Thực trạng, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội (20122013) - Pdf 38

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS đã và vẫn đang là vấn đề toàn cầu, nó không chỉ ảnh hưởng đến
tính mạng, sức khoẻ của con người, mà còn gây tác hại lớn đến sự phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội của các quốc gia. Sau hơn 30 năm các quốc gia đã có nhiều biện
pháp phòng chống tích cực nhưng dịch vẫn gia tăng, với tính chất ngày càng phức
tạp. Đến nay, có khoảng 34 triệu người đang sống chung với HIV, gần 30 triệu
người đã chết vì AIDS [103]. Hiện nay, tiêm chích ma túy vẫn là phương thức lây
truyền HIV chủ yếu ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Theo báo cáo của
cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc ước tính có khoảng
14 triệu người tiêm chích ma túy trên toàn cầu và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm
chích ma túy là (10% - 13%) [115], [116].
Hiện nay, do chưa có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các
nước trên thế giới đang tập trung triển khai các hoạt động giảm tác hại mang tính
chiến lược như Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone cho nhóm nghiện chích ma túy là hết sức cần thiết, mang tính thời sự,
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Một trong những nguyên nhân lan truyền HIV
ở Hà Nội chủ yếu là nhóm nghiện chích ma túy, song họ lại thiếu hiểu biết về các
biện pháp can thiệp dự phòng. Đến nay, Hà Nội cũng chưa có nghiên cứu nào đề
cập một cách toàn diện đến các giải pháp can thiệp giảm tác hại có hiệu quả như
Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Từ
những lý do trên, trong khuôn khổ dự án “Dự phòng chăm sóc và điều trị
HIV/AIDS tại Việt Nam” do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: "Thực trạng, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy và hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc Methadone tại Hà Nội (2012 – 2013)" nhằm mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong
nhóm nghiện chích ma tuý tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội, năm 2012.
2. Đánh giá hiệu quả chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc thay thế Methadone, dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm
nghiện chích ma túy tại Hà Đông và Từ Liêm, Hà Nội, năm 2012 - 2013.

Khoảng 80% sống ở các quốc gia đang phát triển. Những người NCMT chủ yếu là
nam giới dao động từ khoảng 70 - 75% ở Châu Âu và Bắc Mỹ lên hơn 90% và
trong nhiều quốc gia ở Châu Á. Các vùng có số ước tính người NCMT cao nhất,
với những con số lớn nhất được báo cáo ở Nga, Trung Quốc và Ấn Độ [66]. Theo
báo cáo Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc đến cuối
năm 2011, toàn thế giới có khoảng 167 đến 315 triệu người trong độ tuổi từ 15- 64
sử dụng các loại ma túy bất hợp pháp, chiếm từ 3,6% - 6,9% dân số trên thế giới.
Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT trên toàn cầu là 5 -10%, tuy nhiên tại một số
nước Châu Âu và Châu Á, tỷ lệ này là trên 70% [115], [116].
1.3. Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone


3
1.3.1. Trên thế giới
Trên thế giới, Methadone là loại thuốc chính được sử dụng trong phương
pháp điều trị cai nghiện thay thế. Tổng số người nhận dịch vụ điều trị cai nghiện
các chất ma tuý dạng thuốc phiện thay thế bằng Methadone theo ước tính khoảng
hơn một nửa triệu người. Con số này tiếp tục gia tăng nhanh chóng tại nhiều khu
vực khác nhau. Methadone đang được sử dụng để điều trị cai nghiện cho những
người nghiện heroin tại Hoa Kỳ, Ac-hen-ti-na, Australia, Ca-na-đa, Trung Quốc,
In-đô-nê-xi-a, I-ran, Tân Tây Lan, Ma-lay-xi-a, Thái Lan cũng như một số nước
khác. Methadone là một loại thuốc dùng đường uống và hấp thụ tốt qua đường
uống. Thuốc có tác dụng nhanh chóng và có hiệu quả mạnh trong khoảng 2 - 4 giờ
[64], [91], [92].
1.3.2. Tại Việt Nam
Thực hiện Quyết định 1008/QĐ -TTg của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu
bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone năm
2014 - 2015 với mục tiêu đến năm 2015 sẽ điều trị thay thế bằng Methadone cho
khoảng 80000 người NCMT tại 61 tỉnh/thành phố. Đến nay, chương trình điều trị

tượng sau vào nghiên cứu: Những người không đủ minh mẫn để trả lời phỏng vấn.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Các quận được chọn làm địa bàn nghiên cứu: Hà Đông, Từ Liêm - thành phố Hà Nội.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2011 đến 10/2013, chia 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Điều tra mô tả thực trạng, từ tháng 6/2011 đến 2/2012
+ Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp, từ tháng 3/2012 đến 10/2013

2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp cộng đồng không có nhóm
chứng (đánh giá so sánh trước - sau can thiệp trên cùng nhóm đối tượng nghiên cứu).
2.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu nghiên cứu mô tả cắt ngang
p.(1-p)
n =

Z

2
(1−α / 2 )

d2
+ n: Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu.
+ Z (1 - α/2): Hệ số tin cậy với mức ý nghĩa α = 0,05; Z(1 - α/2) = 1,96
+ p: Tỉ lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT (do chưa biết tỷ lệ này chính xác, kết quả
tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV tại 48 tỉnh thành năm 2008, tỷ lệ nhiễm
HIV ở nhóm NCMT là 8,78% nên ước đoán p là 10%), p = 0,1 [29].
+ d: Sai số tuyệt đối, d = 0,03. Theo công thức cỡ mẫu tính được là 385
2.2.1.2. Thiết kế nghiên cứu can thiệp

Dựa vào các hồ sơ bệnh án, kết quả các xét nghiệm, tình hình điều trị, hiệu quả
quá trình điều trị thay thế bằng Methadone cho bệnh nhân.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu
* Vận động chính quyền địa phương cam kết thực hiện chương trình
- Tổ chức các cuộc họp với lãnh đạo chính quyền về biện pháp triển khai.
- Tổ chức hội nghị phổ biến với sự tham gia của các ban ngành tại các
quận/huyện, xã/phường, cụm dân cư điểm nóng triển khai chương trình.
- Tổ chức diễn đàn, tọa đàm chuyên đề trên truyền thanh tại quận/huyện.
- Tập huấn cho các quận về chương trình Methadone.
* Thành lập nhóm kỹ thuật
- Thành lập Nhóm làm việc kỹ thuật về điều trị Methadone với sự tham gia các
ban ngành liên quan từ 15 - 18 người.
- Triển khai các thủ tục nhập khẩu bảo quản, pha chế dung dịch Methadone.
- Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
- Tổ chức tập huấn về quản lý lâm sàng Methadone cho cán bộ.
- Cung cấp dịch vụ Methadone để hướng dẫn tại chỗ cho các nhân viên.
- Xây dựng một hệ thống theo dõi và đánh giá chương trình.
- Báo cáo tình hình hoạt động và tiến triển của chương trình.
* Thiết lập mạng lưới cơ sở điều trị Methadone
Tại tuyến quận/huyện, thành lập ban chỉ đạo xét chọn bệnh nhân điều trị
Methadone do đồng chí Phó Chủ tịch làm Trưởng ban. Các thành viên gồm:


6
Cán bộ y tế, công an, lao động thương binh xã hội... thành lập cơ sở điều trị
Methadone gồm: trưởng cơ sở điều trị, bác sỹ khám bệnh, dược sỹ, hành chính,
bảo vệ. Mạng lưới này sẽ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và chăm sóc cho những
bệnh nhân điều trị Methadone, người nhiễm HIV và cả gia đình của họ và
những người quan tâm đến điều trị Methadone.
* Các biện pháp can thiệp



7
chuyển sang SPSS 13.0 để quản lý và phân tích với các test thống kê dùng trong
y học. Đánh giá vai trò yếu tố nguy cơ: tính tỷ suất chênh (OR).
Số liệu được phân tích và trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ %. Test χ2 và
giá trị p được sử dụng để biểu thị sự khác biệt giữa các biến số độc lập và biến
số phụ thuộc.
2.4. Khống chế sai số
Áp dụng phương pháp thống nhất cho 2 cơ sở điều trị nghiện CDTP bằng
thuốc Methadone như: lựa chọn đối tượng, kế hoạch điều tra, triển khai hoạt
động được tiến hành trong cùng một thời gian, với nội dung thống nhất.
2.5. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này được thông qua Hội đồng đạo đức có thẩm quyền phê duyệt.
Đối tượng nghiên cứu đã được thông báo về mục đích của nghiên cứu.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm
nghiện chích ma túy tại Hà Nội
3.1.1. Mô tả thực trạng nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tham
gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
7,0

11.5

84,0

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại Hà Đông và Từ Liêm
Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy: trong 400 người nghiện chích ma túy được làm
xét nghiệm HIV có 46 người HIV dương tính chiếm tỷ lệ 11,5%, trong đó: cơ sở Hà

Trung học cơ sở
147
36,7
Trung học phổ thông
147
36,7
Trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên
71
17,8
3. Đặc điểm sống
Sống một mình
2
0,5
Sống cùng vợ/bạn gái
225
56,3
Sống cùng với người thân
173
43,2
Kết quả bảng 3.1 cho thấy: người NCMT tham gia nghiên cứu có độ tuổi
trung bình là 35,7±7,0 tập trung chủ yếu ở độ tuổi 20 – 39 chiếm 74,0%. Nhóm
trên 39 tuổi chiếm 26,0% và không có đối tượng nào dưới 20 tuổi. Về trình độ
học vấn: tập trung ở nhóm THPT và THCS chiếm 73,4%. Các nhóm còn lại
chiếm tỷ lệ thấp: nhóm cao đẳng/đại học chiếm 17,8%, nhóm tiểu học chiếm
8,3% và mù chữ chiếm 0,5%.

Biểu đồ 3.2. Tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua (n=384 )
Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy: tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng
qua, từ 2 - 3 lần/ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là 68,5%, trên 3 lần/ngày là 24,7%,
khoảng 1 lần/ngày chiếm tỷ lệ 5,2%, không có đối tượng nào TCMT ít hơn 1

Kết quả biểu đồ 3.10 cho thấy: trong 400 bệnh nhân tham gia nghiên cứu
tại 2 Cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
của quận Hà Đông và huyện Từ Liêm, tỷ lệ bệnh nhân trong giai đoạn dò liều là
3,8% và giai đoạn liều ổn định là 96,2%.

Biểu đồ 3.11. Liều Methadone điều trị cho bệnh nhân (n = 400)
Kết quả biểu đồ 3.11 cho thấy: liều khởi đầu trung bình của bệnh nhân
tham gia nghiên cứu là 20,6 mg/ngày, liều duy trì trung bình là 69,7 mg/ngày và
liều hiện tại trung bình là 72,2 mg/ngày. Liều Methadone duy trì cao nhất 430
mg/ngày và thấp nhất là 7 mg/ngày.

Biểu đồ 3.13. Tần suất sử dụng heroin khi điều trị Methadone (n=400)
Kết quả biểu đồ 3.13 cho thấy: trong 7 ngày trước điều trị tần suất sử
dụng heroin là 2,86 lần/ngày; Ở giai đoạn dò liều: trong tuần điều trị đầu tiên là
1,31 lần/ngày, trong tuần điều trị thứ hai là 0,64 lần/ngày .
Bảng 3.15. Thay đổi về cân nặng, ngoại hình, lối sống (n = 400)


11
SL

Nội dung
TL (%)
1. Cân nặng
Tăng cân
215
53,8
Không thay đổi
183
45,7



12
Kết quả biểu đồ 3.17 cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân chưa hài lòng với chất
lượng dịch vụ như: Thời gian chờ đợi là 7,0%, chất lượng điều trị là 5,3% và
thái độ phục vụ, chất lượng khám, chất lượng tư vấn đều là 5,0%.
3.2.2. Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
3.2.2.1. Hiệu quả thay đổi hành vi về dự phòng lây nhiễm HIV
Bảng 3.19. Hiệu quả thay đổi nhận thức về hành vi lây nhiễm HIV
Năm 2012
Năm 2013
CSHQ
Lý do
p
(n = 400)
(n = 362)
(%)
SL TL(%) SL TL(%)
Nhiều bạn tình
34
8,5
13
3,6
0,036
57,7
QHTD không dùng BCS 33
8,3
20
5,5

(n = 384)
(n = 31)
(%)


13
SL TL(%) SL TL(%)
Ít hơn 1 lần/ngày
0
0,0
23
74,2
0,000
1 lần/ngày
20
5,2
8
25,8
0,000
396,2
2 - 3 lần/ngày
263
68,5
0
0,0
0,000
100,0
Trên 3 lần/ngày
95
24,7

14
Năm 2012
Năm 2013
CSHQ
Nội dung
p
(n = 400)
(n = 362)
(%)
SL TL(%) SL TL(%)
Tăng cân
215
53,8
357
98,6 0,000
83,3
Không thay đổi
183
45,7
4
1,0
0,000
97,8
Giảm cân
2
0,5
1
0,3
0,063
Kết quả bảng 3.25 cho thấy: so với năm 2012, tỷ lệ bệnh nhân tham gia

(n = 362)
(%)
SL TL(%) SL TL(%)
Thời gian tiếp đón BN
1
0,3
8
2,2
0,016
633
Thái độ làm việc của bác sỹ 1
0,3
18
5,0
0,000
1566
Thái độ NV cấp phát
1
0,3
7
1,9
0,031
533
Thái độ NV tư vấn
1
0,3
19
5,2
0,000
1633

16
16,3%, nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang tại Hà Tây là 18,5% và nghiên cứu tại
Tuyên Quang, Bắc Cạn, Hòa Bình năm 2009 có tỷ lệ từ 19,8% - 42,0% [13], [52].
4.1.2. Sự đan xen giữa các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như sử dụng
chung dụng cụ tiêm chích và quan hệ tình dục không an toàn
Người NCMT cũng có hành vi QHTD với nhiều bạn tình khác nhau,
trong đó có cả GMD. Kết quả giám sát IBBS năm 2005-2006 cho thấy tỷ lệ
người NCMT có từ 2 bạn tình trở lên trong 12 tháng tại tỉnh An Giang là
55,2%; thành phố Hồ Chí Minh là 39,1%; thành phố Hà Nội là 28,7% và
Cần Thơ là 28,1%. Tỷ lệ người NCMT có QHTD với GMD trong vòng 12
tháng tại An Giang là 43,0%; Cần Thơ là 28,7%, thành phố Hà Nội là
20,5%, trong khi đó tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS thường xuyên khi
QHTD trong 12 tháng ở hầu hết các tỉnh/thành phố lại rất thấp chỉ chiếm
14,3% và tỉnh cao nhất cũng chỉ đạt 61,5%. Tỷ lệ GMD có hành vi TCMT
ở An Giang là 2,9%; Cần Thơ là 17,2%, Hà Nội là 16,7% [7].
Sự đan xen các hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như sử dụng
chung dụng cụ tiêm chích và QHTD không an toàn với GMD thể hiện
chiều hướng gia tăng nhiễm HIV trong nhóm GMD. Điều này sẽ dẫn đến
nguy cơ lan tràn dịch HIV ra cộng đồng qua con đường tình dục, thể hiện
qua tỷ lệ và chiều hướng lây nhiễm gia tăng trong nhóm phụ nữ trước đẻ.
Theo kết quả giám sát trọng điểm: tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ mang
thai tại Hà Nội năm 2010 là 0,3% và năm 2013 là 0,5%. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng phù hợp với báo cáo của Bộ Y tế về tình hình lây
nhiễm HIV trong nhóm đối tượng NCMT ở khu vực miền Bắc [48].
4.1.3. Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm nghiện chích ma túy
Về nhóm tuổi và trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu, kết quả
cho thấy: người NCMT tham gia nghiên cứu tập trung chủ yếu ở độ tuổi 20–
39 tuổi, cụ thể: nhóm từ 20 - 29 tuổi chiếm 20,0%, nhóm từ 30-39 tuổi
chiếm tỷ lệ cao là 54,0% và nhóm trên 39 tuổi chiếm tỷ lệ 26,0%. Trình độ
học vấn của người NCMT bậc trung học phổ thông trở xuống chiếm 54,5%.

giai đoạn dò liều 3,8%, giai đoạn liều ổn định 96,2%. Liều Methadone khởi đầu
của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu trung bình là 20,6 mg/ngày, liều duy trì
trung bình là 69,7 mg/ngày và liều hiện tại trung bình là 72,2 mg/ngày. Liều
Methadone duy trì cao nhất 430 mg/ngày và thấp nhất là 7 mg/ngày. Kết quả
nghiên cứu của Cao Kim Vân cho thấy: liều trung bình lúc bắt đầu duy trì là 80
- 100 mg/ngày, liều duy trì cao nhất là 300 mg/ngày và thấp nhất là 2 mg/ngày
và bệnh nhân điều trị ARV hay nhiễm trùng cơ hội có liều duy trì cao hơn (120
- 140 mg/ngày) và thời gian dò liều trung bình cũng dài hơn là 45 - 60 ngày
[11], [63]. Liều điều trị Methadone cũng có vai trò quan trọng trong việc dự
phòng lây nhiễm HIV. Nhiều nghiên cứu trên Thế giới cho thấy: bệnh nhân
được điều trị với liều 80 mg/ngày hoặc nhiều hơn có tỷ lệ lây nhiễm HIV thấp
hơn hẳn so với bệnh nhân dùng liều thấp hơn [83]. Trong nghiên cứu cũng
chobieets về tần suất sử dụng ma túy trong 7 ngày trước điều trị là 2,86
lần/ngày; trong tuần điều trị đầu tiên là 1,31 lần/ngày; trong tuần điều trị thứ hai
là 0,64 lần/ngày và ở giai đoạn điều trị duy trì là 0,35 lần/ngày. như vậy tình
trạng tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị chủ yếu ở thời gian dò
liều. Một số nghiên cứu cho thấy điều trị Metahdone làm giảm sử dụng ma túy
bất hợp pháp: nghiên cứu tại Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai đã
theo dõi bệnh nhân liên tục trong 2 năm cho thấy tỷ lệ dương tính với CDTP
khi xét nghiệm nước tiểu lúc mới vào điều trị là 100% bệnh nhân có xét nghiêm
nước tiểu dương tính với CDTP, sau 24 tuần theo dõi tỷ lệ này giảm xuống còn
9,26% (với R=0,8852; P < 0,05), giảm tiêm chích CDTP: từ 100% lúc mới vào
đến tuần thứ 18 không còn bệnh nhân nào TCMT (0,0%), liều Methadone duy
trì từ 20mg - 60mg/ngày [58].
4.2.2. Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
4.2.2.1 Đánh giá mức độ thay đổi nhận thức về phòng chống HIV/AIDS


18

0,0%. Kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2010 cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân
còn sử dụng chung BKT giảm đi rõ rệt chỉ còn 2,0% trong nhóm bệnh nhân còn
TCMT đang tham gia điều trị trên 24 tháng so với 21,0% trước điều trị. Kết quả
nghiên cứu tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 cho
thấy: tỷ lệ dùng chung BKT của bệnh nhân đang điều trị Methadone còn sử
dụng ma túy là rất thấp: trước khi tham gia điều trị tỷ lệ dùng chung BKT của
nhóm này là 6,0% ở thành phố Hải Phòng và 35,0% ở thành phố Hồ Chí Minh.
Sau 6 tháng điều trị chỉ còn 2 trường hợp là dùng chung BKT khi TCMT
(chiếm 0,43%) và không còn bệnh nhân nào sử dụng chung BKT trong thời
gian từ tháng thứ 7 đến hết tháng thứ 9 sau điều trị tại cả hai thành phố này
[16], [22]. Như vậy, sau can thiệp tỷ lệ sử dụng chung BKT với tỷ lệ có hành vi
tiêm chích không an toàn giảm xuống còn 0,0% cho thấy nhận thức về nguy cơ


19
lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT đã được cải thiện đáng kể. Kết quả của
nghiên cứu này chưa đủ bằng chứng để kết luận hiệu quả của điều trị nghiện các
CDTP bằng thuốc Methadone giúp bệnh nhân thay đổi hành vi dùng chung
BKT do thời gian bệnh nhân tham gia vào chương trình còn ngắn. Tuy nhiên có
thể thấy việc giảm tần suất TCMT cũng đã góp phần hạn chế khả năng dùng
chung BKT, ngay cả đối với những bệnh nhân hiện vẫn tiếp tục tiêm chích và
từ đó sẽ làm giảm nguy cơ bị lây nhiễm HIV.
4.2.2.2. Đánh giá sự thay đổi về tình trạng sức khỏe
Kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm ma túy trong 30 ngày gần nhất cho
thấy: tỷ lệ bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy
trong 30 ngày gần nhất đã giảm từ 9,2% xuống 4,4%, CSHQ đạt 51,1%. Không
chỉ giảm nhanh và mạnh về tỷ lệ phần trăm bệnh nhân còn tiếp tục tiêm chích,
mà nghiên cứu cũng cho thấy có sự giảm rõ rệt về tần suất tiêm chích trên
những bệnh nhân hiện vẫn còn sử dụng heroin. Số lần trung bình sử dụng
Heroin hàng ngày của các bệnh nhân tham gia điều trị Methadone trong giai

trọng. Sau can thiệp, tỷ lệ bệnh nhân có việc làm tăng gấp đôi từ thất nghiệp
chuyển sang có việc làm, đây cũng là một tín hiệu rất tốt giúp cho bệnh nhân có
cuộc sống ổn định và tạo điều kiện để tránh xa ma túy. Kết quả này cao hơn so
với kết quả nghiên cứu ở 2 thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh của
Tác giả Hoàng Đình Cảnh: trước khi điều trị, có đến 44,8% số bệnh nhân thất
nghiệp hoàn toàn; 55,2% bệnh nhân có việc làm bao gồm những người có công
ăn việc làm ổn định, làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian, kể cả những
người làm việc phụ cho gia đình như phụ giúp bán hàng. Sau hơn 8 tháng triển
khai chương trình, tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp giảm từ 44,8% xuống còn 33,7%
(giảm 11%, p = 0.028). Khi phân tích sâu hơn, cả 2 thành phố có 23,7% bệnh
nhân đang từ thất nghiệp trở thành có việc làm bao gồm cả việc làm ổn định và
không ổn định. Tuy nhiên cũng có 11,9% bệnh nhân đang từ có việc làm trở
thành thất nghiệp. Số còn lại 64,4% không có gì thay đổi về công việc [22].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá phù hợp với một số nghiên cứu tại
nước ngoài, tỷ lệ bệnh nhân tham gia điều trị Methadone có việc làm được cải
thiện, tăng lên một cách đáng kể và hành vi phạm tội ở nhóm can thiệp so với
nhóm chứng khá rõ ràng. Nghiên cứu tại Malaysia cũng cho thấy gia tăng công
ăn việc làm ở các bệnh nhân điều trị Methadone từ 47,6% - 66,3% sau 1 năm
tham gia chương trình từ 70,1% - 77,6% sau 2 năm (Ramli và cộng sự, Báo cáo
sức khỏe Công cộng Châu Á - Thái Bình Dương, 2011). Chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân được cải thiện đáng kể về các mặt sức khỏe, thể chất, tâm lý,
quan hệ xã hội, môi trường. Chi phí cho một bệnh nhân điều trị Methadone rẻ
hơn 8,9 lần so với giữ họ trong các trung tâm cai nghiện tập trung [16].
Kết quả các nghiên cứu trên trên Thế giới cho thấy: cá nhân những người
NCMT có thể hưởng lợi từ chương trình Methadone vì họ có điều kiện cải thiện sức
khỏe và quan hệ xã hội. Toàn thể xã hội có thể hưởng lợi từ chương trình Methadone
nhờ giảm được hành vi tội phạm, giảm chi phí y tế và chi phí phát sinh trong hệ
thống pháp luật hình sự, giảm nguy cơ lây truyền HIV và tăng khả năng cống hiến
cho xã hội. Các tổ chức của Liên hợp quốc ước tính đối với mỗi đô-la đầu tư vào các
chương trình điều trị nghiện thay thế thì sẽ tiết kiệm chi phi được từ 4 đến 7 đô-la chỉ

và chất lượng của dịch vụ tốt, đáp ứng được mong muốn của bệnh nhân. Từ kết quả
trên sự hài lòng của bệnh nhân điều trị Methadone, cho thấy các yếu tố liên quan đến
sự hài lòng đều xoay quanh: thời gian chờ đợi sử dụng dịch vụ, chất lượng chuyên
môn, thái độ giao tiếp, ứng xử, sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân, môi trường
khám chữa bệnh, đặc biệt khâu chăm sóc hàng ngày cần được cải thiện hơn nữa.
Kết quả điều trị bằng thuốc Methadone tại thành phố Hà Nội là một biện
pháp minh chứng khoa học về điều trị thay thế nghiện CDTP điều trị ngoại trú
tại cộng đồng, người bệnh chỉ cần uống Methadone 1 lần/ngày. Việc sử dụng
Heroin đã giảm đi một cách đáng kể về tần suất, liều sử dụng và tiến tới ngừng
sử dụng ma túy. Do đặc tính dược học của thuốc Methadone, khi sử dụng không
bị “phê”, không tăng liều điều trị và vì vậy, sau một thời gian điều trị sẽ phục
hồi sức khỏe, phục hồi ý thức, tâm thần, có thể lao động, học tập bình thường,
có cơ hội tìm kiếm việc làm và cải thiện cuộc sống gia đình, tăng cường lợi ích
xã hội. Đa số bệnh nhân tham gia điều trị đã có những cải thiện về sức khỏe,
chuyển biến tích cực về thái độ cũng như cuộc sống. Nhiều bệnh nhân trước
đây chưa có việc làm thì bây giờ đã và đang tích cực tìm việc làm và dành thời
gian hỗ trợ gia đình. Về an ninh xã hội và an toàn của cộng đồng dân cư xung
quanh người nghiện ma túy cũng đã được cải thiện. Đặc biệt, điều trị thay thế
nghiện các CDTP bằng Methadone một cách có hiệu quả, góp phần quan trọng
trong việc hạn chế lây nhiễm HIV, nhất là ở một tỉnh/thành như thành phố Hà
Nội có tỷ lệ lây nhiễm HIV do tiêm chích cao trên 70% số các ca nhiễm mới
được phát hiện trong những năm gần đây. Sau 02 năm triển khai đánh giá điều trị
nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone trên địa bàn
Quận Hà Đông và Từ Liêm đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, số người
tái nghiện giảm đáng kể. Uống Methadone không chỉ giúp người nghiện dần
thoát khỏi cái chết trắng, mà còn giảm các hành vi vi phạm pháp luật, giảm lây


22
nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường máu. Đây cũng là ưu điểm,

chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone là 11,5% (Hà Đông chiếm 7,0% và
Từ Liêm chiếm 16,0%).
- 68,5% có tần suất tiêm chích ma túy từ 2 - 3 lần/ngày; 24,7% trên 3 lần/ngày.
1,8% sử dụng chung bơm kim tiêm trong lần tiêm chích gần đây nhất. 2,7% không
sử dụng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích gần nhất.
- 30,4% không sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục với gái mại dâm và
bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua.
2. Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
tại thành phố Hà Nội


23
- Tỷ lệ còn tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua giảm rất rõ rệt từ 96,0% (trước
can thiệp) xuống 8,8% (sau can thiệp).
- Giảm nhanh và mạnh về tần suất tiêm chích ma túy 2 - 3 lần/ngày từ 68,5%
(trước can thiệp) xuống 0,0% (sau can thiệp), với p = 0,000 và CSHQ đạt
100,0%; Tần suất tiêm chích trên 3 lần/ngày từ 24,7% (trước can thiệp) xuống
0,0% (sau can thiệp), với p = 0,000 và CSHQ đạt 100,0%.
- Tỷ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm giảm từ 1,8% (trước can thiệp) xuống
0,0% (sau can thiệp).
- Tỷ lệ có kết quả xét nghiệm dương tính với heroin từ 9,2% (trước can thiệp)
xuống 4,4% (sau can thiệp).
- Tần suất sử dụng heroin từ 0,35 lần/ngày (trước can thiệp) giảm xuống 0,23
lần/ngày (sau can thiệp).
- Tỷ lệ tăng cân từ 53,8% (trước can thiệp) đã tăng lên đáng kể là 98,6%, với
p=0,000 và CSHQ đạt 83,3% (sau can thiệp).
- Tỷ lệ bệnh nhân được cải thiện chất lượng cuộc sống tăng từ 54,3% (trước can
thiệp) lên 69,6%, CSHQ đạt 28,2% (sau can thiệp).
- Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm tăng từ 59,0% - 91,1% (sau can thiệp) CSHQ đạt
54,4%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status