Thực trạng, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội (20122013) - Pdf 37

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

BÙI THỊ NGA

THỰC TRẠNG, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ VÀ HIỆU QUẢ
CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
TẠI HÀ NỘI (2012 - 2013)

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUÂN Y

BỘ QUỐC PHÒNG


2

BÙI THỊ NGA

THỰC TRẠNG, HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TUÝ VÀ HIỆU QUẢ

Mục lục
Danh mục chữ viết tắt trong luận văn
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục ảnh
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm dịch HIV/AIDS
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.2. Dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS
1.2. Thực trạng tiêm chính ma túy và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
1.2.1. Trên thế giới
1.2.2. Tại Việt Nam

1
3
3
3
4
7
7
12


4

1.2.3. Tại thành phố Hà Nội
1.3. Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện

bằng

48
48
48
49
49
53
54
58
65
65
66
67
68
68

nghiện chích ma túy tại Hà Nội
3.1.1. Mô tả thực trạng nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tham gia

68

điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
3.1.2. Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy
3.2. Đánh giá hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng

69
80

thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội
3.2.1. Mô tả thực trạng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc



110

Methadone


5

4.2.2. Hiệu quả điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
Methadone tại thành phố Hà Nội
4.3. Tính bền vững và khả năng áp dụng mô hình can thiệp ở cộng đồng
4.4. Bàn luận về hạn chế của đề tài
KẾT LUẬN
KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Phần viết tắt
AIDS

Phần viết đầy đủ
: Acquired Immuno Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm
:
:
:
:


Can thiệp giảm tác hại
Cơ sở điều trị
Chỉ số hiệu quả
Đồng đẳng viên
Đại học, cao đẳng
Giáo dục viên
Gái mại dâm
Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)
Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)
Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn

IBBS

dịch ở người)
: Integrated Biological and Behavioral Surveillance (Giám sát

KCB

kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học)
: Khám chữa bệnh

ARV
BCS
BKT
CBYT

116
135
138
141

TCMT
THCS
THPT
TL
TTYT
TVXNTN
UNAIDS

:
:
:
:
:
:
:

đường tình dục)
Tiêm chích ma tuý
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Tỷ lệ
Trung tâm y tế
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
United Nations Acquired Immunodeficiency Syndrome (Tổ chức

UNODC

phòng, chống AIDS Liên Hợp Quốc)
: United Nations Office on Drugs and Crime (Cơ quan phòng chống


3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
3.19
3.20
3.21

Loại ma túy sử dụng trong 1 tháng qua
Nguồn cung cấp bơm kim tiêm sạch
Số tiền mua ma túy trong lần tiêm chích gần nhất
Tuổi quan hệ tình dục lần đầu
Hành vi quan hệ tình dục với các bạn tình trong 12 tháng qua
Nhận thức về triệu chứng các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Nhận thức về biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV
Kết quả về tư vấn và xét nghiệm HIV
Tình trạng cai nghiện tại Trung tâm 06
Kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm ma túy trong 30 ngày gần nhất
Kết quả xét nghiệm vi rút viêm gan B, C


Hiệu quả thay đổi về biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

3.22

Hiệu quả thay đổi hành vi quan hệ tình dục với các loại bạn tình trong 12

90

3.23
3.24
3.25
3.26

tháng qua
Tỷ lệ bệnh nhân gặp các tác dụng phụ trong thời gian điều trị
Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV, HBV, HCV
Hiệu quả cải thiện cân nặng của bệnh nhân

Thay đổi tỷ lệ rất hài lòng của bệnh nhân về thái độ làm việc của
cán bộ y tế trước và sau can thiệp


3.3
3.4
3.5
3.6
3.7

Liêm
Tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua
Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong 1 tháng qua
Tần suất làm sạch bơm kim tiêm trong 1 tháng qua
Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong lần gần đây nhất
Tỷ lệ sử dụng bơm kim tiêm sạch trong lần tiêm chích gần nhất
Tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với gái mại dâm và bạn

71
72
72
73
73
76

3.8

tình bất chợt trong 12 tháng qua
Tần suất sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với gái mại dâm

76

3.9
3.10

Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các dịch vụ chuyển tiếp
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

84
85

Biểu đồ

Tên biểu đồ

3.19
3.20

Hiệu quả thay đổi tỷ lệ sử dụng ma túy trong 1 tháng qua
Hiệu quả thay đổi tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong lần tiên chích

88
89

3.21

gần đây nhất
Hiệu quả thay đổi tần suất sử dụng bao cao su trong

90

3.22
3.23


96

3.29

đến cơ sở điều trị trước và sau can thiệp
Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiếp trước và

97

sau can thiệp


11

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình

Tên hình

2.1

Khung cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc

Trang

Methadone

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc ước tính có khoảng 14
triệu người tiêm chích ma túy trên toàn cầu và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm
tiêm chích ma túy là (10% - 13%) [115], [116].
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV qua đường
tiêm chích ma túy vào loại cao trên thế giới. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm
nghiện chích ma túy toàn quốc năm 2010 là 17,5%. Tuy nhiên, tại một số
tỉnh/thành phố tỷ lệ này lại cao gấp 2 - 3 lần: thành phố Hồ Chí Minh 36%,
Cần Thơ 35,7%, Điện Biên 34%. Tiêm chích ma túy là nguyên nhân chính
làm tăng số nhiễm HIV mới hàng năm. Theo báo cáo của Bộ Công an đến
tháng 6 năm 2013, cả nước có trên 180000 người nghiện, trong đó sử dụng
heroin chiếm 84,7% [61].
Do vậy, nỗ lực phòng, chống lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy có ý nghĩa rất quan trọng để ngăn chặn đại dịch này. Điều trị nghiện
các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone là một trong các biện pháp
can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV. Trong nhiều năm qua,
Methadone được áp dụng điều trị tại nhiều nơi trên thế giới và đã đạt được
những kết quả khả quan. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các bằng
chứng về điều trị thay thế bằng thuốc Methadone giúp người nghiện các chất


14

dạng thuốc phiện giảm tần suất sử dụng ma túy, giảm hành vi tội phạm, giảm
tử vong do quá liều và tăng hiệu quả điều trị [114].
Hà Nội là thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm nghiện chích
ma túy, kết quả giám sát trọng điểm trong 10 năm (2006 - 2015) tỷ lệ nhiễm
HIV không thay đổi, trung bình là 23,9% [48]. Như vậy, trong nhiều năm qua
tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này tại Hà Nội cao và không giảm, trong khi công
tác cai nghiện ma túy ở cộng đồng và trong các Trung tâm Giáo dục Lao động
xã hội còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức [6], [61]. Vấn đề đặt

phòng chống bệnh tật - Atlanta của Mỹ xác định từ 5 nam thanh niên đồng
tính luyến ái bị viêm phổi nặng do Pneumoci carini ở Los Angeles (Mỹ). HIV
tấn công và tiêu huỷ dần các tế bào miễn dịch, làm suy giảm hệ thống miễn
dịch của cơ thể. Do hệ thống miễn dịch bị tổn thương, cơ thể không tự bảo vệ
chống lại các nhiễm trùng mà một người bình thường có thể chống đỡ được.
Các nhiễm trùng phổ biến mà những bệnh nhân AIDS thường mắc phải là lao,
viêm phổi, ỉa chảy, các bệnh nấm, zon...
AIDS không phải là một bệnh mà là một hội chứng, AIDS là giai đoạn
cuối của quá trình nhiễm HIV. Do hệ thống miễn dịch bị tổn thương, cơ thể
không tự bảo vệ trước các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc các biến đổi tế bào
mà một người bình thường có thể chống đỡ được. Những bệnh này là nguyên
nhân dẫn đến tử vong. Cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu hay
vacxin phòng, chống AIDS có hiệu quả [38], [45].
Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như dùng chung
bơm kim tiêm (BKT) và quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn [45].
Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp. Khi đưa vào cơ
thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý. Nếu
lạm dụng ma tuý, con người sẽ bị lệ thuộc vào nó. Ma tuý gây tổn thương,
nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.


16

Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện,
thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này. Những người sử dụng lặp đi
lặp lại nhiều lần chất ma tuý với liều ngày càng tăng dẫn đến trạng thái nhiễm
độc chu kỳ, mạn tính bị lệ thuộc thể chất, tâm thần vào chất đó [46], [58].
Nghiện chích ma tuý là những người đã từng sử dụng các loại ma tuý
không phải thuốc y tế kê theo đơn bằng cách tiêm/chích trong một tháng qua,
đang sống và sinh hoạt tại cộng đồng [46], [58].

nên có thể ảnh hưởng đến các loại đột biến kháng thuốc [38], [62], [108].
1.1.2.2. Đường lây truyền
Các nghiên cứu cho thấy: do phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịch
tiết từ âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ
thể. Mặc dù HIV có mặt ở mọi mô và dịch của người bị nhiễm, song tập trung
nhiều nhất trong máu và dịch tiết của cơ quan sinh dục. Chính vì vậy, HIV
chủ yếu lây qua 3 đường chính: đường máu, đường QHTD và đường mẹ sang
con [38].
* Lây truyền theo đường QHTD: Đây là phương thức lây truyền phổ
biến trên thế giới. Nguy cơ lây nhiễm HIV qua một lần giao hợp với một
người nhiễm HIV là từ 0,1% đến 1%. Nhiễm HIV có mối quan hệ chặt chẽ
với nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STIs), STIs làm tăng cảm
nhiễm và tăng nguy cơ lây nhiễm HIV [38], [62].
* Lây truyền theo đường máu: Nguy cơ lây truyền HIV qua đường
truyền máu rất cao, trên 90%. HIV cũng có thể truyền qua việc sử dụng chung
BKT với người bị nhiễm HIV mà không được tiệt trùng, nếu BKT đó lại được
dùng chung với một người khác thì máu của người nhiễm HIV sẽ đi thẳng vào
máu của người chưa nhiễm, ngay khi chỉ còn một lượng máu nhỏ sót lại trong
BKT và được tiêm trực tiếp cũng sẽ làm lây truyền HIV. Ngoài ra, HIV còn
lây truyền trong chăm sóc y tế (do dụng cụ không đảm bảo, lây truyền qua
việc cấy ghép các bộ phận của cơ thể và cho tinh dịch), qua các dịch vụ thẩm
mỹ (xăm, trổ), lây truyền từ bệnh nhân sang nhân viên y tế và đặc biệt ở
người nghiện chích ma túy (NCMT) [38].


18

* Lây truyền từ mẹ sang con: Sự lây truyền HIV có thể xảy ra trong thời
kỳ mang thai, trước và trong một thời gian ngắn sau đẻ. Theo kết quả nghiên
cứu trên thế giới; nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tùy từng

nhiễm HIV cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng lây truyền HIV: nguy cơ lây
nhiễm rất cao ngay sau khi nhiễm HIV (giai đoạn cửa sổ) và giai đoạn AIDS.
Ở giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng, nguy cơ lây nhiễm thấp hơn, số
lượng HIV giai đoạn này chỉ khoảng 20 - 40 vi rút/1ml máu [62].
+ Yếu tố hành vi: Vai trò của nam và nữ trong QHTD, sự chấp nhận của
xã hội về lối sống có nhiều bạn tình, phương thức sinh hoạt tình dục (miệng,
hậu môn) hay các phong tục xăm mình, xâu lỗ tai, TCMT... [62].
+ Yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội: Trình độ văn hóa, nhận thức, sự hiểu
biết về HIV/AIDS, tác hại ma túy, an toàn tình dục; yếu tố về kinh tế như
nghèo đói, không đủ nguồn lực để đương đầu với AIDS, mặt tiêu cực của
kinh tế thị trường; yếu tố về chính trị như thái độ của xã hội, luật pháp với các
nhóm nguy cơ cao; thái độ đối với giáo dục tình dục, với vị thế của người phụ
nữ trong xã hội, sự chấp nhận của xã hội với phương pháp xét nghiệm HIV
giấu tên và việc cho phép cung cấp BCS, BKT, điều trị cai nghiện bằng thuốc
thay thế... [48].
1.2. THỰC TRẠNG TIÊM CHÍCH MA TÚY VÀ HÀNH VI NGUY CƠ
LÂY NHIỄM HIV
1.2.1. Trên thế giới
Năm 1992, tiêm chích ma túy đã được báo cáo ở nhiều quốc gia và vùng
lãnh thổ trên toàn thế giới. Ở Châu Âu, trên 40% các trường hợp AIDS sống ở
12 nước cộng đồng Châu Âu là do TCMT [97]. Trong năm 2008, TCMT đã
được báo cáo ở 158 quốc gia. Ước tính có khoảng 11,6 triệu người hiện đang
TCMT trên toàn thế giới. Khoảng 80% những người TCMT sống ở các quốc
gia đang phát triển. Những người tiêm chích ma túy chủ yếu là nam giới dao
động từ khoảng 70 - 75% ở Châu Âu và Bắc Mỹ lên hơn 90% và trong nhiều
quốc gia ở Châu Á. Các vùng có số ước tính người tiêm chích ma túy cao
nhất, với những con số lớn nhất được báo cáo ở Nga, Trung Quốc và Ấn Độ


20

21

chích [80], [95].
Cận Sahara Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng dịch AIDS nặng nề
nhất. Trong năm 2007 đã có trên 75% người nhiễm HIV trên toàn cầu sống
trong khu vực này. Tiêm chích ma túy và sử dụng chung các dụng cụ tiêm
chích là nguyên nhân chính làm lây nhiễm HIV ở khu vực này [107], [112].
Đến năm 2010, Cận Sahara Châu Phi vẫn chiếm 70% các ca nhiễm HIV mới
và dịch tiếp tục xảy ra nghiêm trọng nhất là ở miền Nam Châu Phi, Nam Phi.
Tại hai khu vực này hiện có khoảng 5,6 triệu người sống chung với HIV
nhiều hơn bất kỳ tại quốc gia nào khác trên thế giới. Gần một nửa số ca tử
vong do các bệnh liên quan đến AIDS trong năm 2010 xảy ra ở Nam Phi.
AIDS đã cướp đi ít nhất một triệu người mỗi năm ở tiểu bang Sahara Châu
Phi kể từ năm 1998. Caribbean là nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao đứng thứ hai
sau cận Sahara Châu Phi, mặc dù dịch đã diễn biến chậm lại đáng kể từ giữa
những năm 1990. Ở khu vực Caribbean, số nhiễm HIV mới đã giảm một phần
ba từ năm 2001 và tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm khoảng 25% ở Cộng hòa
Dominica và Jamaica [104].
Ở Đông Âu và Trung Á, gần 90% số ca nhiễm HIV mới là từ hai quốc
gia: Cộng hòa Liên bang Nga (chiếm 66,0%) và Ukraine (chiếm 21,0%). Tại
những nơi khác; Azerbaijan, Georgia, Kyrgyzstan, Cộng hòa Moldova và
Uzbekistan số ca nhiễm HIV mới hàng năm cũng đang tăng. Trong số ca
nhiễm HIV mới năm 2006 có 62% là do TCMT và chỉ có 37% do QHTD.
Đông Nam Ukraine vẫn tiếp tục là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đặc
biệt tại các vùng Dnipropetrovsk, Donetsk, Mikolaiv, Odessa, Cộng hòa tự trị
Crimea, thủ đô Kiev. Trong các cuộc điều tra trọng điểm tại sáu thành phố
trong năm 2007, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm TCMT từ 10,0% ở Lugansk
lên đến 13,0% ở Kiev và 89% ở Krivoi Rog [106]. Theo báo cáo Tổ chức
phòng, chống AIDS Liên Hợp Quốc năm 2008, ở khu vực này 62% người
nhiễm HIV là do hành vi dùng chung BKT khi TCMT. Tại Nga tỷ lệ nhiễm

nhất ở Đông Bắc Ấn Độ. Tại Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV cũng chủ yếu trong
nhóm TCMT. Nghiên cứu ở Karachi cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm


23

TCMT đã tăng từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào tháng 3 năm 2005,
một số nghiên cứu khác cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã lên
tới 24% tại Quetta, 12% tại Sargodha, gần 10% tại Faisalabad [106]. Đến năm
2010, Châu Á vẫn là nơi có số người NCMT nhiều nhất, chiếm 1/4 số người
NCMT trên thế giới. Nguyên nhân chủ yếu của dịch HIV ở nhiều quốc gia
Châu Á là do sử dụng ma túy và 16% số người TCMT đang sống với HIV
[67]. Tại Thái Lan, một nghiên cứu ở 3 tỉnh/thành phố Bangkok, Chiang Mai
và Songkla cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV ở người TCMT là 21,9%, tỷ lệ sử dụng
BKT sạch là 77,8% và sử dụng BCS là 46,1% [94].
Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV ở một số quốc gia có giảm nhất định, nhưng số
người sống chung với HIV vẫn tiếp tục tăng trên thế giới. Năm 2005, có thêm
5 triệu ca nhiễm mới. Số người sống chung với HIV trên toàn cầu đã đạt mức
cao nhất với khoảng 40,3 triệu người vào năm 2002, tăng từ khoảng 37,5 triệu
vào năm 2003 [111]. Theo báo cáo toàn cầu năm 2006 dịch AIDS tiếp tục xấu
đi tại nhiều quốc gia. Ấn Độ là nơi có số lượng mắc AIDS nhiều nhất: 5,7
triệu vào năm 2005. Sub-Saharan Africa là nơi có tỷ lệ bình quân người bị
nhiễm HIV/AIDS cao nhất trên thế giới [105]. Năm 2009 ước tính Châu Á có
khoảng 4,9 triệu người sống chung với HIV. Ở nhiều khu vực trên thế giới, tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT đã tăng trên 40%. Người NCMT lại
thường xuyên có hành vi tình dục không an toàn và họ có rất nhiều bạn tình,
HIV lan truyền qua đường tình dục từ những người NCMT bị nhiễm HIV
sang các bạn tình của họ cũng đã trở thành một đường lây truyền quan trọng.
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa TCMT, mại dâm và các
hành vi tình dục có nguy cơ dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao trong số những

1.2.2. Tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến 30 tháng 6 năm 2015, trên toàn
quốc lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227114 người, số bệnh
nhân AIDS là 71115 và số tử vong 74442 người. So sánh với cùng kỳ năm
2014, số ca nhiễm HIV phát hiện của năm 2015 giảm 47% (1341 trường hợp);
số AIDS được phát hiện giảm 49% (797 trường hợp); số trường hợp tử vong


25

được phát hiện tăng gấp 2,2 lần (772 trường hợp). Trong số người nhiễm HIV
phát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%). Mặc dù trong
những năm gần đây lây truyền HIV qua đường tình dục ngày càng gia tăng
mạnh mẽ, lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý không an toàn vẫn là nguyên nhân
chủ yếu. Có gần 40% người được phát hiện nhiễm HIV là người tiêm chích
ma tuý. Rất nhiều trường hợp lây nhiễm qua đường tình dục là bạn tình của
người đã từng tiêm chích ma tuý. Vì vậy tiêm chích ma tuý không an toàn
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tiếp tục duy trì dịch HIV tại
Việt Nam. Mặt khác diễn biến của việc sử dụng ma tuý ở Việt Nam ngày càng
phức tạp trong đó việc sử dụng các chất ma tuý tổng hợp như ma tuý đá
(crystal methamphetamine), ecstasy hay ketamine là những chất có ảnh hưởng
lâu dài đến sức khoẻ (bao gồm nguy cơ lây nhiễm HIV do quan hệ tình dục
không an toàn) ngày càng trở nên phổ biến hơn trong giới trẻ ở các thành phố
lớn [21], [51]. Theo báo cáo của Bộ Công an, cả nước có trên 180000 người
nghiện, số người nghiện đang ở cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số người đang
cai nghiện trong các cơ sở Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội là 22,4%; số
đang trong các trại giam, trại tạm giam, Nhà tạm giữ là 13,1%. Tại Hà Nội, có
trên 10% số người nghiện có sử dụng ma túy tổng hợp như Amphetamin, hồng
phiến... Dự báo trong thời gian tới, tình hình và hoạt động của tội phạm ma
túy vẫn tiếp tục phức tạp và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status