HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG
-----------------------------------
NGUYỄN TUẤN ANH
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG MARKETING ĐỐI VỚI KÊNH THỂ THAO TV
TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:
60.34.01.02
ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
HÀ NỘI – 2015
i
2
Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
Phản biện 1: PGS.TS Pham Thúy Hồng
Phản biện 2: TS. Phạm Văn Giáp
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công
thuê bao truyền hình trả tiền 2013 (6.679.646 thuê bao) giảm mạnh so với năm 2012
(9.025.000 thuê bao), giảm khoảng 26% tương ứng với 2.345.354 thuê bao. Mặc dù
số thuê bao truyền hình trả tiền giảm nhưng số thuê bao truyền hình cáp năm 2013
(5.572.772 thuê bao), tăng so với năm 2012 khoảng 20,8% tương đương với
1.160.772 thuê bao. Trong khi đó, số thuê bao truyền hình số mặt đất giảm mạnh từ
3.640.000 thuê bao (2012) còn 120.000 thuê bao (2013) và số thuê bao truyền hình
số vệ tinh tăng nhẹ từ 973.000 thuê bao (2012) lên 986.874 thuê bao (2013). Như
vây, có thể coi truyền hình cáp là hình thức chủ yếu của dịch vụ truyền hình trả tiền
tại Việt Nam, doanh thu năm 2013 là 227,47 triệu USD so với tổng doanh thu của
truyền hình trả tiền là 276,43 triệu USD.
Doanh thu của truyền hình cáp năm 2013 (227,47 triệu USD) tăng khá cao so
với năm 2012 (193,74 triệu USD), đồng thời với số lượng là 33 nhà cung cấp dịch
vụ truyền hình cáp tại Việt Nam đã chứng tỏ thị trường truyền hình cáp khá hấp dẫn
2
để các doanh nghiệp tấn công vào thị trường này. Thị phần của VTVCab chiếm
32,30% năm 2013, chỉ đứng sau SCTV (34,20%) nhưng bỏ rất xa các đối thủ khác.
Mặc dù thị phần của VTVCab trên thị trường truyền hình cáp khá cao nhưng với
mục tiêu là trở thành nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền số 1 tại Việt Nam thì
VTVCab vẫn chưa làm được. Đồng thời việc các công ty viễn thông, internet chen
chân vào truyền hình truyền thống, sản xuất chương trình, đẩy mạnh dịch vụ truyền
hình xem lại trên internet (iPTV), số hóa nội dung đưa lên web hay di động, đã vô
tình gây ra áp lực rất lớn cho VTVCab trong việc cung cấp dịch vụ truyền hình cáp
của mình. Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà cung cấp thiết bị cũng tham gia số hóa
nội dung để dịch chuyển từ web sang TV, điều này cũng đã gây ra áp lực cạnh tranh
khá lớn cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình cáp, trong đó có
VTVCab.
Đứng trước thực trạng đó, VTVCab cần có các giải pháp để cạnh tranh với
đắc lực cho các chiến lược marketing hỗn hợp của doanh nghiệp. Chính vì sự quan
trọng này mà truyền thông marketing không những được các nhà nghiên cứu
marketing quan tâm mà còn là chủ đề nghiên cứu của rất nhiều các luận án tiến sĩ,
luận văn cao học tại Việt Nam
Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã đề cập đến hoạt động truyền thông
marketing tại Việt Nam như Nguyễn Viết Lâm (2013) đã nghiên cứu các giải pháp
để tăng cường hoạt động truyền thông marketing tích hợp (IMC) cũng như lý giải
vai trò quan trọng của truyền thông marketing tích hợp; Nguyễn Đình toàn và Vũ
Minh Đức (2014) đã đo lường hiệu quả của hoạt động PR (quan hệ công chúng) và
đưa ra những khuyến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thực
hiện quan hệ công chúng; Bùi Anh Tuấn và Nguyễn Tuyết Mai (2014) đã nghiên
cứu về marketing quan hệ trong thị trường B2B; Lê Thị Lan Hương (2012) đã
nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông marketing đối với
các doanh nghiệp tại Việt Nam, Nguyễn Thiện (2013) nghiên cứu hoạt động truyền
thông marketing đối với dịch vụ học trực tuyến tại công ty trách nhiệm hữu hạn trí
tuệ nhân tạo artificial intelligence… Các nghiên cứu trên cung cấp một số thông tin
về lý thuyết cũng như thực tiễn một số hoạt động truyền thông Marketing tại Việt
Nam..
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến
truyền thông marketing nhưng hiện nay có rất ít các luận văn nghiên cứu về truyền
thông marketing trong lĩnh vực truyền hình. Một số công trình nghiên cứu, nếu có
đề cập đến lĩnh vực truyền hình, thì cũng chỉ tập trung vào một vài khía cạch khác
với truyền thông marketing, như Phạm Thị Thanh Hương (2014) nghiên cứu về
kênh phân phối đối với dịch vụ truyền hình qua giao thức IP của Công ty phần mềm
và truyền thông VASC đối với dịch vụ MYTV hay Hoàng Thu Lý (2014) nghiên
cứu về hệ thống Marketing hỗn hợp đối với dịch vụ Mobile TV của Công ty phần
mềm và truyền thông VASC….
Từ thực trạng trên có thể thấy, vấn đề truyền thông marketing trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt, với Kênh thể thao
truyền thông Marketing trong doanh nghiệp. Mục tiêu của việc tổng quan nghiên
cứu là cung cấp cho tác giả có được các kiến thức nền tảng về truyền thông
marketing. Đây cũng là khung lý thuyết để tác giả so sánh giữa lý thuyết và thực
trạng hoạt động truyền thông của VTVcab đối với Kênh thể thao TV, tạo tiền đề để
đưa ra các giải pháp sau này.
Hai là, nghiên cứu thực trạng hoạt động truyền thông marketing của VTVcab
đối với Kênh thể thao TV dựa chủ yếu vào dữ liệu thứ cấp và sơ cấp định tính. Việc
5
nghiên cứu này sẽ cung cấp cho tác giả những dữ liệu thực tế để mô tả hoạt động
truyền thông marketing của VTVcab đối với Kênh thể thao TV.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động truyền thông Marketing của Tổng Công ty
truyền hình cáp Việt Nam đối với kênh thể thao TV.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động truyền thông
Marketing cho Kênh thể thao TV của Tổng Công ty truyền hình cáp Việt
Nam tới các khách hàng mục tiêu và công chúng trên phạm vi toàn quốc, dựa
trên các thông tin sơ cấp và thứ cấp thu được trong giai đoạn từ 2010 – 2015.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các
phương pháp khác nhau để tiếp cận với lý thuyết truyền thông Marketing và với
thực tiễn hoạt động truyền thông Marketing của VTVcab đối với Kênh thể thao TV.
Cụ thể là:
Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập những tài liệu lý thuyết nổi bật về
truyền thông Marketing để xây dựng lý thuyết về truyền thông Marketing. Đồng
thời, thu thập các thông tin về hoạt động truyền thông Marketing của VTVcab đối
với Kênh thể thao TV như kết quả hoạt động kinh doanh, hoạt động truyền thông
Marketing của VTVcab….
tiếp cận mà truyền thông marketing được các tác giả định nghĩa theo những cách
khác nhau. Tuy nhiên các tác giả này tiếp cận truyền thông theo những cách khác
nhau cho nên những khái niệm này chưa thống nhất với nhau, nhưng phần lớn các
khái niệm này đều chỉ ra rằng truyền thông marketing là một quá trình truyền đạt
thông tin giữa người nhận và người gửi tin. Trong phạm vi luận văn này, chúng ta
có thể hiểu khái niệm truyền thông marketing như sau:
“Truyền thông marketing là một quá trình tương tác thông tin một cách trực
tiếp hay gián tiếp giữa người gửi và người nhận tin để tìm kiếm một điểm chung
giữa họ nhằm thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích riêng của họ”.
Nhìn chung, truyền thông marketing được hiểu là hoạt động truyền thông tin
marketing của một cá nhân hay một tổ chức đến công chúng mục tiêu. Tuy nhiên,
theo nghĩa rộng truyền thông marketing còn được hiểu là hoạt động truyền đưa
thông tin về sản phẩm, dịch vụ, tạo thiện cảm và thuyết phục đối với các nhóm
người gây ảnh hưởng của doanh nghiệp ngoài khách hàng như nhà cung cấp, giới
tài chính hay bạn bè, người thân của khách hàng mục tiêu...
1.1.2. Vai trò
Bowersox và Morash (1989) đã chứng minh làm thế nào các hoạt động
marketing diễn ra, bao gồm cả các hoạt động truyền thông, có thể được tái hiện như
một mạng lưới mà mục đích duy nhất là làm hài lòng nhu cầu và mong muốn của
khách hàng. Truyền thông đóng một vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của
doanh nghiệp. Ở mức độ cơ bản, truyền thông có vai trò như:
7
Nó có thể thông báo và làm cho khách hàng tiềm năng nhận thức một lời
chào bán của một tổ chức.
Truyền thông thể hiện các nỗ lực để thuyết phục khách hàng hiện tại và
khách hàng tiềm năng về mong muốn tham gia vào mối quan hệ trao đổi.
Truyền thông cũng có thể được sử dụng để củng cố kinh nghiệm. Điều
8
mục tiêu chung của tổ chức cũng như các nhu cầu trước mắt của các nhà marketing
để giao tiếp với một thị trường.
Hình 1.1. Mô hình truyền thông marketing của Smith và cộng sự (1997)
Mô hình truyền thông của Smith và cộng sự (1997) giúp doanh nghiệp có cái
nhìn toàn diện về hoạt động truyền thông của doanh nghiệp cũng như các phương
thức thực hiện hoạt động truyền thông của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan.
1.1.4. Vấn đề đạo đức trong truyền thông Marketing
a. Tổng quan về đạo đức trong truyền thông marketing
Đạo đức là các tiêu chuẩn về cách hành xử chi phối tư cách của các cá nhân,
nhóm các tổ chức kinh doanh. So với các chức năng khác thì marketing nói chung
và truyền thông nói riêng là một lĩnh vực có nhiều khả năng phát sinh các vấn để về
đạo đức. Các nguyên tắc đạo đức hoạt động như một chiếc máy lọc dầu trong cỗ
máy marketing: chúng lọc các tạp chất để dầu có thể làm cho cỗ máy hoạt động. Tất
cả các doanh nghiệp cần những nguyên tắc đạo đức để lọc bỏ bản chất không tốt
của thương trường cạnh tranh để có thể nhắm đến, thu hút và giữ chân những khách
hàng tốt cho công ty.
b. Ảnh hưởng của truyền thông marketing đối với xã hội
Truyền thông marketing nói chung, quảng cáo nói riêng là một lĩnh vực nhất
định có ảnh hưởng đến nhận thức xã hội. Những poster, billboard giăng đầy đường
phố hoặc khi truy cập Internet là đụng ngay hàng loạt thư quảng cáo mời chào hay
những đoạn phim quảng cáo chen ngang các chương trình yêu thích trên truyền
9
(2003) hỗn hợp truyền thông marketing bao gồm năm công cụ chính:
Quảng cáo: Bất kỳ hình thức thanh toán của một bài trình bày không phải
của cá nhân và thúc đẩy các ý tưởng, hàng hóa hoặc dịch vụ theo một nhà
tài trợ xác định.
10
Xúc tiến bán: Một loạt các ưu đãi ngắn hạn để khuyến khích dùng thử
hoặc mua một sản phẩm hoặc dịch vụ.
Quan hệ công chúng: Một loạt các chương trình được thiết kế để thúc
đẩy hay bảo vệ hình ảnh của một công ty hay sản phẩm riêng biệt của nó.
Marketing trực tiếp: Sử dụng mail, điện thoại, fax, e-mail, hoặc Internet
để giao tiếp trực tiếp với hoặc trưng cầu đáp ứng hay đối thoại từ khách
hàng và khách hàng tiềm năng cụ thể.
Bán cá nhân: tương tác mặt đối mặt với một hoặc nhiều người mua tiềm
năng cho mục đích làm cho các bài thuyết trình, trả lời các câu hỏi, và
mua sắm các đơn đặt hàng.
Belch và Belch (2003) cũng đưa ra quan điểm về các công cụ truyền thông
marketing hỗn hợp, theo đó hai ông đã cho rằng các công cụ của truyền thông hỗn
hợp cần có thêm thành tố “Truyền thông trên Internet” (Internet marketing).
Để truyền thông đến khách hàng mục tiêu, doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ
truyền thông khác nhau dựa trên những đặc điểm của từng công cụ.
1.2.1. Quảng cáo
a. Khái niệm và mục tiêu quảng cáo
Theo Hiệp Hội tiếp thị Hoa Kỳ AMA (American Marketing Association),
quảng cáo là những hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, sản
phẩm hay dịch vụ được người bảo trợ nhất định trả tiền.
b. Đặc điểm của hoạt động quảng cáo
Do có nhiều hình thức và cách sử dụng quảng cáo, nên chúng ta khó có thể
đáp ứng mạnh hơn và nhanh chóng hơn. Nếu như quảng cáo nêu ra lý lẽ nhằm
thuyết phục mua hàng, thì xúc tiến bán hàng lại đưa ra các hình thức khuyến khích
khách hàng cuối cùng mua hàng, và khuyến khích các trung gian bán hàng.
b. Đặc điểm
Theo Belch và Belch (2003), xúc tiến bán được chia ra làm hai loại chủ yếu
sau: hoạt động kích thích hướng đến khách hàng và hoạt động kích thích hướng đến
trung gian phân phối.
1.2.3. Quan hệ công chúng
a. Khái niệm
Quan hệ công chúng là các hoạt động truyền thông gián tiếp của doanh nghiệp
nhằm gây thiện cảm của công chúng với doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ của
doanh nghiệp đó.
b. Các hình thức của quan hệ công chúng
Quan hệ với công chúng được thực hiện dưới nhiều hình thức như bản tin, báo
cáo hàng năm của công ty, các hoạt động tài trợ, từ thiện, vận động hành lang, tổ
chức sự kiện…
c. Các đặc điểm cơ bản của quan hệ công chúng
Không giống như quảng cáo, xúc tiến bán hay marketing trực tiếp, quan hệ
công chúng có những đặc trưng cơ bản sau:
-
Một là, tín nhiệm cao
-
Hai là, không cần cảnh giác
-
Ba là, giới thiệu cụ thể
c. Tầm quan trọng của bán hàng cá nhân
Ngày nay, bán hàng cá nhân là một công đoạn quan trọng của hoạt động
truyền thông marketing. Chính vì vậy mà có nhiều tập đoàn đa quốc gia trên thế
giới, kể cả những doanh nghiệp nhỏ cũng đã chi ra một số tiền rất lớn để thiết lập,
đào tạo và quản lý lực lượng bán hàng cá nhân. Và hằng năm, họ đã thu về cho tổ
chức của mình một nguồn lợi nhuận vô cùng to lớn.
1.2.6. Truyền thông trên internet
Viễn cảnh nổi bật cho Internet là nó sẽ trở thành một phương tiện quảng cáo,
khi mà ngày càng nhiều các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm và dịch vụ trên các
websites của các công ty hoặc doanh nghiệp khác. Hiện nay, Internet đang là
phương tiện truyền thông được sử dụng để tiến hành triển khai tất cả các yếu tố của
truyền thông marketing..
1.3. Lập kế hoạch truyền thông Marketing
Philip Kotler (2003) đã đưa ra quan điểm về các bước trong kế hoạch truyền
thông marketing và được coi là kế hoạch truyền thông mang lại hiệu quả cao, được
13
sử dụng phổ biến trong công tác lập kế hoạch truyền thông của các doanh nghiệp.
Kế hoạch truyền thông marketing bao gồm 8 bước chủ yếu sau đây:
Hình 1.2. Kế hoạch truyền thông marketing của Philip Kotler (2003)
Tuy nhiên, việc quản lý và phối hợp toàn bộ quá trình truyền thông cần thực
hiện trong toàn bộ quá trình thực hiện, nó mang bản chất là yếu tố trợ giúp. Do đó,
thực chất kế hoạch truyền thông gồm 7 bước.
1.3.1. Xác định công chúng mục tiêu
Quá trình truyền thông phải bắt đầu với công chúng mục tiêu rõ ràng. Công
chúng mục tiêu là những người mua tiềm năng của sản phẩm của công ty, khách
hàng hiện tại, người quyết định, hoặc người ảnh hưởng đến quyết định mua; cá
16
tục nhằm tối đa hóa tác động đối với khách hàng hay công chúng mục tiêu với chi
phí tối thiểu.
1.4.2. Vai trò và đặc trưng của IMC
a. Vai trò
Vai trò của truyền thông marketing tích hợp (IMC) bao gồm:
Thứ nhất là công cụ thực hiện chức năng truyền thông, đáp ứng nhu cầu
khách hàng.
Thứ hai là phối hợp với các công cụ khác trong marketing mix để đạt
mục tiêu marketing
Thứ ba là công cụ cạnh tranh trong kinh doanh: gia tăng giá trị sản phẩm,
thông tin, xây dựng nhận thức về sản phẩm, nâng cao uy tín nhãn hiệu,
duy trì niềm tin, thái độ tốt đẹp của công chúng về công ty…
b. Các đặc trưng của IMC
Truyền thông marketing hợp nhất (IMC) có 2 đặc trưng cơ bản là tính liên tục
và tính định hướng chiến lược (Joseph Sirgy, 2004).
Thứ nhất là tính liên tục
Thứ hai là tính định hướng chiến lược
1.4.3. Sự cần thiết của việc áp dụng IMC trong các doanh nghiệp
IMC là ý tưởng theo đó công ty phối hợp tất cả các hoạt động truyền thông
của mình. Điều này rất quan trọng bởi vì nhiều công ty thường hài lòng với việc để
cho một công ty quảng cáo lo phần quảng cáo cho mình. Công ty giao công tác
quan hệ công chúng (PR) cho một công ty PR làm. Phòng marketing của công ty lo
xử lý chương trình khuyến mãi. Kết quả là bộ phận quảng cáo của công ty đi theo
hướng này, quan hệ với công chúng và các chương trình khuyến mãi lại đi theo một
hướng khác. Do vậy hiệu quả tổng hợp từ truyền thông marketing của công ty bị
ảnh hưởng lớn.
Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty truyền hình cáp Việt Nam được thiết kế theo
mô hình của một Tổng công ty bao gồm: ban lãnh đạo (chủ tịch, tổng giám đốc và
các phó tổng giám đốc), các phòng ban và các chi nhánh. Giữa các phòng ban có sự
kết hợp trong công việc nhằm đảm bảo việc thực hiện cung cấp dịch vụ tới khách
hàng.
Một số kết quả hoạt động kinh doanh
18
Trong những năm qua ngành truyền hình trả tiền Việt Nam đã có những bước
phát triển vượt bậc, truyền hình trả tiền của VTVcab cũng tự hào đã góp phần
không nhỏ trong sự phát triển chung đó. Trong những năm vừa qua, VTVcab đạt
được một số thành tựu nhất định.
b. Kênh thể thao TV
Kênh thể thao TV được phát song thông qua kênh VTVcap 3 của Tổng Công
ty truyền hình cáp Việt Nam, là kênh chuyên biệt về thể thao nhằm thoả mãn mọi
đối tượng, mọi sở thích cho khách hàng ở tất cả các lĩnh vực thể thao khác nhau.
Kênh Thể thao TV giúp người xem tiếp cận với các môn thể thao đa dạng như bóng
đá, tennis, quần vợt, golf, đua xe, cầu lông, cầu mây, bóng bàn… Cho đến thời điểm
này, Thể thao TV cũng là kênh truyền hình duy nhất ở Việt Nam sở hữu bản quyền
các giải đấu lớn như Mỹ mở rộng, Pháp mở rộng…cũng như thực hiện việc bình
luận trước và sau trận đấu ở các giải đấu này, điều chỉ thấy trong mỗi trận bóng đá
trên truyền hình. Điều này đã giúp VTVcap trong việc xây dựng một kênh truyền
hình thể thao có màu sắc, cá tính riêng có sức hấp dẫn đặc biệt trong hệ thống
Truyền hình trả tiền tại Việt Nam, đem đến cho khán giả cái nhìn toàn diện nhất, sôi
động nhất về các sự kiện, các giải đấu thuộc các bộ môn thể thao trong nước và
quốc tế.
2.1.2. Sơ lược về hoạt động truyền thông marketing của Tổng Công ty truyền
hình cáp Việt Nam
c. Thông điệp truyền thông
Kênh thể thao TV hướng tới một kênh truyền hình thể thao có màu sắc, cá tính
riêng có sức hấp dẫn đặc biệt trong hệ thống Truyền hình trả tiền tại Việt Nam, đem
đến cho khán giả cái nhìn toàn diện nhất, sôi động nhất về các sự kiện, các giải đấu
thuộc các bộ môn thể thao trong nước và quốc tế. Với mong muốn như vậy,
VTVcab xây dựng thông điệp “Sống và đam mê với thể thao” để truyền thông tới
công chúng của mình.
d. Lựa chọn kênh truyền thông
Căn cứ để lựa chọn kênh truyền thông cho Kênh thể thao TV của VTVCab
dựa trên đặc điểm của đối tượng nhận tin, mục tiêu truyền thông và thông điệp
truyền thông. Bảng 2.5 mô tả kênh truyền thông được sử dụng dựa trên căn cứ đối
tượng nhận tin như sau:
Bảng 2.2. Đối tƣợng, mục tiêu và kênh truyền thông đƣợc sử dụng
Mục tiêu
Kênh truyền thông sử dụng
Đối tƣợng
khán giả
truyền hình
yêu thích
thể thao
tăng cường nhận thức và sự yêu Kênh truyền thông được Công ty
thích của khán giản để duy trì và lựa chọn bao gồm: quảng cáo,
nâng cao số lượt theo dõi các khuyến mại và bán hàng cá nhân.
chương trình của Kênh thể thao
TV ở mức rating là 30%.
Đối tƣợng
phản hồi của người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để đánh giá và điều chỉnh các
hoạt động truyền thông.
Đối với đối tượng là doanh nghiệp và tổ chức, doanh thu của các chương trình
được bán và số lượng doanh nghiệp đặt quảng cáo và tài trợ được coi là chỉ tiêu để
đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông.
2.1.2. Qui trình thực hiện hoạt động truyền thông marketing
Sau khi xây dựng được kế hoạch marketing, nội dung thực hiện từng phần
trong kế hoạch sẽ được chuyển sang các trung tâm, phòng ban khác nhau để cùng
thực hiện.
2.3. Thực trạng các công cụ truyền thông marketing đƣợc sử dụng đối với
Kênh Thể thao TV
2.3.1. Quảng cáo
a. Hoạt động quảng cáo thông qua Kênh thể thao TV và hệ thống kênh của
VTVcab
b. Hoạt động quảng cáo trên Internet
21
c. các hoạt động quảng cáo khác
2.3.2. Quan hệ công chúng
Quan hệ với báo chí và cung cấp thông tin cho các phương tiện truyền thông
bằng cách thông qua họp báo và thông báo trên website để giới thiệu các giải đấu
thể thao đã được VTVcab mua bản quyền như giải Ngoại hạng Anh nhằm phục vụ
nhu cầu thưởng thức bóng đá của khán giả hâm mộ trên Kênh thể thao TV. Ngoài
ra, VTVcab còn tham gia và tổ chức các sự kiện như tham gia tài trợ hoặc đồng tài
trợ cho các chương trình.
2.3.3. Xúc tiến bán
Khuyến mại là một trong những yếu tố then chốt trong kế hoạch marketing
nên VTVcab thường xuyên đưa ra những đợt khuyến mại để kích cầu khách hàng.
Chiến lược hoạt động kinh doanh của VTVcab trong từ năm 2015 đến 2018 là
mở rộng hạ tầng, phát triển thuê bao, nâng cao chất lượng nội dung các chương
trình truyền hình, ứng dụng các công nghệ mới trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật
mạng, kỹ thuật truyền dẫn phát sóng, quản trị điều hành doanh nghiệp và sau đó,
VTVcab củng cố, giữ vững và luôn luôn là đơn vị số 1 trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ truyền hình trả tiền.
3.2. Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động truyền thông Marketing của Tổng
Công ty truyền hình cáp Việt Nam đối với Kênh thể thao TV
Xuất phát từ hạn chế trong hoạt động truyền thông marketing hiện tại cũng
như định hướng phát triển của VTVcab trong tương lai, trong phần nội dung của
chương III, tác giả xin đề xuất một số giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt
động truyền thông marketing tại VTVcab.
3.2.1. Về công tác lập kế hoạch hoạt động truyền thông
Trong công tác lập kế hoạch hoạt động truyền thông tại VTVcab, có 2 điểm
hạn chế cần phải khắc phục là quyết định ngân sách và đánh giá hoạt động truyền
thông.
a. Quyết định ngân sách
b. Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông
23
3.2.2. Về quy trình thực hiện hoạt động truyền thông marketing
Trong quy trình thực hiện hoạt động truyền thông, ngoài việc phối hợp thực
hiện hoạt động giữa các phòng ban thì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng cần
được chú trọng và đẩy mạnh.
3.2.3. Các giải pháp khác
Ngoài giải pháp chiến lược tập trung giải quyết những hạn chế chính còn tồn
tại trong hoạt động truyền thông marketing của VTVcab như đã nêu ở trên, tác giả
xin đề xuất một số giải pháp hỗ trợ nhằm phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động