Lời mở đầu.
[ [ [
Trải qua một thời gian dài sống trong chiến tranh đất nớc Việt Nam
phải hứng chịu bao đau thơng mất mát. Sau cuộc chiến đất nớc hoang tàn, đổ
nát với một cơ sở vật chất cũ kỹ, lạc hậu. Vậy mà trải qua hơn 20 năm kể từ
ngày đất nớc hoàn toàn đợc giải phóng, giờ đây chúng ta đang đợc sống trong
nền kinh tế- văn hóa- chính trị ổn định. Cuộc sống của ngời dân đợc cải thiện
rõ rệt. Đặc biệt là từ năm 1988 trở lại đây. Đó là năm chúng ta tiến hành
công cuộc đổi mới đất nớc một cách toàn diện.Về mọi mặt đời sống xã hội có
những chuyển biến sâu sắc, tích cực. Đảng và nhà nớc đã vận dụng có sán tạo
t duy của triết học Mac-Lênin ''Bản chất con ngời là tổng hòa các quan hệ xã
hội''.Vì vậy con ngời là sản phẩm của xã hội nhng cũng chính con ngời làm
nên xã hội ấy,ý thức chỉ tồn tại ở con ngời, chỉ con ngời mới có những t duy
khoa học sáng tạo tiếp thu và phát huy tri thức của nhân loại. Thành công của
chúng ta trong cuộc đổi mới không thể không kể đến vai trò của tri thức khoa
học, chính tri thức khoa học đã giúp ta bớc những bớc tiến dài trên con đờng
đổi mới một cách vững chắc và hiệu quả. Chúng ta luôn coi khoa học và công
nghệ là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nớc.
Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: "ý thức và vai trò của tri thức
khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam" do thời gian và trình độ
còn hạn chế vì vậy bài viết này chắc chắn sẽ không tránh đợc những thiếu
sót rất mong nhận đợc sự đóng góp chỉ dạy của các thầy cô. Bài viết này một
phần nào đấy thể hiện quan điểm cách nhìn của giới trẻ Việt nam về cuộc
sống và những biến đổi lớn lao của đất nớc mình, đặc biệt là những vấn đề
về tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới.
1
Chơng I
Lý luận chung của triết học
Mác- Lênin về ý thức
1.1- Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức.
1.1.1. Định nghĩa và kết cấu của ý thức
thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa
này cha chỉ rõ đợc vai trò của xã hội, của ý thức.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm
của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con ngời thông qua
lao động và ngôn ngữ. Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức
chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con ngời và đợc cải biến
đi trong đó.
ý thức là một hiện tợng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự
ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phơng
thức tồn tại của ý thức.
Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi
tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện h-
ớng về bản thân mình, tự khẳng định "cái tôi" riêng biệt tách rời những quan
hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứngtự ý thức là ý thức hớng về
bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế
giới khách quan, con ngời tự phân biệt đợc mình, đối lập mình với thế giới đó
và tự nhận thức mình nh là một thực thể hoạt động có cảm giác, có t duy, có
các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội
và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con ngời phải nhận thức rõ bản thân mình, tự
điều chỉnh mình tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con ngời
có thể đặt ra và trả lời các câu hỏi: Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình đợc
làm gì? Làm nh thế nào? Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là "gơng soi"
giúp con ngời tự ý thức đợc bản thân.
3
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trớc nhng gần nh đã trở
thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể.
Vô thức là hiện tợng tâm lý điều khiển những hoạt động xảy ra ở bên
ngoài phạm vi của ý thức hoặc không đợc tri thức chỉ đạo.
Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến hành vi trớc kia đã đợc ý
thức nhng lặp đi lặp lại trở thành thói quen và loại thứ hai liên quan đến các
1.1.2- Nguồn gốc của ý thức.
1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên
Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát
triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất ý thức
ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho tới khi
xuất hiện con ngời và bộ óc con ngời. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới
vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trớc khi xuất hiện
con ngời, rằng hoạt động tâm lý của con ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động
sinh lý thần kinh của não bộ con ngời. Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ
tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý,
truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối
với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều
kiện.
Không thể tách rời ý thức với bộ não. Vì ý thức là chức năng của bộ
não và bộ não là khí quan của ý thức, ý thức và bộ não có liên quan chặt chẽ
với nhau. Bộ não bị tổn thơng thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối loạn.
Cũng không thể quy một cách đơn giản ý thức về các quá trình sinh lý
nh quan niệm cho rằng óc tiết ra ý thức nh gan tiết ra mật, vì óc là cơ quan
phản ánh,nội dung của ý thức là thế giới bên ngoài. ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan vào bộ óc ngời. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự phát
triển đặc tính phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với đặc tính của thế giới
tự nhiên.
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đợc thực hiện bởi
sự tác đọng qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi
lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dới dạng đã thay đổi) của hệ thống
5
vật chất khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp.
chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thơng thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị
rối loạn.
trung ơng. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền
với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đa lại cho
con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý
nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lờng trớc
đợc tất cả những tình huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn
đa ra hành động thích hợp nhất. Ví dụ con thỏ trông thấy con hổ đang tiến lại
gần mình, ngay tức khắc nó bỏ chạy đến một khoảng cách an toàn. Bởi vì nó
lờng trớc đợc điêù gì sẽ xảy ra nếu con hổ có cơ hội lại gần nó.
Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có
khi xuất hiện con ngời và xã hội loài ngời. Sự phản ánh này không thể hiện ở
cấp độ cảm tính nh cảm gíac, tri giác, biểu tợng nhờ hệ thống tín hiệu thứ
nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín
hiệu thứ hai (ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích,
có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tợng buộc sự vật bộc
lộ ra những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm
cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội.
1.1.2.1- Nguồn gốc xã hội.
ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con ngời là sự khác biệt về
chất so với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý
thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc ngời dới ảnh h-
ởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự
nhiên,thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con ngời. Chính nhờ
lao động mà con ngời và xã hội loài ngời mới hình thành, phát triển.
Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài ngời là vợn, ngời
nguyên thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lợm, săn
bắt và ăn thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, v-
7
ợn ngời đã sáng tạo ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn
tay dần dần tiến hóa thành con ngời. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan
kinh nghiệm, t tởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý
thức xã hội và ngợc lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ
ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới
có thể thực hiện nh là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy
ngôn ngữ trở thành một phơng tiện vật chất không thể thiếu đợc của sự trừu t-
ợng hóa, khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực
hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tợng hóa, khái quát hóa mà con ngời có thể đi
sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tợng? đồng thời tổng kết đúc rút
kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố
quan trọng để phát triển tâm lý t duy và văn hóa con ngời và xã hội loài ngời.
1.1.3- Bản chất của ý thức.
Qua nghiên cứu nguồn gốc của ý thức có thể thấy rõ ý thức có bản tính
phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo.
ý thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên
ngoài, từ vật gây tác động đợc truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín
phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính
khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh
thế giới khách quan.
ý thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân
lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con ngời. ý
thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến,
quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng
tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới
khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới
đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức. ý thức chỉ có thể
xuất hiện ở bộ óc ngời, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tợng hóa,
có định hớng, có chọn lọc tồn tại dới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ
9