những thách thức mà các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á phải đối mặt trong quá
trình toàn cầu hóa.
- Những giải pháp đặt ra và những bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển ở khu vực

sâu về kinh tế và tình hình các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tác giả Trần Văn Tòng trong cuốn "Tính hai mặt của toàn cầu hóa" của Nxb Thế giới, Hà
Nội, năm 2000, đưa ra những cơ hội và thách thức do quá trình toàn cầu hóa đưa lại, nhưng chủ yếu
tập trung phân tích về những thách thức mà các nước sẽ gặp phải trong thời kì 1985 - 1995.
Với cuốn sách "Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn
hóa", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2006, tác giả Phạm Thái Việt tập trung phân loại và giới
thiệu những quan điểm tiêu biểu về toàn cầu hóa. Đây là cuốn sách nói về toàn cầu hóa nghiêng về
lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, tác giả phân tích những đảo lộn đang diễn ra trong thực tiễn đời
sống chính trị, xã hội, văn hóa của các công đồng dân tộc, đồng thời nêu lên những thay đổi chính
sách của các nước nhằm thích ứng và tận dụng những cơ hội do toàn cầu hóa mang lại và hạn chế
những tác động tiêu cực toàn cầu.
Cuốn "Toàn cầu hóa và những hiện thực mới" của Nxb Trẻ, Thời báo kinh tế Sài Gòn và
trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, năm 2004, đã tập hợp những bài viết của nguyên Thủ
tướng Malaysia Mahathir Mohamed về toàn cầu hóa. Trong đó, ông nêu lên những vấn đề cơ bản nhất
của toàn cầu hóa, những biểu hiện mang tính lịch sử của toàn cầu hóa và những tác động của nó đến
các nước đang phát triển ở châu Á, trong đó có đất nước Malaysia của ông.
Trong công trình nghiên cứu của GS.TS. Lê Hữu Nghĩa và các tác giả khác, "Xu thế toàn cầu
hóa trong hai thập niên đầu thể kỉ XX" do Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2007, các
tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu, làm rõ bản chất của quá trình toàn cầu hóa hiện nay, đánh giá tác động

10


của nó đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thế giới cũng như trong nước và dự báo xu
hướng phát triển của quá trình toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Đồng thời, tác giả
cũng phân tích những thời cơ và thách thức của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguyên nhân
thành công cũng như thất bại thời gian qua trong quá trình hội nhập và các kiến nghị.
Các tác giả của Viện nghiên cứu Đông Nam Á cũng có những phân tích sâu sắc về tình tình
Đông Nam Á trong xu thế toàn cầu hóa trong cuốn "Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á
thập niên đầu thế kỉ XXI" của Nxb Khoa học Xã hội, năm 2007. Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề

5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung chính gồm 3 chương, phần kết luận, tài liệu tham khảo và
phần phụ lục.
Nội dung đề tài gồm các chương cụ thể như sau:
Chương 1: Toàn cầu hóa và những tác động của nó đối với thế giới và khu vực Đông Nam Á
1.1. Toàn cầu hóa - một số vấn đề lý luận
1.2. Những tác động của quá trình toàn cầu hóa đến sự phát triển của các nước trên thế giới
1.3. Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa
Chương 2: Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong quá trình hội nhập và phát
triển từ năm 1990 đến năm 2006
2.1. Những vấn đề chung
2.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997 đến quá trình phát triển của
các nước ở khu vực Đông Nam Á
2.3. Những thành tựu trong quá trình hội nhập của các nước đang phát triển ở khu vực Đông
Nam Á từ năm 1990 đến năm 2006
Chương 3: Những cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển ở
khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa từ năm 1990 đến năm 2006
3.1. Những cơ hội cho các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu
hóa
3.2. Những thách thức đối với các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh
toàn cầu hóa
3.3. Những tác động của toàn cầu hóa đến Việt Nam
3.4. Bài học kinh nghiệm của các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á trong quá trình
hội nhập quốc tế

12


CHƯƠNG 1: TOÀN CẦU HÓA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á


13


hóa như một khái niệm kinh tế chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự
tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia.
Theo Walter Good, toàn cầu hóa là chỉ "khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có bộ phận cấu
thành được chế tạo ở một loạt nước" [99, tr.l 17]. Định nghĩa này chỉ giới hạn trong nền sản xuất quốc
tế.
Một số tác giả thuộc Trung tâm phương Nam (The South Center) cho rằng "Toàn cầu hóa là sự
liên kết các yếu tố sản xuất trong các nước khác nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu của các công ty
xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hóa và tài chính được thuận lợi hóa bởi quá trình tự
do hóa" [113, tr. 15].
Có ý kiến lại gắn toàn cầu hóa với khái niệm phát triển. Theo Bjon Hettne, "Toàn cầu hóa bao
hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hóa, tăng cường khía cạnh chức năng của phát triển và làm yếu
đi khía cạnh lãnh thổ của phát triền. Về cơ bản, toàn cầu hóa bao hàm sự tăng lên của thị trường chức
năng thế giới không ngừng xâm nhập và lấn áp các nền kinh tế quốc gia đang trong quá trình mất đi
đặc tính quốc gia" [109, tr. 99].
Charles P. Oman định nghĩa toàn cầu hóa là "sự tăng lên hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng
lên ngày càng nhanh của các hoạt động kinh tế vượt ra khỏi biên giới các quốc gia và các khu vực"
[111, tr. 221].
Các nhà kinh tế học thuộc Cơ quan thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) đưa ra
một định nghĩa đầy đủ và cụ thể hơn rằng: "Toàn cầu hóa liên hệ với các luồng giao lưu không ngừng
tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các
cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không
ngừng gia tăng đó" [115, tr.70].
Toàn cầu hóa là giai đoạn cao của quá trình phát triển lực lượng sản xuất thế giới, là kết quả tất
yếu của kinh tế thị trường và khoa học công nghệ. Toàn cầu hóa ngày nay, về bản chất là sự tăng
trưởng của hoạt động kinh tế nói chung vượt khỏi biên giới quốc gia và khu vực. Toàn cầu hóa có nội
dung chủ đạo là toàn cầu hóa kinh tế và phát triển kinh tế cũng vừa là mục tiêu và động lực của toàn

mẽ thì người ta cũng nhận thấy rằng toàn cầu hóa không chỉ là một khái niệm hẹp xét riêng về một
khía cạnh, một lĩnh vực nào đó mà toàn cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa và cả cách sống .... Trong đó, toàn cầu hóa kinh tế là trung tâm, là cơ sở,
cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa. Và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay
là một xu thế nổi trội nhất.
Trên cơ sở các định nghĩa trên về cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng, chúng ta có thể định nghĩa khái
niệm toàn cầu hóa một cách khái quát và cụ thể hơn.
Toàn cầu hóa là sự tác động, ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ đối với các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế
giới; là kết quả của một quá trình lịch sử tự nhiên mang tính khách quan và tất yếu, chứa đựng các cơ
hội và thách thức trong mọi lĩnh vực đối với mọi quốc gia trong quá trình hội nhập.

15


Như vậy, toàn cầu hóa là kết quả của sự vận động và phát triển của lịch sử, nó bao gồm nhiều
phương diện, có tác động mạnh mẽ đến các quốc gia trong thời đại ngày nay. Trong đó, toàn cầu hóa
kinh tế là trọng tâm nhất trong quá trình toàn cầu hóa và chi phối các lĩnh vực còn lại.
Khi tìm hiểu về hiện tượng toàn cầu hóa, người ta còn nhắc đến một số khái niệm có liên quan
đến vấn đề này như toàn cầu hóa kinh tế, quốc tế hóa, hội nhập kinh tế quốc tế...
Toàn cầu hóa kinh tế vốn là cái cốt lõi, bản chất của toàn cầu hóa. Khi xét về toàn cầu hóa nói
chung, người ta thường tập trung nghiên cứu về khía cạnh kinh tế, do đó một số tác giả hiểu toàn cầu
hóa là toàn cầu hóa kinh tế như đã trình bày ở trên, một số khác lại có cách định nghĩa toàn cầu hóa
kinh tế một cách cụ thể.
Theo PGS. TS Đỗ Lộc Diệp, "toàn cầu hóa kinh tế là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đã
đạt đến trình độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, dựa trên
sự phân công lao động toàn cầu, thông qua các loại hình quan hệ kinh tế khác nhau giữa các nước và
do đó khiến cho các nền kinh tế quốc gia xâm nhập và gắn bó chặt chẽ với nhau, chuyển hóa thành nền
kinh tế toàn cầu"[12,tr.44-49].
Ngoài ra có quan điểm cho rằng: "Thực chất của toàn cầu hóa (kinh tế) là tự do hóa kinh tế và

và thông tin, khiến cho hàng hóa, sức lao động và tiền bạc được di chuyển giữa các quốc gia.
Quá trình quốc tế hóa tiếp tục phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập
niên 1980. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản đã liên kết chặt chẽ để đẩy mạnh
kinh tế tư bản lên một tầm mới thông qua các tổ chức quốc tế và các vòng đàm phán thương mại như
GATT (Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch) và dẫn đến thành lập WTO (Tổ chức thương mại
thế giới) hay IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế). Bên cạnh đó, các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới cũng
bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ vào các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước Mĩ
Latinh.
Sự phát triển của nền đại công nghiệp và quá trình quốc tế hóa cuối thế kỉ XX đòi hỏi có sự thay
đổi về khoa học kĩ thuật. Nhu cầu đó thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới và cách mạng
công nghiệp lần thứ ba đưa đến hình thành nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức phát triển vượt lên
trên nền kinh tế công nghiệp và phát triển trong một bối cảnh mới trên cả quá trình quốc tế hóa là toàn
cầu hóa.
Giai đoạn toàn cầu hóa hiện đại (từ cuối thập niên 1980 đến nay): nổi lên những đặc điểm là sự
kết thúc trật tự thế giới có hai phe đối kháng và hình thành trật tự thế giới nhiều trung tâm, sự phát
triển vượt bậc của lực lượng sản xuất, nhất là khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự phát triển chưa từng
có của các mối quan hệ kinh tế và cạnh tranh quyết liệt trong các khu vực và trên thế giới.
Mặc dù có nhiều cách phân chia khác nhau về các giai đoạn phát triển của toàn cầu hóa, nhưng
tất cả đều công nhận rằng từ những năm 80 của thế kỉ XX, toàn cầu hóa phát triển rất mạnh mẽ, đặc
biệt sau khi kết thúc chiến tranh lạnh khi các nước tiến lại gần nhau hơn về mặt hợp tác kinh tế. Cũng
từ giai đoạn này đã chứng kiến sự lớn mạnh của vận tải hàng không, công-ten-nơ hóa, thông tin liên
lạc, công nghệ sinh học và Internet. Những thành tựu khoa học này đã giúp thế giới thu hẹp lại rất
nhiều bằng "tốc độ cao, khoảng cách nhỏ, mật độ cao và cường độ lớn". Đối với những gì đang diễn ra
ngày nay thì có thể thấy rằng toàn cầu hóa là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hóa và là giai
đoạn chuyển biến về chất của quá trình quốc tế hóa. Tuy nhiên, không nên đồng nhất quá trình quốc tế
hóa với toàn cầu hóa.

1.1.3. Những nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
1.1.3.1. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại

mạng công nghệ này đã làm giảm chi phí viễn thông, vận tải tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức,
các nhà sản xuất, các hoạt động trong các lĩnh vực thuận tiện hơn, dễ tiếp cận hơn, thiết lập mối quan
hệ gần gũi, cho phép liên kết chặt chẽ hơn giữa thị trường, nhà sản xuất, nhà cung ứng và nhà tiêu
dùng.
Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng.

1.1.3.2. Vai trò của các tổ chức kính tế, tài chính, thương mại thế giới và sự tương
tác của các xu thế của thời đại
Các tổ chức kinh tế, tài chính thương mại trên thế giới ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế
quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế này lại thúc đẩy sự phát
triển của toàn cầu hóa.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status