NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH,HĐH
Chủ nghĩa tư bản
CNTB
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Chính trị - xã hội
CT-XH
Lực lượng sản xuất
LLSX
Tư bản chủ nghĩa
TBCN
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
khu vực Đông Nam Á, châu Á Thái Bình Dương, một khu vực có nhiều nhân tố tiềm ẩn
gây mất ổn định trong những năm tới. Ở trong nước, “bốn nguy cơ” mà Đảng ta đã chỉ
rõ vẫn đang có nhiều tác động tiêu cực có thể gây rất mất ổn định chính trị - xã hội ,
trong đó nguy cơ tham nhũng đang là một mối đe doạ đến việc sống còn của chế độ xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Riêng về vấn đề tham nhũng nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng
sản Việt Nam Đỗ Mười đã chỉ rõ:
Trong lịch sử thế giới xưa nay không ít trường hợp một Nhà nước, một chế độ mặc
dù có quá khứ vẻ vang nhưng sụp đổ mau chóng một khi thoái hoá tham nhũng, quan
liêu, xa rời nhân dân, đánh mất niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân. [47, tr.12].
Ở nước ta hiện nay cũng nổi lên một số vấn đề bức xúc mà nếu không ngăn chặn
kịp thời cũng sẽ gây ra những hậu quả khôn lường thậm chí gây mất ổn định chính trị xã hội . Vì vậy, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội , hơn bao giờ hết, lại là vấn đề
được đặt lên hàng đầu, là một mục tiêu có ý nghĩa sống còn mà toàn Đảng, toàn dân
phải tập trung thực hiện trên thực tế đời sống xã hội nước ta.
Trong lý luận cũng như trên thực tiễn hiện nay, việc nhận thức về “ổn định chính trị
- xã hội” và hành động nhằm thực hiện giữ vững ổn định chính trị - xã hội cũng chưa
được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống. Để thực hiện nhiệm vụ hàng đầu, sinh
tử này trước hết đòi hỏi phải có sự thống nhất nhận thức về “ổn định chính trị - xã hội”,
từ đó mới có thể có sự thống nhất hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu giữ
vững ổn định chính trị - xã hội tạo điều kiện cơ bản cho phát triển mọi lĩnh vực của đất
nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một yêu cầu khách quan và cấp thiết.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có thệ thống vấn đề ổn định
chính trị - xã hội ở nước ta là việc làm cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Các văn kiện của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới
đất nước ít hay nhiều đều đề cập đến vấn đề ổn định chính trị - xã hội . Để định ra
đường lối đúng đắn lãnh đạo đất nước, Đảng ta đều phân tích sâu sắc tình hình chính trị
- xã hội trên thế giới và trong nước, đánh giá thực trạng của việc giữ vững ổn định chính
trị - xã hội, từ đó nêu ra những quyết sách chính trị lớn cho đất nước. Các chủ trương,
chính trị - xã hội với những góc độ khác nhau. Chẳng hạn các tác giả như Lê Hữu
Nghĩa đã bàn về: “ Vai trò của chính trị trong việc đảm bảo định hướng XHCN”, Tạp
chí Cộng sản số 5/1996; Văn Tạo: “Cải cách, đổi mới và cách mạng - những phạm trù
lịch sử và biện chứng”, Tạp chí Cộng sản số 3 (2-1999); Đường Vinh Sường; “Một số
vấn đề xã hội nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Cộng sản số 6 (32000). Nguyễn Trọng Chuẩn; Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế
và đổi mới chính sách xã hội”, Tạp chí Triết học, số 6/1996.
Như vậy, vấn đề ổn định chính trị - xã hội đối với sự nghiệp đổi mới đất nước đã
được nhiều tác giả nghiên cứu quan tâm. Nhưng cho đến nay chưa có một công trình
chuyên sâu nào bàn đến vấn đề ổn định chính trị - xã hội đối với công cuộc đổi mới đất
nước. Luận án “Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước” sẽ nghiên
cứu cơ bản, hệ thống cả về lý luận và thực tiễn vấn đề ổn định chính trị - xã hội trong
công cuộc đổi mới đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích:
Nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề ổn định chính trị - xã hội ở nước ta
cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra một số giải pháp để giữ vững ổn định
chính trị - xã hội nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH trong công cuộc đổi mới đất nước ta
theo định hướng XHCN.
3.2. Nhiệm vụ:
- Làm rõ các khái niệm cơ bản dưới góc độ chuyên ngành CNCSKH: chính trị, xã
hội, chính trị - xã hội , ổn định chính trị - xã hội vai trò của ổn định chính trị - xã hội
và mối quan hệ với sự phát triển xã hội trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc XHCN ở nước ta .
- Phân tích rõ những thành tựu về ổn định chính trị - xã hội ở nước ta từ khi thực
hiện đổi mới đến nay đồng thời khảo sát, phân tích những mặt hạn chế, bất cập, những
vấn đề chính trị - xã hội bức xúc đang hoặc có khả năng nảy sinh.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục giữ vững ổn định về
chính trị - xã hội ở nước ta trong quá trình phát triển đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy triết học Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và cho những ai quan tâm tới việc nghiên cứu vấn đề
ổn định chính trị - xã hội của đất nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3
chương, 7 tiết.
CHƯƠNG 1
ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
1.1. NHỮNG CĂN CỨ DẪN ĐẾN KHÁI NIỆM GHÉP “CHÍNH TRỊ - XÃ
HỘI”
Muốn đi tới khái niệm ghép chính trị - xã hội, trước hết cần làm rõ các khái niệm có
liên quan trực tiếp.
1.1.1. Khái niệm chính trị
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện khi xã hội phân chia thành các
giai cấp, khi xuất hiện Nhà nước.
Tiếp cận với chính trị từ những lập trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan
điểm khác nhau. Có thời kỳ, giới học giả tư sản đã từng xem chính trị là một “nhà hát”.
Trong “nhà hát” này có vở diễn, nghệ sỹ, người xem, sự bài trí sân khấu và nhà phê
bình. Vì thế, chính trị có sự phụ thuộc vào nghệ thuật vốn có của nhà hát nói chung. Mặt
khác, vì là “nhà hát chính trị” nên nó còn có những điểm riêng biệt của mình. Học giả
Max Weiber xem chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự
phân chia quyền lực giữa các tập đoàn người trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia.
Cũng có một số học giả lại xem chính trị chỉ là thủ đoạn, chỉ là những mưu đồ nhằm đạt
tới quyền lực của cá nhân, của phe nhóm. Những quan điểm này có chứa đựng một nhân
tố có giá trị nhất định nhưng chưa làm rõ bản chất giai cấp của chính trị, tính quy định
của mối quan hệ lợi ích trước hết là lợi ích kinh tế giữa các giai cấp đối với chính trị.
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã có quan niệm khoa học về chính trị. Những người mácxít
cho rằng phải xem xét chính trị trong quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với lợi ích giai
cấp và mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp tạo thành cơ sở trực tiếp của chính trị.
Chính trị có quan hệ hữu cơ với lợi ích giai cấp. Do vị trí khác nhau trong hệ thống
sản xuất của xã hội, các giai cấp có nhu cầu khác nhau. Các nhu cầu đó được biểu hiện
trong những lợi ích giai cấp nhất định. Giai cấp thống trị luôn quan tâm tới việc sử dụng
mọi công cụ có trong tay để duy trì, củng cố quan hệ sản xuất thống trị mà nó là đại
diện. Giai cấp bị trị lại muốn thay thế quan hệ sản xuất đó để giải phóng mình.
Ph.Ăngghen cho rằng trong xã hội có đối kháng giai cấp, các quan hệ kinh tế bao giờ
cũng được biểu hiện ra trước hết là những lợi ích. Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, các
lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiện tập trung và khái quát thành lợi ích chính trị. Khát vọng
lợi ích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh đấu tranh giai cấp mà hình thức cơ bản của nó
là đấu tranh chính trị. Chính vì thế V.I.Lênin đã nhấn mạnh rằng lợi ích kinh tế cơ bản
của giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị, thay thế chuyên
chính tư sản bằng chuyên chính vô sản.
Như vậy, từ bản chất giai cấp của chính trị, chúng tôi tán thành quan điểm cho rằng:
Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có
liên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước, là biểu hiện tập trung
của kinh tế, là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi những lợi ích
cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp,
các đảng phái, các nhà nước để hiện thực hoá lợi ích cơ bản của mình trong mối tương
quan với các chủ thể chính trị khác[6,tr.39]
Nhưng theo chúng tôi, không nên dùng từ “chính trị” ngay trong định nghĩa khái
niệm chính trị. Và chúng tôi bổ sung thêm là: những quan hệ, hoạt động theo phương
hướng, mục tiêu đó trước hết và chủ yếu thể hiện bản chất một chế độ xã hội khi còn
giai cấp và đấu tranh giai cấp.
1.1.2.Khái niệm xã hội
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất.
Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa
người với người làm nền tảng. C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Xã hội không phải
tất yếu. Nội dung và cũng là cái quyết định một phương thức sản xuất là lực lượng sản
xuất đã mang tính khách quan tất yếu thì hình thức biểu hiện của nó - quan hệ sản xuất
nói riêng và quan hệ xã hội nói chung cũng phải mang tính khách quan và tất yếu. Do
đó:
Xã hội với tư cách là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người và người cũng
được hình thành một cách khách quan và tất yếu. Sự vận động, biến đổi và phát triển
của xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại vốn có của nó, trước tiên là quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản
xuất. Từ đó, có thể khẳng định rằng con người không thể tuỳ tiện lựa chọn cho mình
một hình thức xã hội này hay một hình thức xã hội khác.[22, tr.401]
Như vậy, với nghĩa thông thường, có thể quan niệm về xã hội như sau:
Xã hội, theo nghĩa rộng nhất là một khái niệm phản ánh các hoạt động và các mối
quan hệ giữa con người với con người trên mọi lĩnh vực ở một giai đoạn phát triển nhất
định của lịch sử. Một xã hội xác định vận động, phát triển theo những quy luật nội tại,
trước tiên là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất, kiến trúc thợờng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.
Xét về ngữ nghĩa, với nội dung cơ bản nhất và với nghĩa rộng nhất thì khái niệm xã
hội rộng hơn khái niệm chính trị. Bởi vì mọi vấn đề có liên quan đến các hoạt động của
con người đều là những quan hệ và những hoạt động xã hội, trong đó có cả chính trị,
kinh tế, văn hoá v.v… Nhưng trên thực tế có nhiều quan hệ, vấn đề cụ thể không thể chỉ
diễn đạt theo nghĩa rộng nhất của xã hội, do đó mà cũng có khái niệm xã hội theo nghĩa
hẹp hơn, ngang cấp với khái niệm chính trị, kinh tế, văn hoá… đó là khái niệm xã hội
phản ánh những quan hệ những hoạt động, những mặt… cụ thể hơn của toàn xã hội đã
và đang nảy sinh một cách khách quan cùng với kinh tế, chính trị, văn hoá mà ta thường
gọi là những vấn đề xã hội để có thể có những chính sách xã hội. Ví dụ: các vấn đề thất
nghiệp và việc làm, thất học, phân hoá giàu, nghèo, phong tục và hủ tục, công bằng và
bất công, đạo lý và phi đạo lí, nhân cách và phản nhân cách, bệnh tật, rủi ro, tệ nạn
v.v… Đó là những vấn đề gắn trực tiếp hơn với nhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi
Chúng ta cần phân tích mối quan hệ giữa chính trị và xã hội.
Chính trị là một bộ phận nằm ở thượng tầng kiến trúc của một hình thái kinh tế - xã
hội. Chính trị có ảnh hưởng rất rõ đối với các yếu tố khác ở thượng tầng kiến trúc như
pháp luật, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật và có tác động rất lớn đối với cơ sở kinh tế. V.I.
Lênin nhấn mạnh chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế do đó chính trị không
thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế. Chính trị tác động đến cơ sở kinh tế của
xã hội, chi phối các hoạt động và các quan hệ xã hội. Sự tác động của chính trị đến các
quan hệ xã hội có thể trực tiếp có thể gián tiếp. Trực tiếp là các chủ thể chính trị có thể
thông qua các chính sách mà điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các giai cấp xã
hội. Tác động gián tiếp của chính trị là chính trị tác động đến kinh tế và kinh tế lại tác
động quyết định các quan hệ xã hội. Tác động tích cực hay tiêu cực của nhân tố chính
trị phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hay phản tiến bộ, phản cách mạng của
giai cấp đang thống trị xã hội. Khi giai cấp thống trị đại diện cho lực lượng sản xuất tiến
bộ, cho tư tưởng chính trị tiến bộ thì có tác dụng tích cực đến sự phát triển của xã hội.
Khi giai cấp thống trị xã hội trở thành lạc hậu thì kìm hãm sự phát triển của xã hội. Như
vậy, trong xã hội có giai cấp, nhân tố chính trị thâm nhập vào nhân tố xã hội và nhân tố
xã hội cũng thâm nhập vào nhân tố chính trị. Các quan hệ xã hội tốt đẹp sẽ làm cho
chính trị bền vững, các quan hệ xã hội rối loạn sẽ làm cho kinh tế bị kìm hãm, xã hội
mất ổn định và chính trị có thể bị lung lay. Vì vậy giữa nhân tố chính trị và nhân tố xã
hội của một hình thái kinh tế xã hội không tách rời nhau luôn có quan hệ biện chứng với
nhau.
Vậy theo chúng tôi, khái niệm chính trị - xã hội được hiểu là một khái niệm ghép
phản ánh một thực tế khách quan của xã hội có giai cấp, trong đó, mọi quan hệ xã hội
của con người, những cộng đồng người đều bị chi phối bởi một giai cấp cầm quyền
thông qua hệ tư tưởng chính trị và những thiết chế quyền lực của nó ở một chế độ xã
hội cụ thể.
Phân tích cặn kẽ hơn về khái niệm chính trị - xã hội thể hiện trên cả mặt thực tiễn và
lý luận, chúng ta có thể thấy rõ, đó là: Những định hướng chính trị, những ý nghĩa
nhưng vẫn cố tình che giấu bản chất giai cấp tư sản. Còn những người mác xít thì quan
niệm chính trị - xã hội phải bao hàm tính giai cấp. Chính trị - xã hội của xã hội XHCN
mang bản chất giai cấp công nhân. Việc công khai bản chất chính trị của giai cấp công
nhân, của chủ nghĩa xã hội là cần thiết để nhân dân hiểu, tin ở đường lối cách mạng của
Đảng cộng sản vì lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của quần chúng lao
động, phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.
1.2.QUAN NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ
HỘI
1.2.1Quan niệm về ổn định.
Hiện nay, thuật ngữ ổn định được dùng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Thí dụ như ổn định đời sống, ổn định thu nhập, ổn định gia đình… chỉ một
trạng thái của sự vật trong một hoàn cảnh xác định. Về mặt triết học, thuật ngữ ổn định
chỉ một trạng thái trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Thế giới vật chất luôn
vận động không ngừng nhưng không loại trừ mà còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng
im tương đối. Không có hiện tượng đứng im tương đối: “không có sự vật nào tồn tại
được” [22, tr.189] Ph.Ănggen cho rằng:
Trong vận động của các thiên thể, có vận động trong cân bằng và có cân bằng trong
vận động (một cách tương đối). Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào (…)
cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự đứng yên tương đối, sự cân bằng. Khả năng
đứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ
yếu của sự phân hoá của vật chất [36,tr.740].
Ph.Ăng ghen còn chỉ rõ: Mọi sự cân bằng chỉ là “tương đối” và “tạm thời” trong sự
vận động tuyệt đối và vĩnh viễn của thế giới vật chất.
Ổn định phải được xem là mặt “nhất thời” của trạng thái vận động, phát triển.
C.Mác nhấn mạnh:
Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời bao
hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó về sự diệt vong tất yếu của
nó, về mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động,
đề này trên những khía cạnh sau:
*Ổn định chính trị - xã hội là trạng thái xã hội mà ở đó có sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với tính chất, trình dộ của lực lượng sản xuất; giữa kiến trúc thượng
tầng và cơ sở hạ tầng của xã hội.
Khi nghiên cứu xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, C.Mác - Ph.Ăng ghen đã
đưa ra khái niệm hình thái kinh tế - xã hội.
Theo C.Mác - Ph.Ăng ghen, xã hội là một chỉnh thể các yếu tố hợp thành bao gồm
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, các yếu tố
này có mối quan hệ biện chứng với nhau.
C.Mác - Ph.Ăng ghen đã nêu ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất là : “một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là
“hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất. Nghĩa là trạng thái mà ở đó các
yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất “tạo thành địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất p
hát triển”.
C.Mác - Ph.Ăngghen còn chỉ rõ sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa những quan hệ
kinh tế của xã hội và các quan hệ chính trị tinh thần hình thành trên các quan hệ kinh tế
đó qua mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. C.Mác viết:
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội; tức là cái
cơ sở hiện thực trên đó dựng lêm một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và
những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó [35,tr.15].
Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là mối quan hệ biện chứng.
Chúng tôi nhận thấy sự phân tích sau đây về mối quan hệ đó là khoa học và sát thực
tiễn. Đó là: cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có thể “phù hợp với nhau và cũng có
thể mâu thuẫn với nhau. Nếu sự thống nhất, sự phù hợp giữa chúng tạo nên sự ổn định,
sự phát triển của xã hội thì sự không phù hợp giữa chúng lại tạo nên sự bất ổn định, sự
trì trệ thậm chí là sự rối loạn đối với xã hội” [62, tr.4].
Sự phù hợp giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng sẽ tạo ra sự phù hợp của
trong xã hội thì hệ tư tưởng ấy được toàn xã hội chấp nhận, trở thành nền tảng tư tưởng,
tinh thần của xã hội. Ngược lại, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị chỉ đại diện cho lợi
ích của một nhóm người thống trị thì dù giai cấp thống trị có dùng cả hệ thống bạo lực
để bảo vệ hệ tư tưởng của mình, hệ tư tưởng ấy cũng không thể giữ được vị trí chủ đạo
trong xã hội. Hệ tư tưởng đó sẽ bị xã hội lên án. Các cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại
hệ tư tưởng của giai cấp thống trị sẽ xảy ra, đẩy xã hội vào tình trạng rối loạn tư tưởng.
Thông thường, khi giai cấp thống trị đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, thì hệ tư
tưởng của giai cấp này cũng mang tính cách mạng tiên tiến. Vì vậy sự hấp dẫn, sức
mạnh chinh phục của hệ tư tưởng tiên tiến đó sẽ tạo ra cho xã hội sự ổn định về tư
tưởng, chính trị. Nhưng cũng có một thực tế là, khi giai cấp thống trị xã hội không còn
là giai cấp cách mạng nữa, hệ tư tưởng thống trị bị chỉ trích, công phá, giai cấp thống trị
đã biết điều chỉnh hệ tư tưởng của mình phù hợp với một số đòi hỏi về lợi ích của nhân
dân. Sự điều chỉnh này cũng đã làm giảm đi xung đột về tư tưởng trong xã hội và cũng
vẫn giữ được sự ổn định tạm thời về tư tưởng chính trị của xã hội.
*Ổn định chính trị - xã hội trong lĩnh vực quan hệ chính trị của xã hội:
Quan hệ chính trị là một loại quan hệ xã hội đặc biệt mang tính khách quan. Đó là
quan hệ giữa công dân với Nhà nước, quan hệ giữa các tập đoàn, giai cấp khác nhau với
vấn đề nhà nước; quan hệ giữa các thành phần dân tộc khác nhau trong một quốc gia với
Nhà nước; quan hệ giữa Nhà nước (của một quốc gia) với một quốc gia khác, quan hệ
của nhà nước với các tôn giáo trong một quốc gia. Đồng thời, về bản chất cũng là quan
hệ với giai cấp cầm quyền xã hội thông qua Đảng chính trị của nó. Bởi vì, về thực chất,
mọi hiến pháp, pháp luật, chính sách và hoạt động của Nhà nước đều là thể chế hoá và
thực thi đường lối chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Chỉ có điều khác về bản
chất giai cấp cầm quyền là: lợi ích, quyền lực của giai cấp công nhân và Đảng cộng sản
lại thống nhất cơ bản về lợi ích, quyền lực của toàn thể nhân dân lao động các dân tộc.
Ổn định chính trị - xã hội là trạng thái ổn định của các quan hệ chính trị đặc biệt đó.
Quan hệ giữa các cá nhân con người (ở xã hội tư bản và xã hội ngày nay gọi là công
dân) với Nhà nước là một quan hệ chính trị cơ bản của tất cả các chế độ chính trị - xã
xung đột quyết liệt với lợi ích của giai cấp thống trị. Thông qua Nhà nước, giai cấp
thống trị có thể điều chỉnh một phần quan hệ lợi ích của các giai cấp và các tầng lớp xã
hội đặc biệt là hạn chế ở mức độ nào đó sự bóc lột giai cấp thống trị khi có những bất
đồng xảy ra. Trong lịch sử, ngay chế độ phong kiến đã có những thời kỳ phải thực hiện
chính sách hạn điền, hạn nô. Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản phải xã hội hoá
quan hệ sản xuất ở một số lĩnh vực. Đó là những biện pháp để duy trì trật tự xã hội trong
khuôn khổ pháp luật của các xã hội này.
Mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau trong một quốc gia với Nhà nước cũng là
một quan hệ chính trị phức tạp đòi hỏi các Nhà nước phải giải quyết đúng đắn. Ở các
quốc gia đa dân tộc, sắc tộc, mỗi dân tộc, sắc tộc tuy có những điểm chung như sự cố
kết cộng đồng quốc gia, liên kết kinh tế… Nhưng cũng có rất nhiều điểm khác biệt về
văn hoá, tín ngưỡng, lợi ích… Trong quá trình phát triển của các quốc gia đa dân tộc,
sắc tộc, các dân tộc, sắc tộc thường xung đột với nhau mà nguyên nhân có thể là do sự
bất bình đẳng dân tộc gây ra. Cho nên Nhà nước phải giải quyết vấn đề quan hệ giữa các
dân tộc (chủ yếu là việc giải quyết quan hệ lợi ích giữa các dân tộc). Nhà nước phải có
chính sách cụ thể về dân tộc, đoàn kết dân tộc trên cơ sở đặt lợi ích của quốc gia dân tộc
lên trên hết. Nhà nước của bất cứ chế độ chính trị - xã hội nào nếu có được các chính
sách dân tộc phù hợp đều có thể tạo ra sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Quan hệ giữa Nhà nước (của một quốc gia) với các quốc gia khác là một quan hệ
chính trị rất phức tạp. Sự ổn định hay không ổn định của quan hệ này đều có ảnh hưởng
đến tình hình chính trị - xã hội của cả các bên tham gia. Trong khu vực cũng như trên
trường quốc tế, mỗi quốc gia đều có những lợi ích riêng. Quan hệ giữa các quốc gia
thực chất cũng là mối quan hệ về lợi ích của các quốc gia. Trong mỗi quan hệ này, Nhà
nước (đại diện cho quốc gia) phải bảo vệ được lợi ích của quốc gia mình. Nhưng việc
bảo vệ lợi ích của quốc gia là rất khó. Lịch sử cho thấy, từ xưa đến này, các quốc gia
lớn luôn có xu hướng xâm lược các quốc gia nhỏ, chà đạp lên lợi ích của các quốc gia
nhỏ. Các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia gây ra sự mất ổn định chính trị - xã hội của
khu vực và trên thế giới. Để giữ lợi ích quốc gia của mình, Nhà nước phải có đường lối
thể liên minh với nhau và có thể xung đột với nhau. Sự xung đột giữa các đảng phái
chính trị có thể gây ra sự mất ổn định xã hội của quốc gia. Thông thường, một hoặc hai
đảng phái sẽ vươn lên giữ vị trí là Đảng cầm quyền. Hoạt động của đảng cầm quyền sẽ
khống chế hoạt động của các chính đảng còn lại. Các chính đảng không cầm quyền sẽ
chỉ được hoạt động trong khuôn khổ phápluật. Vì thế thực chất của việc ổn định hoạt
động của các chính đảng là việc ổn định hoạt động của Đảng cầm quyền. Nếu Đảng cầm
quyền mạnh, hoạt động có hiệu quả thì có thể giữ được sự ổn định chính trị - xã hội,
không cho các chính Đảng khác gây ra mất ổn định chính trị - xã hội. Ở nước Mỹ gần
200 năm qua chỉ có hai đảng: Dân chủ, Cộng hoà thay nhau cầm quyền. Hai đảng này
đều đại diện cho tầng lớp đại tư sản Mỹ. Hai đảng này tuy có những điểm bất đồng
nhưng về cơ bản là giống nhau. Cả hai đảng đều liên minh với nhau để không cho một
đảng thứ ba ngoi lên cầm quyền nước Mỹ. Hoạt động ổn định của hai đảng này là nhân
tố rất quan trọng tạo ra sự ổn định của nước Mỹ.
Ở các nước XHCN có thể chỉ có một Đảng cộng sản hoặc có thể có nhiều đảng
chính trị nhưng đảng cầm quyền duy nhất chỉ là Đảng cộng sản. Hoạt động của Đảng
cộng sản cầm quyền là nhân tố quyết định đến sự ổn định hay mất ổn định chính trị - xã
hội ở các nước XHCN. Nếu Đảng cộng sản giữ được vị trí lãnh đạo của mình, hoạt động
lãnh đạo có hiệu quả thì sẽ giữ được ổn định chính trị - xã hội. Nếu hoạt động lãnh đạo
không có hiệu quả thì sẽ gây ra mất ổn định chính trị - xã hội. Đảng cộng sản Liên Xô
trong cuộc cải tổ đã từ bỏ vị trí lãnh đạo của mình, các hoạt động lãnh đạo của Đảng
cộng sản Liên Xô đều kém hiệu lực và hiệu quả, dẫn đến sự khủng hoảng chính trị - xã
hội ở Liên Xô làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ.
Thứ hai là ổn định hoạt động của Nhà nước.
Nhà nước có vai trò rất to lớn trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của xã
hội. Nếu Nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả thì mới giữ được xã hội ổn định phát
triển. Nếu Nhà nước hoạt động không có hiệu quả sẽ gây ra sự mất ổn định chính trị - xã
hội. Ổn định hoạt động của Nhà nước là ổn định các yếu tố sau:
- Giữ vững bản chất giai cấp của Nhà nước.
nước. Trong các chức năng đó ổn định chức năng xã hội trực tiếp ảnh hưởng đến sự ổn
định chính trị - xã hội. Nếu Nhà nước nào quản lý tốt những hoạt động chung vì tồn tại
của xã hội, lo tới công việc chung của toàn xã hội, thoả mãn một số nhu cầu chung của
cộng đồng dân cư chứ không phải chủ yếu về một thiểu số người thì Nhà nước đó giữ
được ổn định chính trị - xã hội. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, Nhà nước đều có nhiệm vụ cụ
thể nhất định mà bao quát nhất là: nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc về chế độ xã hội, nhiệm vụ
tổ chức, quản lý, xây dựng xã hội phtá triển theo mục tiêu xác định. Nếu Nhà nước thực
hiện thành công các nhiệm vụ đó, không tự tiện thay đổi các nhiệm vụ về lợi ích riêng
của một thiểu số thì nmới giữ được sự ổn định chính trị - xã hội.
- Giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Mỗi Nhà nước
đều có nguyên tắc tổ chức hoạt động nhằm đảm bảo việc quản lý của Nhà nước đạt hiệu
quả cao nhất. Ở nhà nước tư sản có nguyên tắc tổ chức Nhà nước theo cơ cấu tự cân
bằng và kiểm soát quyền lực… Nhà nước XHCN có nguyên tắc thống nhất quyền lực,
nguyên tắc tập trung dân chủ. Tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước phải đảm bảo
được sự ổn định của các nguyên tắc đó. Nếu phá vỡ sự ổn định của các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động, bộ máy Nhà nước sẽ rối loạn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững
ổn định chính trị - xã hội.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước. Mỗi một Nhà nước trong từng giai
đoạn phát triển đều định ra tiêu chuẩn cho đội ngũ công chức. Nếu đối ngũ công chức
đảm bảo được tiêu chuẩn phù hợp thì sẽ hoàn thành chức trách của mình. Nếu tiêu
chuẩn không phù hợp và đặc biệt là đội ngũ công chức bị tha hoá, quan liêu, tham
nhũng đều là nguyên nhân dẫn đến sự mất ổn định chính trị - xã hội.
- Điều chỉnh chế độ, chính sách phù hợp với biến đổi của xã hội. Trong thời đại
ngày nay, Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật. Nếu như luật pháp của Nhà
nước liên tục thay đổi một cách tuỳ tiện thì sẽ không giữ được sự ổn định chính trị - xã
hội. Sự ổn định của luật pháp thể hiện ở sự ổn định của Hiến pháp và các đạo luật lớn và
sau đó là các chính sách và các công vụ của Nhà nước. Việc thực thi hiến pháp và các
đạo luật lớn được duy trì thường xuyên thì mới bảo đảm cho xã hội giữ được sự ổn định