luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng chuyên ngành báo chí học Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của cư dân nông thôn hả - Pdf 37

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt
là đối với xã hội hiện đại. Nhờ có sự phát triển của khoa học công nghệ, thông
tin đến với đông đảo cư dân ở mọi vùng, miền một cách kịp thời, nhất là trong
thời kỳ đất nước thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, hội nhập quốc tế. Báo chí
phải góp phần cung cấp tri thức cho nhân dân, định hướng dư luận xã hội,
tăng cường nhất quán về chính trị, tư tưởng của khối đại đoàn kết toàn dân;
biểu dương các nhân tố mới; tích cực đấu tranh phê phán các quan điểm sai
trái; giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Tầm quan trọng của báo chí ngày nay không còn lệ thuộc hoàn toàn
vào thang bậc của thời kỳ bao cấp: cấp 1, cấp 2, cấp 3; mà chính sự tín nhiệm
của công chúng quyết định vị trí của nó. Báo chí chỉ thực sự hữu ích khi vừa
là công cụ trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đồng thời trở thành diễn đàn của
quần chúng phục vụ nhu cầu phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy, báo chí
có sứ mệnh thoả mãn nhu cầu xã hội về tiếp nhận thông tin, sự tồn tại và phát
triển của xã hội lại rất cần đến báo chí. Đó là mối quan hệ qua lại giữa công
chúng và báo chí, nó mang ý nghĩa thực tiễn trên nhiều bình diện. Có công
trình khoa học đã khẳng định, “Tác động, chi phối hay điều chỉnh đối tượng
nào lại càng phải nghiên cứu đối tượng ấy... Hoạt động báo chí - truyền thông
luôn lấy con người làm đối tượng tác động, đối tượng phản ánh, đối tượng
điều chỉnh cho nên lại càng phải nghiên cứu đối tượng ấy”[36, tr.199-200]
Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta vừa là mục tiêu của xã hội, vừa là
thực tiễn sinh động hằng ngày tác động đến tâm lý, nhu cầu, nhận thức, hành
động của quần chúng. Nghiên cứu NC&ĐK tiếp nhận SPBC của công chúng
mang tính thiết thực, có thể làm cơ sở phục vụ cho việc xây dựng đường lối,
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Việc nghiên cứu
NC&ĐK tiếp nhận SPBC của công chúng ở khía cạnh định lượng và định tính




3
giá thực trạng NC&ĐK tiếp nhận SPBC của CDNT góp phần nâng cao dân
trí, đồng thời là một bảo đảm quan trọng cho sự nghiệp CNH, HĐH, thúc đẩy
nông thôn phát triển bền vững.
Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng NC&ĐK tiếp nhận SPBC của
CDNT nhằm nắm bắt những thông tin cần thiết phải được tiến hành thường
xuyên. Từ đó giúp các cơ quan TTĐC, các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí
có sự bổ sung, điều chỉnh kịp thời, hợp lý, đạt được hiệu quả tuyên truyền
cao, tạo điều kiện thuận lợi để CDNT tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều
hơn trong quá trình CNH, HĐH. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông
thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ,
giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho CDNT.
Về NC&ĐK tiếp nhận SPBC đã có một số nghiên cứu, nhưng NC&ĐK
tiếp nhận SPBC của CDNT đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở Hải Dương nói
riêng chưa có công trình nào đề cập; trong khi đó, cư dân vùng này có vai trò,
vị trí đặc biệt quan trọng. Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn về NC&ĐK
tiếp nhận SPBC của công chúng luôn luôn vận động, chúng tôi chọn nghiên
cứu vấn đề “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của cư dân
nông thôn Hải Dương”.
Luận văn mong muốn góp phần đưa nhận thức về CDNT theo hướng
cụ thể hơn; đặc biệt, trên cơ sở nhận diện NC&ĐK tiếp nhận SPBC. Từ đó đề
xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của báo chí đối với CDNT;
góp phần xây dựng nông thôn phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản
xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu NC&ĐK tiếp nhận SPBC của công chúng là một vấn đề
mang tính cấp bách. Từ đó, có thể nắm bắt sự biến động của CCBC, nắm
được NC&ĐK tiếp nhận SPBC để kịp thời điều chỉnh nội dung, phương thức
truyền tải thông tin, không ngừng cải tiến nội dung và hình thức SPBC, nhằm



5
đài của thính giả thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống, nơi sống, học
vấn,...; những lý do thính giả không nghe đài; những đánh giá, nhận xét chất
lượng; những nguyện vọng, đề xuất của thính giả;...
Trong công trình “Báo Phát thanh” (2002) do tập thể tác giả của
PVBC&TT kết hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện, tác giả Nguyễn
Văn Dững làm chủ biên và bàn về công chúng phát thanh, có định nghĩa khái
niệm CCBC, phân loại CCBC (tiềm năng, thực tế, trực tiếp, gián tiếp), vai trò
của công chúng, các nội dung và phương pháp nghiên cứu công chúng.
Đề tài "Điều kiện tiếp nhận sản phẩm báo chí của thanh niên sinh viên
khu vực Hà Nội (khảo sát một số trường đại học - cao đẳng)" (2003) do tác
giả Nguyễn Văn Dững làm chủ nhiệm. Đây là đề tài nêu lên tổng quan về
hoạt động tiếp nhận SPBC của sinh viên hiện nay. Nghiên cứu, mô tả thực
trạng điều kiện tiếp nhận SPBC của sinh viên Hà Nội. Phân tích những ưu
điểm và hạn chế, những rào cản của quá trình tiếp nhận SPBC. Đề xuất một
số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện tiếp nhận SPBC cho sinh viên.
Luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của Internet đối với công chúng Hà Nội”
(2004) của tác giả Phạm Thị Thành đã điều tra xã hội học về nhu cầu sử dụng
và ảnh hưởng của Internet đối với các nhóm công chúng Hà Nội. Luận văn
nêu những ảnh hưởng tích cực đối với học sinh, sinh viên, cán bộ công chức,
các nhà kinh doanh; những ảnh hưởng tiêu cực từ thông tin độc hại và âm
mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch,...
Luận văn thạc sĩ “Công chúng phát thanh hiện nay” (2004) của tác giả
Phạm Thị Thanh Tịnh đã phân tích phương thức tác động, đặc trưng của loại
hình và thính giả của nó. Luận văn đưa ra những nét cơ bản về đặc điểm các
nhóm công chúng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Tác giả cũng chỉ ra một số
căn cứ khoa học để những người làm báo phát thanh nâng cao chất lượng
chương trình, cải tiến nội dung cho phù hợp với công chúng phát thanh, đáp

công chúng, lý luận về phương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả.


7
Đề tài khoa học “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra
thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam” (2005), đã đúc kết qua những cuộc
điều tra thính giả của đài từ 1989 đến 2005, trên cơ sở điều tra 1.468 thính
giả, cung cấp những thông tin quan trọng, giúp đài đổi mới, nâng cao chất
lượng các chương trình phát thanh, thu hút ngày càng đông đảo công chúng.
Luận án tiến sĩ xã hội học “Hiện trạng và vai trò tác động của truyền
thông dân số đối với người nông dân (khảo sát ở đồng bằng sông Hồng)”
(2001) của tác giả Trương Xuân Trường, nghiên cứu về xã hội học truyền
thông ở nước ta có sự tiếp cận nghiên cứu bước đầu khá hoàn chỉnh về một
quá trình truyền thông, từ các loại hình kênh truyền thông đến vấn đề cung
cấp thông tin và sự phản hồi truyền thông.
Luận án tiến sĩ báo chí "Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công
chúng Hà Nội" (2008) của tác giả Trần Bá Dung đã đánh giá thực trạng và
các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng
trên địa bàn thành phố Hà Nội mang tính đại diện cao; mô tả, làm rõ được
thực trạng nhu cầu, thể hiện qua các mô thức tiếp nhận thông tin báo chí; chỉ
ra mối quan hệ có tính quy luật, những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nhu
cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng.
Có một số công trình nghiên cứu về CCBC thuộc lĩnh vực chính trị
học, xã hội học, tâm lý học, báo chí học và nhiều ngành khoa học khác; một
số công trình nghiên cứu về tâm lý nông dân nói chung và nông dân ở từng
vùng miền nói riêng,... thuộc khía cạnh tâm lý xã hội, đời sống. Nhiều tác
phẩm là bài báo, chuyên luận, tiểu luận,... được đăng tải trên các phương tiện
TTĐC hoặc bảo vệ thành công được đánh giá cao. Ở nhiều bình diện khác
nhau khi nghiên cứu về CCBC, CDNT có thể kể một số công trình sau: “Tâm
lý học và người làm báo” của tác giả X.K. Rô-sin, Sách tham khảo nghiệp vụ,

thông và nghiên cứu CCBC - truyền thông, lý thuyết tâm lý học báo chí.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp: nghiên
cứu tài liệu, điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát.


10
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, (kế thừa tư liệu các cuộc điều tra xã
hội học gần đây về CCBC) để tìm hiểu các quan điểm, tư tưởng, các khuynh
hướng nghiên cứu công chúng, NC&ĐK tiếp nhận SPBC của công chúng.
Phương pháp điều tra xã hội học, thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi
(an-ket) gồm 550 phiếu để thu thập thông tin từ CDNT về NC&ĐK đã được
đáp ứng, sẽ cần được đáp ứng trong việc tiếp nhận SPBC.
Phương pháp phỏng vấn sâu, thực hiện với 30 đối tượng theo phương
pháp nghiên cứu định tính (cán bộ lãnh đạo, quản lý và CDNT trên địa bàn)
để tìm hiểu sâu về những nhu cầu khác không thể hiện trong bảng hỏi.
Phương pháp thảo luận nhóm, trò chuyện, trao đổi, tiến hành 10 cuộc,
nhằm nghiên cứu, thăm dò để hình thành giả thuyết khoa học góp phần cải
thiện NC&ĐK tiếp nhận SPBC của CDNT.
Phương pháp quan sát, nhằm phát hiện các biểu hiện bên ngoài để xác
định những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng, động cơ mà CDNT chưa bộc lộ.
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Tìm hiểu đặc điểm, nhu cầu của công chúng để tác động một cách có
hiệu quả là việc của từng nhà báo, cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí,
của cơ quan lãnh đạo và quản lý báo chí,... Đây là đề tài nghiên cứu CCBC
mà đối tượng là CDNT; góp phần hệ thống hoá những lý luận về vai trò của
báo chí và nắm bắt đặc điểm về NC&ĐK tiếp nhận SPBC đối với CDNT. Từ
đó, tổng kết và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
của báo chí trong việc truyền tải thông tin mọi mặt đến với CDNT.
Luận văn đề cập một cách cơ bản và hệ thống về NC&ĐK tiếp nhận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 10 tiết, 83 trang.


12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Báo chí, sản phẩm báo chí và công chúng báo chí
1.1.1. Báo chí
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê - chủ biên), nghĩa của báo chí là
“báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ” (nói khái quát)[21, tr.54]. Theo định
nghĩa trong Khái niệm báo chí nhìn từ quan điểm hệ thống, “Khái niệm báo
chí được hiểu như một thiết chế, một chỉnh thể từ ý đồ của quyền lực chính trị
đến đối tượng tác động và các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp (quan hệ xuôi ngược) phức tạp trong tiến trình vận động của nó”[41, tr.23].
Khái niệm báo chí được định nghĩa trên ba phương diện: “báo chí là
một trong những hệ thống xã hội” (định danh), “báo chí là một hoạt động
chính trị- xã hội” (định tính) và “báo chí là thứ vũ khí lợi hại trong cuộc đấu
tranh chính trị,... tác động vào xã hội để tạo ra sự can thiệp gián tiếp vào đời
sống chính trị, tham gia vào việc hình thành các khuynh hướng, các phong
trào chính trị- xã hội” (mục đích)[59, tr.34- 38]. Ở khía cạnh khác, báo chí
được định nghĩa: Những sản phẩm TTĐC chuyển tải thông tin mang tính thời
sự thông qua phương pháp phản ánh hiện thực khách quan, trực tiếp và tác
động vào công chúng xã hội theo định kỳ.
Trong luận văn này, khái niệm báo chí được sử dụng với nghĩa là sản
phẩm của hoạt động báo chí để khảo sát sự tiếp nhận của công chúng. Và báo
chí là một hệ thống xã hội, một thiết chế, một hoạt động chính trị- xã hội để
xem xét mối quan hệ của báo chí với các thiết chế khác trong đời sống xã hội
và mối quan hệ tương tác hai chiều với công chúng.
Các loại hình báo chí đề cập trong luận văn này bao gồm: báo in, báo
phát thanh, báo truyền hình và báo mạng điện tử (internet).
1.1.2. Sản phẩm báo chí

truyền hình và internet. Đây có thể là toàn thể xã hội hay một nhóm đối tượng
và cũng có thể là một người nhất định trong một thời điểm nào đó khi họ tiếp
nhận thông tin từ các loại hình báo chí nói trên. Xã hội có nhiều người thuộc


14
nhiều thành phần khác nhau, họ là nguồn sáng tạo vô bờ bến của các nhà báo.
Tất cả xã hội và các nhà báo đều là đối tượng tác động của báo chí. Khi tác
động hoặc hướng tới để tác động thì bao giờ cũng có mục đích cụ thể, cung
cấp thông tin làm thay đổi nhận thức, quan niệm hay khơi nguồn cảm hứng,…
CCBC không phải là nhất thành bất biến mà có thể thay đổi theo thời
gian, hằng ngày, hằng giờ (có thể thay đổi đến hằng phút) theo từng số báo,
chương trình phát thanh, truyền hình, từng tin cập nhật trên báo điện tử. Một
người có thể là công chúng của nhiều SPBC khác nhau. Chúng ta, không ai là
độc giả của tất cả các tờ báo nhưng có thể là công chúng của nhiều SPBC.
CCBC chính là đối tượng mà báo chí trực tiếp hay gián tiếp tác động hoặc
hướng tác động tới nhằm gây ảnh hưởng trong quá trình thông tin. CCBC là
mục tiêu hướng tới của các loại hình báo chí; trong đó, bao gồm công chúng
trực tiếp, công chúng gián tiếp, công chúng đích, công chúng tiềm năng,...
Thuật ngữ “truyền thông đại chúng”, từ “đại chúng” dùng để chỉ đông
đảo đối tượng tiếp nhận thông tin. Đó là quần thể dân cư theo vùng địa lý,
theo lứa tuổi, theo lĩnh vực hoạt động hay các tiêu chí khác. Nó cũng tương
đương chữ “mass” trong tiếng Anh dùng để chỉ người đọc, người nghe, người
xem - công chúng, tức chỉ đối tượng tiếp nhận qua phương tiện TTĐC.
Trong cuốn “Xã hội học báo chí” (2006) của tác giả Trần Hữu Quang,
khái niệm công chúng được hiểu là: tính chất quảng đại (đông đảo), tính chất
không đồng nhất (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau) và tính chất
nặc danh (không ai biết ai)[70, tr.26-27]. Tuỳ theo đặc điểm của mỗi loại hình
báo chí mà có thể xác định những khác biệt của từng loại công chúng. Chẳng
hạn như: với báo in, công chúng là bạn đọc (độc giả); với báo phát thanh,

1.1.4. Vai trò của công chúng báo chí
Khái niệm công chúng gần gũi với khái niệm quần chúng, nên có thể
xuất phát từ vai trò của quần chúng trong lịch sử để nói về vai trò của CCBC.
Quần chúng chủ yếu nhìn từ góc độ tuyên truyền vận động cách mạng; công
chúng chủ yếu nhìn từ góc độ truyền thông – tương tác bình đẳng. Quần


16
chúng nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Trong
quá trình đấu tranh cách mạng, giai cấp vô sản đã dựa vào lực lượng vĩ đại là
quần chúng nhân dân để tiến hành đấu tranh với giai cấp tư sản và các thế lực
phản động khác; báo chí đã trở thành một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp vô sản; trong lĩnh vực báo chí, quần chúng cách
mạng cũng góp một phần rất lớn.
Thực tế cách mạng vô sản đã khẳng định, báo chí không thể ra đời và
phát triển nếu không có phong trào đấu tranh của quần chúng. Trong lịch sử
báo chí Việt Nam, việc hình thành những tờ báo cũng như duy trì hoạt động
của nó trong những thời kỳ hoạt động bí mật, không thể không nói tới sự hỗ
trợ của quần chúng. CCBC cũng chính là nhân dân khi họ tham gia vào các
hoạt động báo chí, từ việc tiếp nhận SPBC, giao lưu gặp gỡ, cộng tác viết tin
bài hoặc tham gia sản xuất chương trình, chuyên mục,...
Công chúng chính là nơi cung cấp nguồn thông tin, là những đề tài vô
tận cho hoạt động báo chí, bởi vì thực tiễn lao động, sản xuất, đời sống nhân
dân vô cùng phong phú và sinh động. Có biết bao những kiểu mẫu điển hình
về các cá nhân, tập thể; có rất nhiều những nhân tố mới, những phát kiến nảy
sinh trong quá trình học tập, lao động, sản xuất. Báo chí chỉ có thể thực hiện
được tôn chỉ, mục đích, lý tưởng của mình khi phản ánh được toàn diện và
sâu sắc về cuộc sống của quần chúng, những đổi thay trong lao động, sản xuất
và đời sống của nhân dân.
Sự đa dạng của các thông tin trên báo chí không chỉ được thực hiện do

của báo chí chính là quần chúng nhân dân. Khi công chúng đọc báo, nghe đài,
xem truyền hình, truy cập internet; tức là khi đó, thành quả lao động của cơ
quan báo chí nói chung, của phóng viên, nhà báo nói riêng được đón nhận và
thưởng thức. Việc đánh giá các tác phẩm báo chí đúng hay sai, có ý nghĩa hay
chưa,... cũng là điều không thể thiếu; do đó, CCBC tham gia vào việc góp ý,
đồng tình hay phản đối, biểu dương hay phê bình khi họ đã thẩm định được
những giá trị đích thực của thông tin trong mỗi tác phẩm báo chí.


18
Thước đo kết quả của báo chí không phải ở số lượng tin, bài được đăng
tải; số lượng phát hành mà cốt yếu ở chỗ bạn đọc, bạn xem, bạn nghe tiếp
nhận và làm theo như thế nào. Công chúng chính là đối tượng mà báo chí
hướng tới, là mục tiêu phục vụ của mình; vì thế, mỗi cơ quan báo chí đều xác
định một nhóm đối tượng để tác động. Bản thân công chúng cũng là người
hiểu rõ hơn ai hết nội dung mà báo chí đã đáp ứng đầy đủ hay chưa, kịp thời
hay không về những yêu cầu thiết thực và nóng hổi của công chúng; đồng
thời mới khẳng định được những vấn đề báo chí nêu ra có phù hợp với chân
lý hay không, chính họ mới đánh giá được cách diễn đạt của báo chí có sát
với trình độ của công chúng hay không. Có thể nói, CCBC là một vấn đề hết
sức cơ bản và quan trọng của báo chí; bởi lẽ cái đích cuối cùng của báo chí là
đáp ứng nhu cầu và phục vụ cho lợi ích của đông đảo quần chúng. Nghiên
cứu về báo chí mà chỉ nghiên cứu về quá trình truyền thông và người truyền
thông (nhà báo, cơ quan báo chí) thì không phản ánh được đầy đủ tính chất,
mục tiêu cũng như hiệu quả của hoạt động báo chí.
Tìm hiểu CCBC cũng chính là tìm hiểu thị hiếu, nhu cầu riêng của các
nhóm đối tượng cũng như của công chúng nói chung. Qua đó, xây dựng cơ sở
đối chiếu xem cách thức, phương pháp hoạt động, nội dung chuyển tải thông
tin có phù hợp và đem lại hiệu quả đối với công chúng hay không.
1.2. Nhu cầu tiếp nhận SPBC

Chính vì lẽ đó, khó có thể định nghĩa chung nhất về nhu cầu, tức là
một định nghĩa bao trùm cả tính sinh vật và tính xã hội của nhu cầu.
Abraham Maslow (1908 – 1966) đại diện phái tâm lý học nhân văn đã
đưa ra những quan điểm tiến bộ về bản tính của con người: “Bản tính có ý
thức, là nhu cầu bậc cao chứ không phải là những bản năng tình dục,... và với
sự phân cấp nhu cầu, ông cho rằng việc thoả mãn các nhu cầu từ thấp đến cao
là cơ sở để con người càng văn minh, thoát xa các loài vật” [19, tr.8]. Ông đã
phân chia nhu cầu tịnh tiến theo nấc thang từ thấp đến cao, phụ thuộc vào
mức độ thiết yếu của nó: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội,


20
nhu cầu uy tín và nhu cầu tự hoàn thiện. Đây là một cách phân loại phổ biến
và được công nhận rộng rãi trong khoa học.

Hình 1.1- Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
Theo đó:
- Nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản nhất cấp thiết nhất. Con người
trước hết phải được đáp ứng nhu cầu sinh học rồi mới có thể quan tâm đến
các nhu cầu tiếp theo;
- Nhu cầu an toàn là nhu cầu mà ai cũng mong muốn trong cuộc sống,
ai cũng mong muốn được an toàn, yên ổn, không bị chi phối bởi những đe
doạ, bất trắc. Đáp ứng được nhu cầu an toàn, con người mới thực sự an tâm
để thực hiện các hoạt động sống của mình;
- Nhu cầu xã hội đáp ứng được nhu cầu tham gia các quan hệ xã hội và
thực hiện các hoạt động xã hội. Bởi một lẽ rất đương nhiên rằng, con người
sống và làm việc không thể tồn tại một cách đơn lẻ được;
- Nhu cầu tôn trọng là nhu cầu tiệm tiến mà con người luôn mong
muốn. Khi tham gia vào các hoạt động xã hội, con người luôn mong muốn
thành công, có uy tín, được xã hội tôn trọng;

thúc đẩy sự phát triển.


22
Từ những cơ sở trên đây, khái niệm nhu cầu tiếp nhận được sử dụng
trong luận văn này được hiểu là thuộc loại nhu cầu xã hội. Luận văn chú ý
đến các bình diện của nhu cầu và mục đích của nhu cầu, việc sử dụng trong
quá trình nghiên cứu, khảo sát, đánh giá; nhất là trong khâu xây dựng bộ câu
hỏi điều tra xã hội học và khâu phân tích, dự báo nhu cầu tiếp nhận SPBC.
Các bình diện của nhu cầu gồm có: nhu cầu đã được đáp ứng, nhu cầu chưa
được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin.
1.2.2. Cư dân nông thôn - những đặc điểm cơ bản
1.2.2.1. Cư dân nông thôn
Luận văn này đề cập đến NC&ĐK tiếp nhận SPBC của CDNT theo
theo địa bàn cư trú nên chúng tôi làm rõ một số vấn đề liên quan đến quần thể
CDNT, vì một lẽ nó có mối liên hệ khăng khít với nhau, tuỳ thuộc lẫn nhau.
Khái niệm nông thôn được Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa là “vùng
tập trung dân cư làm nghề nông phân biệt với thành thị”[33, tr. 1283]. Khái
niệm nông nghiệp được Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị Trung
ương bảy, khoá X giải thích là “ngành nghề hay sản nghiệp phân biệt với công
nghiệp và dịch vụ... sản nghiệp nền tảng của công nghiệp và dịch vụ;… sản
nghiệp đầu tiên cần thiết cho sự sinh tồn của xã hội”[2, tr.111].
Truyền thống của CDNT Việt Nam bao đời nay rất trọng nghĩa, trọng
tình, trọng tĩnh, trọng tín gắn với văn hoá làng, xã (những nét riêng biệt chỉ có
ở làng mình). Đảng ta đã khẳng định quan điểm chiến lược: “Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc
phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước”[14, tr.123-124].

cấp độ mới trong quá trình thông tin. Những gì mà nông dân tiếp nhận được
qua việc tiếp xúc với các SPBC là tiền đề để hình thành thông tin thực tế. Quá
trình hình thành thông tin thực tế được thực hiện bởi nông dân. Nó chịu ảnh


24
hưởng không chỉ của thông tin tiếp nhận mới mà còn bị tác động bởi nguồn
thông tin tích luỹ trước đó, cũng như bị ảnh hưởng của tất cả các yếu tố trong
đời sống tinh thần. Bởi một lẽ, thông tin thực tế chính là những tri thức, tiêu
chuẩn, giá trị được hình thành ở khách thể do sự tiếp nhận thông tin, ảnh
hưởng đến cách nghĩ, cách làm, phương hướng và mục tiêu hành động, áp
dụng vào lao động, sản xuất, sinh hoạt đời sống của họ.
Theo định nghĩa của Đại Từ điển Tiếng Việt, công nhân là “người lao
động (thường là chân tay) làm việc dựa vào sự thu nạp nhân công của chủ tư
liệu sản xuất công nghiệp hoặc của nhà nước, còn bản thân họ không chiếm
hữu tư liệu sản xuất”[33, tr. 457]. Như vậy, xét trong mối quan hệ công chúng
- tác giả - tác phẩm thì công nhân là một nhóm xã hội tương đối rộng lớn, bao
gồm những cá thể lao động có đào tạo, hoạt động sản xuất trong môi trường
công nghiệp (các xí nghiệp, công xưởng) và có điều kiện tiếp cận thường
xuyên hơn với các phương tiện TTĐC, vừa là chủ thể tiếp nhận các SPBC,
vừa là đối tượng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của báo chí.
Cũng theo giải thích của Đại Từ điển Tiếng Việt, trí thức là “người
chuyên làm việc, lao động trí óc”[33, tr. 1705]. Do vậy, nhóm trí thức cũng
bao gồm nhiều cá nhân trong một không gian công cộng, có mối quan hệ với
tác giả, tác phẩm trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực báo chí. Họ là
những người có tri thức chuyên môn và lao động trí óc trong môi trường
nghiên cứu, học thuật, giảng dạy,… Vì thế, đây là nhóm công chúng có nhiều
điều kiện nhất trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với các phương tiện TTĐC và
phần lớn chịu sự tác động trực tiếp của báo chí.
Như vậy từ những khái quát về các nhóm công chúng (trong môi

độ và môi trường sinh sống.
Xét trên nhiều phương diện thì CDNT vừa là nhóm đối tượng riêng
biệt đồng thời lại là đối tượng chung hướng tới của báo chí trong quá trình tác
động vào CCBC. Trong nhóm CDNT cũng có thể chia thành các nhóm riêng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status