ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------------
TRẦN VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐỒNG NHẤT VÀ PHÂN DỊ
TƢỚNG ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ CỦA TRẦM TÍCH OLIGOCEN,
MIOCEN KHU VỰC LÔ 123 VÀ 124 BỂ PHÚ KHÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------TRẦN VĂN SƠN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐỒNG NHẤT VÀ PHÂN DỊ TƢỚNG ĐÁ CỔ
ĐỊA LÝ CỦA TRẦM TÍCH OLIGOCEN, MIOCEN KHU VỰC
LÔ 123 VÀ 124 BỂ PHÚ KHÁNH
Chuyên ngành:
Địa chất học
Mã số:
60440201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
2.1. Đặc điểm cấu trúc kiến tạo ................................. Error! Bookmark not defined.
2.2. Địa tầng bể Phú Khánh ...................................... Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 3. ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP KHU VỰC LÔ 123 VÀ 124 BỂ PHÚ KHÁNH
TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH BIẾN DẠNG VÀ CỘNG SINH TƢỚNG .............. Error!
Bookmark not defined.
3.1. Khái quát ............................................................ Error! Bookmark not defined.
3.2. Các kiểu biến dạng đặc trƣng của bể Phú Khánh ............ Error! Bookmark not
defined.
3.3. Các kiểu ranh giới phức tập và các miền hệ thống trên cơ sở dãy cộng sinh
tƣớng trầm tích .......................................................... Error! Bookmark not defined.
3.4. Tiến hóa các phức tập (sequence) trong mối quan hệ với sự thay đổi MNB và
chuyển động kiến tạo khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh .. Error! Bookmark not
defined.
CHƢƠNG 4. ĐẶC ĐIỂM TƢỚNG ĐÁ - CỔ ĐỊA LÝ QUA CÁC THỜI KỲ VÀ
TRIỂN VỌNG HỆ THỐNG SINH - CHỨA - CHẮN KHU VỰC LÔ 123 VÀ 124
BỂ PHÚ KHÁNH ..................................................... Error! Bookmark not defined.
4.1. Đặc điểm tƣớng và môi trƣờng trầm tích ........... Error! Bookmark not defined.
4.2. Tính đồng nhất và phân dị các tƣớng trầm tích . Error! Bookmark not defined.
4.3. Đánh giá triển vọng hệ thống sinh - chứa - chắnError! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ............................................................... Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................11
MỞ ĐẦU
Khu vực bể Phú Khánh là một trong những khu vực quan trọng về tiềm năng
dầu khí trên vùng biển thềm lục địa Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu tại đây vẫn
còn hạn chế và chỉ có một số giếng khoan khảo sát trên khu vực bể nhƣng số liệu
chƣa đƣợc công bố. Do đó kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích chi
tiết những lát cắt địa chấn để nghiên cứu về tính đồng nhất và phân dị tƣớng đá cổ
địa lý của trầm tích Oligocen, Miocen khu vực lô 123 và 124 của bể. Kết quả
nguồn VPI.
- Tài liệu thuộc các đề tài, dự án và các công trình liên quan đến nội dung
luận văn nhƣ các tài liệu số 2, 5, 7, 9 và 10 ở mục tài liệu tham khảo.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng
tỏ tính đồng nhất và phân dị tƣớng đá cổ địa lý của trầm tích Oligocen, Miocen khu
vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ hơn các yếu tố
cấu trúc khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh nhƣ: các hiện tƣợng biến dạng các bể
trầm tích thứ cấp để xây dựng các mặt cắt phục hồi, các loại bẫy chứa dầu khí tiềm
năng trên mặt cắt địa chấn của bể. Phân tích mặt cắt địa chấn trên cơ sở địa tầng
phân tập để làm sáng tỏ hơn các tƣớng trầm tích, tìm ra quy luật cộng sinh tƣớng…
trong trầm tích Oligocen và Miocen phục vụ cho công tác thăm dò tìm kiếm dầu khí
sau này.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 78 trang, 36
hình, 2 bảng và đƣợc bố cục gồm 4 chƣơng chính sau:
Chƣơng 1. Vị trí địa lý, lịch sử tìm kiếm thăm dò và phƣơng pháp nghiên
cứu.
Chƣơng 2. Cấu trúc địa chất, kiến tạo và địa tầng trầm tích.
Chƣơng 3. Địa tầng phân tập khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh trên cơ
sở phân tích biến dạng và cộng sinh tƣớng.
Chƣơng 4. Đặc điểm tƣớng đá cổ địa lý qua các thời kỳ và triển vọng hệ
thống sinh - chứa - chắn khu vực lô 123 và 124 bể Phú Khánh.
CHƢƠNG 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ TÌM KIẾM THĂM DÒ VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí địa lý
Bể Phú Khánh nằm dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, giới hạn bởi vĩ
là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Cho đến nay, ở vùng biển miền Trung thuộc
khu vực bể Phú Khánh đã có nhiều khảo sát địa vật lý nhƣ GSI (Mỹ,1974), Malƣgin
(Liên Xô, 1984), GECO-PRAKLA (1993), NOPEC (1993) với khối lƣợng khảo sát
khoảng 17.000 Km tuyến địa vật lý.
Các nghiên cứu trên phần đất liền đƣợc nhiều nhà địa chất tiến hành từ 1977
đến nay. Lê Nhƣ Lai, Nguyễn Quang Hinh (1977); Phan Huy Quynh (1980);
Sladen, Nguyễn Quang Bô (1991); Trần Tĩnh (1988- 1997); Lê Thành (1998) đã
phân tích các mẫu ở vùng Đầm Thị Nại và cho thấy loại dầu ở vết lộ tƣơng tự với
dầu trong carbonat Miocen ở giếng khoan 119-CH-1X và cho rằng dầu lộ có thể có
nguồn gốc từ phần sâu của bề Phú Khánh dịch chuyển lên qua các đứt gãy trong
vùng. Năm 2000 Viện Dầu khí hợp tác với Viện Địa chất Nhật Bản (JGI) nghiên
cứu các vết lộ từ Nông Sơn đến Kon Tum, Sông Ba, Đầm Thị Nại. Năm 2002-2003
Phạm Quang Trung cùng các cộng sự ở Viện Dầu khí tiếp tục nghiên cứu các mẫu
lộ dầu ở Đầm Thị Nại. Các kết luận của các tác giả này còn rất trái ngƣợc nhau nên
vấn đề nguồn gốc dầu lộ, chất lƣợng nguồn đá mẹ còn chƣa đƣợc giải quyết và cần
phải nghiên cứu tiếp[7].
Trong những năm 2001-2004, Viện Dầu khí đã chủ trì đề tài cấp nhà nƣớc
KC-09-06 nghiên cứu về địa động lực và tiềm năng dầu khí các vùng nƣớc sâu, xa
bờ, trong đó có khu vực bể Phú Khánh. Cũng trong thời gian này, dự án ENRECA
do Viện Dầu khí hợp tác với Cục Địa chất Đan Mạch và Greenland (GEUS) đã tiến
hành nghiên cứu tổng thể địa chất và tiềm năng dầu khí bể Phú Khánh, trong đó có
tập trung nghiên cứu sâu về địa hoá và trầm tích của khu vực Đầm Thị Nại và trũng
Sông Ba, phần đất liền kề với bể Phú Khánh.
Điểm nổi bật cần lƣu ý là tất cả những điều trình bày ở đây đều dựa trên kết
quả giải thích địa chất các tài liệu địa vật lý là chủ yếu vì trong khu vực này chƣa có
tài liệu về công trình khoan. Các giếng khoan dùng để liên kết với tài liệu địa vật lý
đều nằm ở các bể trầm tích kế cận (Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn), vừa xa,
vừa có cấu trúc địa chất khác biệt, lại bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy, các đới
nâng phức tạp nên độ chính xác còn chứa nhiều hạn chế.
e. Ranh giới liên tục hay gián đoạn giữa các thể trầm tích.
g. Mức độ biến dạng thế nằm và cấu tạo của các thể trầm tích.
Có thể coi các yếu tố trầm tích nói trên là những hàm số của các biến số nhƣ
sự thay đổi mực nƣớc biển, năng lƣợng môi trƣờng, khối lƣợng trầm tích mang tới,
sự chuyển động kiến tạo. [5]
a. Năng lượng thuỷ động lực của môi trường vận chuyển và lắng đọng trầm
tích quyết định thành phần độ hạt của trầm tích vụn cơ học. Môi trƣờng có năng
lƣợng lớn thì độ hạt càng thô. Ví dụ, dòng chảy sông miền núi và sông miền trung
du đặc trƣng là chảy rối vì vậy vật liệu lắng đọng tƣơng ứng là cuội tảng và sạn lẫn
cát hạt thô. Dòng chảy sông đồng bằng đặc trƣng là chảy tầng và xa nguồn. Vật liệu
lắng đọng chủ yếu là cát. Dòng chảy ở môi trƣờng cửa sông châu thổ là dạng xen
giữa dòng sông đổ ra biển và dòng triều từ biển chảy vào sông. Vì vậy, trầm tích
cũng có sự xen kẽ giữa cát bột và sét. Ở bờ biển hiện đại cũng nhƣ các đới đƣờng
bờ cổ nằm ở các độ sâu lớn 30m, 60m, 120m...thƣờng gặp các dải trầm tích hạt thô
nhƣ cuội, sạn và cát. Điều đó chứng tỏ năng lƣợng sóng vỗ ven bờ đã quyết định
kích thƣớc hạt thô của trầm tích bãi triều. Tuy nhiên dù năng lƣợng mạnh hay yếu
thì sự lắng đọng trầm tích luôn luôn tuân theo nguyên lý phân dị về độ hạt: càng gần
nguồn xâm thực độ hạt càng thô, càng xa nguồn độ hạt càng giảm. Vì vậy, dù trong
điều kiện mực nƣớc biển dâng cao hay hạ thấp cũng xảy ra lắng đọng trầm tích
đồng thời và đều phân dị độ hạt giảm theo hƣớng nằm ngang từ nguồn cung cấp vật
liệu ra hƣớng trung tâm của bể trầm tích. Nhƣ vậy sẽ không bao giờ có thành phần
độ hạt bằng nhau và bề dày trầm tích giống nhau đối với cùng một lớp hay một thể
trầm tích lắng đọng ở một địa hình dốc ven bờ. Trầm tích ở chân dốc nghèo hơn và
mịn hơn nên gá đáy (down lap) một cách thoai thoải và mềm mại theo phƣơng thức
‘tiếp tuyến’ với bề mặt đáy chứ không tạo thành một đƣờng thẳng cắt bề mặt đáy
nhƣ một số tác giả quan niệm và gọi là "chống đáy" (hình 1.2). [5]
nguyên dầu khí. Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam. NXHKHKT, 2007.
8. Hồ Đắc Hoài và Lê Duy Bách, 1990. Địa chất thềm lục địa Việt Nam và các
vùng kế cận. Báo cáo khoa học đề tài 48B.03.01. Lƣu trữ Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam.
9. Nguyễn Huy Quý, Lê Văn Dung, Nguyễn Trọng Tín và nnk (2002-2004).
Nghiên cứu địa động lực các bể Phú khánh, Tư Chính, Vũng Mây và thềm Tây
Nam Việt Nam. Đề tài cấp nhà nƣớc - Viện Dầu khí.
10. Nguyễn Trọng Tín và nnk (2003). Cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí bể
Phú Khánh. Đề tài hợp tác với Xí nghiệp Liên doanh Vietso Petro.
11. Lê Trọng Cán và nnk, 1985. Phân vùng triển kiến tạo các bể Kainozoi thềm
lục địa Việt Nam.
12. Trịnh Phùng và n.n.k, 1994. Địa chất thềm lục địa Việt Nam và các vùng lân
cận. Tuyển tập nghiên cứu biển, tập VI. Hà Nội.30.
13. Hoàng Đình Tiến, Nguyễn Thúy Quỳnh, 2000. Điều kiện và cơ chế sinh dầu
khí ở các bể trầm tích Đệ tam thềm lục địa Việt Nam.
14. Gwang H. Lee and Joel S.Watkins, 1998. Seismic Sequence Stratigraphy and
Hydrocarbon Potential of the Phu Khanh Basin, Offshore Central VietNam,
South China Sea. AAPG Bull.v. 82,pp.1711-1735.
15. Lee G. H. and Watkins J. S., 1998. Seismic Stratigraphy and Hydrocarbon
Potential of the Phu Khanh Basin, offshore Central VietNam, South China
Sea. AAPG Bulletin V. 82, N0. 9, pp. 1711-1735.
16. Di Zhou, Ke Ru, Han Zong Chen, 1995. Kinematics of Cenozoic extension
on the South China Sea continental margin and its implications for the
tectonic evolution of the region. Tectonophysics 251 (1995) 161 - 177.