Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Nguyễn Thị Vy
Văn 1B.
Đề tài: Tình yêu thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi .
I.
Đặt vấn đề
Muốn hiểu Nguyễn Trãi, nếu như ta chỉ đọc “Bình ngô đại cáo”, “Thư dụ
Vương Thông lần nữa”, “Hạ quy Lam Sơn”… thì dường như ta chỉ thấy được tác
giả là một bậc quân sư, một nhà chính trị kiệt xuất trên vũ đài chính trị; còn để
có cái nhìn toàn diện hơn về vị anh hùng, có lẽ phải đặt con người ấy trong
chính nhịp đập của cuộc sống đời thường, trong những tứ thơ viết về thiên
nhiên với muôn hình muôn vẻ của ông… ở thể loại này, thơ ông mới thực sự
đúng với con người thật của vị quân sư họ Nguyễn.
II.
Giải quyết vấn đề
Có thể nói thơ viết về thiên nhiên của các nhà thơ xưa bao giờ cùng có cả
cảnh lẫn tình. Nhưng tình và cảnh trong thơ Nguyễn Trãi nếu ta chỉ biết áp đặt
vào cái công thức “vịnh cảnh ngụ tình” một cách máy móc thì có lẽ thơ ông đã
bị cuốn phăng theo dòng thời gian cùng với vô số tác phẩm của các nhà thơ
thời ấy từ mấy trăm năm trước rồi. Cái đáng nói, đáng quý ở đây là tuy nằm
trong hệ thống văn chương qui phạm nhưng Nguyễn Trãi phần nào thoát khỏi
quỹ đạo của nó bằng chính cái tình của mình. Cái tình ấy đạt đến cái thật, cái
thiết tha trong sáng đến nỗi một khi đọc thơ ông, ta khó lòng quên được.
(Vân Đồn)
Dịch nghĩa:
Đường vào Vân Đồn núi non trùng điệp
Trời đất cao rộng rõ là cảnh diệu kỳ
Cả một mặt phẳng màu xanh biếc, nước trong như gương sáng
Hàng vạn ô màu huyền xanh như mái tóc rũ
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Vũ trụ bỗng thể hiện rõ ràng qua dáng núi và biển
Sóng gió chẳng lay chuyển được tâm can vững chắc
Nhìn vào thấy bờ cỏ màu lục xanh dờn
Thấy nói người thiểu số xưa từng đỗ thuyền trong vịnh.
Thiên nhiên thấm đẫm cảm xúc, tâm hồn thi nhân Nguyễn Trãi. Thiên
nhiên nước ta, qua con mắt nhà thơ Nguyễn Trãi, hiện lên rất đa dạng, sinh
động, có sức sống riêng. Đứng trước một cảnh vật, từ những cảnh tượng hùng
vĩ như Vân Đồn, cửa bể Bạch Đằng, cửa bể Thần Phù, đến những cảnh bình dị
như một ánh trăng, một buổi chợ, một bông hoa nở, một nõn chuối, một luống
mồng tơi, hay một tiếng chim kêu,... tất cả đều gợi lên trong tâm tưởng Ức Trai
những tứ thơ mênh mông, lai láng, những khoảnh khắc say sưa, nồng nhiệt.
Thật đúng là Nguyễn Trãi đã có một mối tình với thiên nhiên, như ông viết:
Cửa biển có núi tiên
Từng qua lại mấy phen
Cảnh tiên rơi cõi tục
Mặt nước nổi hoa sen
Bóng tháp hình trâm ngọc
Gương sông ánh tóc huyền
Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo
Bia khắc dấu rêu hoen
(Dục Thúy sơn).
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Có những khi thiên nhiên làm cho nhà thơ ngây ngất, cảm hứng của tác giả
càng dạt dào, mãnh liệt. Và, cũng như Lý Bạch (nhà thơ nổi tiếng đời Đường Trung Quốc), Nguyễn Trãi tha thiết với trăng. Trăng tạo nên tứ thơ phóng
khoáng, tự do, nâng tâm hồn nhà thơ lên đến tột đỉnh của cảm xúc:
Góc biển bên trời mặc ý ngao du
Trong cõi kiền khôn, đến đâu cũng phóng tầm mắt thơ
Hát chài cất lên ba lần, mặt hồ có khói thêm rộng mênh mông
Sáo mục đồng thổi lên một tiếng, mặt trăng trên không càng lên cao vút
Đêm thanh dựa vào khoảng không ngắm xem vũ trụ
Gió thu thổi thừa hứng cưỡi lên cá kình, cá ngao
Sau khi muôn việc đã thoáng quên
Lẽ màu nhiệm thật đáng đưa vào chén rượu đục
(Chu trung ngẫu thành).
một niềm vui thanh thoát, tế nhị, kín đáo mà tứ thơ rất mới lạ, đáng để chúng
ta ngày nay phải “giật mình”, kính nể. Ví như ông tả nõn chuối: Tình thư một
bức, phong còn kín/ Gió nơi đâu, gượng mở xem (Ba tiêu). Ở đây, trí tưởng
tượng của nhà thơ thật kỳ diệu.
Thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi thể hiện lòng lạc quan, yêu đời, yêu
cuộc sống của nhà thơ. Nó khẳng định chỗ đứng của Nguyễn Trãi ở giữa cuộc
đời, trong lòng nhân dân, không hề thoát tục. Thủ tướng Phạm Văn Đồng có
lần nói về Nguyễn Trãi: “Triết lí nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, cuối cùng chẳng
qua là lòng yêu nước thương dân…”, cho nên, khảo sát về thiên nhiên trong
thơ ông, thiết nghĩ, ta chỉ nên tìm hiểu cái chất phong tình và lòng yêu nước
thương dân của tác giả lồng vào nhau, là một mà thôi.“Cảnh ngụ trong tình” –
nếu tình là lòng yêu nước thương dân thì có lẽ cái tình ấy chỉ thực sự được
nắm bắt khi đã thông qua cảnh.
Cảnh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, trước hết, cần nói rằng chính là
cảnh được nhìn dưới đôi mắt của một nhà nghệ sĩ. Con người nghệ sĩ ấy đã mở
rộng tâm hồn để đón nhận thiên nhiên, thâm nhập vào thiên nhiên và hòa
mình trong thiên nhiên bằng trái tim hết sức nhạy cảm, đa tình và bằng cái chất
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
phong tình sẵn có cho nên cảnh của ông luôn độc đáo, đặc sắc và khác người
cũng là một điều rất dễ hiểu. Nó trở thành cảnh của riêng ông, của riêng
Nguyễn Trãi.
Không có cái chất phong tình, không có một đôi mắt của một nhà nghệ sĩ thì
Xuân Diệu có lần đã nói đùa: “Với cây chuối, Nguyễn Trãi xứng đáng được kết
nạp là một Đoàn viên Thanh niên đầu tiên của nước Việt Nam” và ta có thể nói
thêm: đó cũng là Cây chuối – là một tạo vật tồn tại, là một thanh niên của riêng
Nguyễn Trãi mà thôi.
Thông thường mà nói thì lòng yêu nước thường bắt nguồn từ lòng yêu thương
thiên nhiên với những sự vật nhỏ nhặt, ngờ như không đâu của chính quê
hương đất nước mình. Lòng yêu nước, yêu thương con người của Nguyễn Trãi
cùng bắt nguồn từ những tình cảm như vậy. Đó là đặc điểm đáng quí, đáng trân
trọng trong thơ thiên nhiên của ông. Ồng đã thấy, đã yêu dậu mồng tơi, hàng
dâm bụt đến cả cây mía, cây chuối – những sự vật thuần túy Việt Nam, cho nên
có thể nói tâm hồn ông, con người ông cũng là một con người – một tâm hồn
thuần túy Việt Nam. Có ý kiến cho rằng, bài thơ “Cây chuối” cái hay nằm ở hai
câu cuối:
“Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem”.
Bởi nó là một cảm xúc độc đáo, một phát hiện rất mới mẻ ở sự vật
nhưng theo tôi thì cái hay của bài thơ lại năm ngay đầu đề của nó. “Cây chuối”
— tuy nó gần gũi, nó quen thuộc đó nhưng nếu không nhìn được nó, không
yêu nó thì Ức Trai làm gì có cái nhìn độc đáo, mới lạ kia? Nhưng để nhìn ra cây
chuối mà thấy cái đẹp của nó thì nhất thiết Nguyễn Trải phải gắn bó, phải yêu
quê hương, đất nước ông với một tình yêu mãnh liệt, sâu đậm lắm. Cho nên,
con người ấy đâu cần sử dụng cái công thức rập khuôn “sông, tuyết, hoa” của
tận đất nước Trung Hoa như phần lớn các nhà thơ lúc bấy giờ. Ông đã đứng
trên đất nước mình bằng đôi chân của mình, tìm thấy cái đẹp ngay trên quê
hương của mình và từ đó trở thành một danh nhân của nhân loại. Chính lòng
yêu nước buộc ông phải phá rào văn chương qui phạm và cũng chính lòng yêu
nước đã nâng con người ấy lên tầm cỡ nhân loại.
Có thể nói phần lớn các bài thơ viết về thiên nhiên đều được sáng tác trong
thời gian Nguyễn Trãi ở ẩn, cho nên cảnh trong thơ ông thường buổn là một
điều dễ hiểu. Nhưng cái đáng nói là dù cảnh có vui, buồn đến đâu nhưng con
dựng nên một kiểu nhà nho – nghệ sĩ đích thực, khi tâm hồn ông hoà quyện với
từng vẻ đẹp đất nước, rung động trước non nước mây trời, cỏ cây hoa lá để
người đời sau hình dung đầy đủ diện mạo của con người có tấm lòng sáng tựa
“sao Khuê buổi sớm” ấy. Lúc làm quan giữa triều, khi về ở ẩn sống đời thanh
bần giữa núi rừng, dù ở đâu thiên nhiên vẫn chiếm một địa vị quan trọng, một
người bạn tâm giao để Nguyễn Trãi kí thác nỗi lòng luôn quặn thắt những ưu tư
thời thế:
Non cao non thấp mây thuộc
Cây cứng cây mềm gió hay
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết
Bui một lòng người cực hiểm thay
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Đề tài thiên nhiên trong thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi vô cùng
phong phú như phản chiếu cuộc đời lắm thăng trầm của chính ông. Nếu như
trong thơ chữ Hán, ta gặp nhiều địa danh gắn với quãng đời sôi nổi, với hoài
bão “ trí quân trạch dân”, với tầm nhìn bao quát lịch sử, chiêm nghiệm thời thế
một cách cụ thể thì ở thơ chữ Nôm lại là những cảm xúc tinh lọc thăng hoa
trong những đề tài tưởng như mòn cũ vì ước lệ “ tùng, trúc, cúc, mai “, “
phong, hoa tuyết, nguyệt”. Nhưng dù cho đề tài cụ thể hay trừu tượng thì
Nguyễn Trãi đều thể hiện con người đầy cá tính của ông một cách rõ nét trước
thiên nhiên. Cảm hứng bao trùm trong những bài thơ chữ Hán viết về thiên
nhiên phải chăng có thể khái quát trong hai câu thơ này của Nguyễn Trãi :
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc
Anh hùng hữu hạn diệp tiêu tiêu
Cảnh ấy, tình ấy gắn với niềm tự hào dân tộc lớn lao, bởi những danh
thắng cũng đồng thời gắn với những anh hùng mà bản thân nhà thơ ngưỡng
vọng : Thần Phù là nơi anh hùng Hồ Quí Ly chống sự xâm lăng của vua Chiêm
Chế Bồng Nga, Vân Đồn vang danh chiến công của Trần Khánh Dư và bao triều
đại anh hùng vùi thây quân giặc cướp trên sóng Bạch Đằng. Nhưng đồng thời,
Nguyễn Trãi còn nhận ra những mối tương quan trời đất và con người khi suy
ngẫm trước cảnh trời đất vô cùng, để ngậm ngùi cho mối hận anh hùng, để suy
ngẫm về gốc rễ vững bền của đất nước:
Phúc chu thủy tín dân do thuỷ
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỉ thiên niên
(Quan hải)
Có lẽ chưa ai nhìn thiên nhiên đất trời mà luận anh hùng sâu sắc như
Nguyễn Trãi, anh hùng là phẩm chất cá nhân, nhưng muốn thành nghiệp lớn
phải gắn với nhân dân như thuyền với nước.
Tiếp xúc với thiên nhiên trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi
tập, chúng ta có thể nhận thấy ý kiến đánh giá của PSG.TS Lã Nhâm Thìn thật
xác đáng: đó là một thiên nhiên kỳ vĩ, hoành tráng nhưng cũng đồng thời mỹ lệ,
thi vị; thiên nhiên gắn với những địa danh như một cuốn nhật kí gắn với cuộc
đời phong phú từng trải của Nguyễn Trãi; qua đó ta nhận ra một tâm hồn cao
rộng, khoáng đạt, phong tình và tinh tế.
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Phần lớn những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về thiên nhiên bằng chữ
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
đầy những hoài bão hướng về cuộc đời trăn trở niềm “tiên ưu”. Cuộc sống
thanh bình của dân gian cũng tạo nên niềm vui giúp ông vượt lên nỗi niềm
riêng:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ, khắp đòi phương
(Bảo kính cảnh giới, 43)
Thiên nhiên đến với nhà thơ trong tư cách “Núi láng giềng, chim bầu
bạn, mây khách khức, nguyệt anh tam”, nên ông cũng thả lòng mình thật tự
nhiên không rào đón. Nếu như đọc thơ chữ Hán, ta đã gặp một Nguyễn Trãi với
Côn Sơn ca thật tiêu dao:
Côn Sơn hữu tuyền
Kỳ thanh linh linh nhiên
Ngô dĩ vi cầm huyền
Côn Sơn hữu thạch
Vũ tẩy đài phô bích
Ngô dĩ vi đạm tịch
Nham trung hữu tùng
Vạn cái thuý đồng đồng
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung…
Thì trong thơ chữ Nôm, ông còn thoải mái viết những câu vượt ra khỏi mọi
ràng buộc câu thúc lễ nghi để thật sự hoà đồng cùng cây cỏ đất trời:
Già chơi dầu có của no dùng,
Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng.
Người đọc có thể hình dung một Nguyễn Trãi “Cơm ăn chẳng quản dưa muối –
Áo mặc nài chi gấm thêu” giữa một thiên nhiên rất giàu cảm xúc và đậm nét
đời thường:
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao.
Tên Sinh viên: Nguyễn Thị Vy
Lớp văn 1B
Trường đại học sư phạm Huế
Cách song mai tỉnh hồn Cô Dịch ,
Kề nước cầm đưa tiếng Cửu Cao
Khách đến vườn còn hoa lạc,
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào.
Cảnh thanh dường ấy chăng về nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào
(Mạn thuật, 35)
Bản thân nhà thơ dẫu chán ngán cảnh quan trường, nhưng không hề run
sợ khuất phục trước cường quyền, không phải lánh đời theo triết lý “độc thiện
kỳ thân” mà chính thiên nhiên tiếp cho ông sức mạnh, tìm ra cách ứng xử với
bọn quyền thần một cách đầy dũng khí. Thiên nhiên ấy hun đúc nên một
Nguyễn Trãi đầy khí phách:
Mai chăng bẻ thương cành ngọc,
Trúc nhặt vun tiếc cháu rồng
Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
(Ngôn chí,50)
III.