Luận văn một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương đống đa hà nội - Pdf 38

LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với
hoạt động tín dụng tại Chi nhánh ngân
hàng công thương Đống Đa -Hà Nội.


lời mở đầu

ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhu cầu về kiểm toán đã trở nên tất yếu, một điều không thể phủ nhận.
Những đóng góp quan trọng của kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập kể từ
khi thành lập đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta, hội nhập
kinh tế với khu vực và thế giới ngày càng được khẳng định.
Năm 1991, Chính phủ đẫ ban hành nghị định 07/CP công bố: "Quy chế kiểm
toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân" và đến 11-7-1994, Chính phủ lại ban hành
nghị định 70/ CP về “Thành lập cơ quan kiểm toán Nhà nước, và 24-1-1995, Thủ
tướng Chính phủ ra quyết định 61/ TTG “Ban hành điều lệ tổ chức kiểm toán nhà
nước". Đây là những văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước khẳng định vị trí, vai trò
và tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán. Chúng ta nhận thức được rằng,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã thực sự trở
thành một nghề, một lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ độc lập.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, số người quan
tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp đã mở rộng, cùng với sự quan tâm đến
các thông tin tài chính, họ cũng đòi hỏi các thông tin này phải dược cung cấp một cách
chính xác, song mỗi người lại quan tâm đến một lĩnh vực không giống nhau và với các
mục đích khác nhau. Để đáp ứng tất cả các yêu cầu về thông tin với các khía cạnh khác
nhau, kiểm toán cũng bao gồm nhiều loại hình khác nhau như:kiểm toán hoạt động,
kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính.

là người bên ngoài, sử dụng các báo cáo tài chính, khi cho vay tiền cũng chú ý đến
việc xem xét các báo cáo tài chính có bị lệch lạc do sai phạm và gian lận không?
Từ những năm 1930, sự phá sản của các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp trong
điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính, là dấu hiệu chứng minh điểm yếu
của kế toán và kểm tra trước tình hình mới. Kiểm toán viên trở nên có trách nhiệm hơn
với các cơ quan chức năng của Chính phủ, Sở giao dịch chứng khoán, các nhà đầu tư cũng
như các bên khác sử dụng thông tin tài chính. Sự trung thực của báo cáo tài chính trở


thành vấn đề tiên quyết có tầm quan trọng to lớn trong qúa trình lựa chọn các quyết
định đầu tư tài chính.
Khi các doanh nghiệp ngày càng có quy mô lớn, ở Ca-na-da, Anh, Mỹ... kiểm
toán viên bắt đầu thực hiện lựa chọn mẫu các nghiệp vụ hơn là kiểm tra các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh. Kiểm toán viên và các nhà quản lý dần dần đi đến một chấp nhận
chung mà một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng các nghiệp vụ theo chọn mẫu sẽ đưa ra các chỉ
số tin cậy, có hiệu quả về sự chính xác của các nghiệp vụ tương tự đã được phản ánh
trong các báo cáo tài chính.
ở Mỹ, sau cuộc khủng hoảng nặng nề về tài chính vào 1929, bắt đầu từ
năm1934, Uỷ ban bảo vệ và trao đổi tền tệ (SEC) đã được thành lập và quy chế về
kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực. Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên
công chứng của Mỹ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về baó cáo kiểm toán tài
khoản của công ty .
Từ những năm 1950, xuất hiện nhiều tổ chức kiểm toán của Chính phủ trong
các lĩnh vực quân đội, hành chính và các xí nghiệp công cộng. Một tổ chức quan trọng
là văn phòng kế toán trưởng (GAO: GERNERAL ACCOUNTING OFFICE) đã có vai
trò quyết định trong việc mở rộng phạm vi kiểm toán. Chuẩn mực GAO vào năm 1972
(rà soát lại năm 1981), một mặt đã khẳng định lợi ích kiểm toán trong khu vực phi
thương mại, mặt khác đã khẳng định quan điểm chuẩn mực và phương pháp mới để
đánh giá hiệu quả của các nghiệp vụ phi thương mại.
Đạo luật về công ty thương mại của Pháp ngày 24-7-1966, đã xác định công

ngành hữu quan lần lượt cải tiến và ban hành một hệ thống các chế độ và văn bản pháp
quy về kế toán mới theo tinh thần kế thừa thành tựu của các chế độ kế toán trước đây.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số nhược điểm của chế độ ban hành năm 1989, chưa
bắt kịp với tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Do vậy, sau một
thời gian soạn thảo, nghiên cứu và thử nghiệm, tháng 12-1995, Thủ tướng Chính phủ
cho phép Bộ tài chính ban hành hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp, hệ thống kế
toán tài chính này bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Đồng thời hoà nhập được thông lệ phổ biến của kế toán quốc tế, có tính đến điều kiện
của Việt Nam. Trong thời gian này, hệ thống kế toán ngân hàng, mà trước hết là kế
toán của ngân hàng Nhà nước cũng được đổi mới căn bản phù hợp với yêu cầu của
Ngân hàng thế giới (WORLD BANK-WB) và quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF). Trong điều
kiện đó, kiểm toán cũng có điều kiện xuất hiện như một tất yếu khách quan, công tác


nội kiểm và kiểm toán đã thể hiện những hạn chế lịch sử của nó, một chủ thể kiểm tra
tách ra, đứng độc lập với hệ thống tài chính, kế toán để giám định trở lại, qúa trình
kiểm toán phải được hình thành và phát triển theo đúng ý nghĩa, bản chất của nó, và
cần có một hệ thống tổ chức thích đáng.
Cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã dần đi đúng quỹ đạo của nó và phát triển
rất mạnh ở hầu khắp các nước trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới có những hãng
kiểm toán, liên đoàn, Hội kiểm toán xuyên Quốc gia như: cơ quan kiểm toán tối cao
Châu á ( ASOSAI), cơ quan kiểm toán tối cao Quốc tế (INTOSAI), và INCOSAI, hoạt
động nổi tiếng vì đạt đến chuẩn mực nghiệp vụ, và kỹ năng nghề nghiệp trong kiểm
toán. Việt Nam đang trên con đường phát triển đất nước tiến tới hiện đại hoá - công
nghiệp hoá, công tác kiểm toán cần được tăng cường và phát huy vai trò của nó, việc
học hỏi kinh nghiệm kiểm toán của các tổ chức kiểm toán phát triển trên thế giới là
một việc làm thiết thực, đưa kinh tế Việt Nam phát triển, hoà nhập với nền kinh tế thế
giới.
2. Bản chất của kiểm toán.
- Khái niệm kiểm toán: Theo tác giả ALVIN AREN và JAMES K. LOE

- Kế toán: là quá trình ghi sổ, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế một
cách có hệ thống, nhằm mục đích cung cấp thông tin tài chính cho quá trình ra quyết
định.
Kế toán - với tư cách là một công cụ để quản lý nền tài chính Quốc gia nói
chung và công tác tài chính trong một doanh nghiệp , một tổ chức kinh tế nói riêng,
hạch toán kế toán đã đem lại những tác dụng to lớn trong việc tăng thu nhập, tiết kiệm
chi phí trong quản lý kinh doanh, kinh tế tài chính có hiệu quả.
Chức năng của hạch toán kế toán là cung cấp thông tin số lượng một số loại
nhất định mà nhà quản lý và những người khác có thể sử dụng để ra quyết định.
- Mặc dù các thông tin kinh tế mà hạch toán kế toán đã đưa ra là cơ sở cho việc
ra quyết định của chủ doanh nghiệp, cơ sở cho việc hoạch định và thực thi các chính
sách kinh tế, cơ sở cho các bộ phận bên ngoài doanh nghiệp quan tâm để ra quyết định
kinh doanh. Song thông tin nào là đúng đắn, là có căn cứ, có độ chính xác cao, điều
này lại hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán Nhà nước,
kiểm toán nội bộ cũng như hệ thống kiểm toán độc lập. Điều này để lên giữa kiểm toán
và kế toán có mối quan hệ hữu cơ với nhau, ở chỗ, nếu kế toán là quá trình ghi


chép, phản ánh, tổng hợp và phân tích các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì kiểm toán lại
là quá trình phân tích, nhận định, đánh giá, kiểm định, kết luận về độ chính xác của
các thông tin đó. Xét trên một khía cạnh nào đó của mối quan hệ này thì nhận thấy
rằng: sẽ không có quá trình kiểm toán nếu không có kế toán, mặt khác những thông tin
mà kế toán đã đưa ra thông qua quá trình hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
không được kiểm toán viên kiểm tra, xác nhận tính trung thực, đúng đắn thì những
thông tin ấy chưa hẳn đã đảm bảo tính pháp lý, hợp thức cao của nó.
Hiện nay, hoạt động kiểm toán còn rất mới mẻ cho nên việc lầm lẫn giữa hai
khái niệm này là không thể tránh khỏi. Vì vậy thông qua quá trình nghiên cứu và phân
tích có hệ thống, có khoa học thì sẽ đảm bảo được sự hiểu biết chính xác về hai loại
công cụ quản lý kinh tế này.
* Sự khác biệt giữa kiểm toán với thanh tra:

+ Thanh tra:
./ Kiểm tra nghiêm ngặt việc chấp hành chính sách, luật lệ, chế độ tài chính Nhà
nước tại các cơ quan chính quyền, các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, các
doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, các tổ chức đoàn thể, trên cơ sở đó nhanh chóng
phát hiện các vụ việc vi phạm, sai phạm, tham ô, lãng phí vật tư tài sản, tiền vốn của
Nhà nước để trình các cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm minh, đảm bảo kỷ cương
phép nước trong hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế - xã hội, làm lành mạnh tài
chính doanh nghiệp, và tài chính Quốc gia.
./ Điều tra công việc, vụ việc có liên quan đến các vấn đề về tài chính kế toán
trước khiếu nại, khiếu tố của công dân, hoạt động chủ yếu của thanh tra là thanh tra
theo vụ việc.
./ Lập các biên bản nhằm chấn chỉnh công việc tài chính kế toán của các đơn vị,
ngành, cơ quan các cấp.
+ Kiểm toán: nội dung trực tiếp của kiểm toán là phân tích và nghiên cứu thực
trạng tình hình tài chính kế toán của đối tượng kiểm toán, từ đó đi đến xác minh, kết


luận mang tính thuyết phục làm cho những người quan tâm có sự tin tưởng vào những
kết luận kiểm toán.
Như vậy, về mặt bản chất kiểm toán không phải là thanh tra nhưng thanh tra,
kiểm tra lại là chức năng cơ bản của kiểm toán. Nếu thanh tra được tiến hành theo vụ
việc, theo yêu cầu thì kiểm toán là hoạt động có tính chất thường xuyên hơn, mọi công
việc kiểm toán đều được tổ chức theo một trình tự khái quát từ việc chuẩn bị, đến lập
kế hoạch và thực hiện kiểm toán, và được thực hiện bởi những kiểm toán viên trong hệ
thống bộ máy kiểm toán.
Mặc dù việc thực hiện các biện pháp quản lý sai phạm không thuộc chức năng,
nhiệm vụ của kiểm toán, nhưng chức năng kiểm tra, xác nhận, đánh giá và kết luận về
đối tượng kiểm toán lại xác lập cho hoạt động kiểm toán tính độc lập, chủ động và
khách quan rất cao. Từ đó có những kiến nghị thoả đáng với cấp có thẩm quyền để có
quyết định đúng đắn trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh.

động sản hay vay tín dụng Quốc tế bằng ngoại tệ mạnh để đổi ra nội tệ cho vay hưởng
chênh lệch lãi xuất thì việc phát hiện ra của các cơ quan kiểm toán đã trở nên quá
muộn và vô phương cứu chữa. Họ cho rằng nếu các “mầm bệnh” ban đầu được khoanh
vùng sớm, rất có thể không nổ ra khủng hoảng kinh tế ở khu vực kinh tế Đông Nam á.

Tuy nhiên, các nhận định trên có hoàn toàn đúng hay không, điều này chưa thể
xác định được. Điều quan trọng hơn cả là xuyên suốt quá trinh tồn tại và phát triển của
kiểm toán, phải nhìn thấy việc ra đời của kiểm toán là phù hợp với nhu cầu thực tế của
toàn xã hội, những kết quả, thành tựu của kiểm toán phải được trân trọng và những
hạn chế của nó cần phải được khắc phục và chấn chỉnh kịp thời .
Ta hãy nhìn vào những kết quả thực tế mà kiểm toán đã đạt được kể từ khi kiểm
toán Nhà nước nói riêng và nghành kiểm toán nói chung ra đời ở Việt Nam. Trong lễ
kỷ nệm 5 năm kiểm toán Nhà nước (từ ngày 11- 7- 1994 đến ngày 11-7-1999), trong
bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Tấn Dũng - Phó Thủ tướng nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam có đoạn viết: “Tính từ khi thành lập đến nay, thông qua kiểm
toán đã phát hiện nhiều sai phạm và kiến nghị tăng thu và giảm chi cho ngân sách Nhà
nước khoảng 2500 tỷ đ, trong đó thực hiện số chi tiêu sai chế độ, để ngoài quyết toán
ngân sách 1747 tỷ đ. Qua đó đã giúp các cơ quan địa phương, đơn vị chấn


chỉnh các thiếu sót, sai phạm, ngăn ngừa lãng phí, chống tham ô, giữ gìn kỷ cương,
quản lý tài sản công quĩ. Đồng thời, kiểm toán Nhà nước đã cung cấp cho Quốc hội và
Chính phủ những báo cáo, thông tin trung thực, khách quan về tình hình quản lý kinh
tế, tài chính, giúp cho việc chỉ đạo và có những quyết sách kịp thời. Những kết quả đạt
được đã giúp cho kiểm toán Nhà nước từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của
mình, đó là những thành tích rất đáng khích lệ cần khẳng định và tiếp tục phát huy".
Như vậy, kiểm toán là hoạt động tất yếu phải tồn tại, là công cụ quản lý hữu
hiệu của Nhà nước, là một trong các công cụ quản lý quan trọng trong các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, là phương tiện không thể thiếu của bên thứ ba khi sử dụng
để đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn cho mình. Hoạt động kiểm toán là cần thiết,

- Mục tiêu của kiểm toán tuân thủ: kiểm toán tuân thủ được tiến hành nhằm

xem xét việc thực hiện những qui định pháp lý của đơv vị, đồng thời đề xuất những
giải pháp, xử lý khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật.
a3, Kiểm toán báo cáo tài chính.
- Khái niệm:
Kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm tra, xác định tính kịp thời, đầy đủ khách
quan, trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính, đồng thời xem xét và đánh giá
báo cáo tài chính có được xây dựng phù hợp với các nguên tắc, chuẩn mực kiểm toán
được thừa nhận không?
- Đối tượng:
Kiểm toán báo cáo tài chính tiến hành kiểm toán bảng cân đối kế toán, báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo
tài chính.
- Tác dụng: Kiểm toán báo cáo tài chính có tác dụng rất quan trọng trong việc

giúp cho người sử dụng thông tin có cơ sở đáng tin cậy để đưa ra quyết định kinh tế
phù hợp.
- Mục tiêu: Kiểm toán báo cáo tài chính nhằm: xác nhận tính trung thực của số

liệu báo cáo tài chính, từ đó có những kiến nghị, đảm bảo tính phù hợp cân đối của
bảng báo cáo tài chính.
- ý nghĩa: Kiểm toán báo cáo tài chính: có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi chính

tầm quan trọng của báo cáo tài chính, bảng báo cáo tài chính là cơ sở cho việc tính
thuế nộp ngân sách Nhà nước, là căn cứ cho các quyết định đầu tư, nó ảnh hưởng đến


giá cả chứng khoán của doanh nghiệp, của đơn vị đó trên thị trường. Do đó kiểm toán
báo cáo tài chính thuộc về chức năng cơ bản và quan trọng của hệ thống kiểm toán độc

- Khái niệm: kiểm toán độc lập là hình thức được tiến hành bởi các kiểm toán

viên độc lập hành nghề trong các công ty, các hãng kiểm toán của các văn phòng kiểm
toán chuyên nghiệp.
- Phạm vi: kiểm toán độc lập hoạt động chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính,

kiểm toán độc lập thực hiện theo yêu cầu của khách hàng và còn có thể thực hiện các
dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán và thuế. Mặt khác, một cuộc kiểm toán được tiến
hành bởinhững kiểm toán viên độc lập còn nằm trong kế hoạch, chủ chương của Nhà
nước khi có yêu cầu.
b3, Kiểm toán nội bộ.
- Khái niệm: kiểm toán nội bộ là công việc kiểm toán do kiểm toán viên nội bộ

của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của giám đốc doanh nghiệp, đơn vị đó hoặc thủ
trưởng đơn vị.
- Phạm vi: kiểm toán các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh

nghiệp và các đơn vị thànhviên, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động.
- Bô máy tổ chức: kiểm toán nội bộ có thể trực thuộc Ban Gám đốc, hoặc hội

đồng quản trị, tuỳ theo yêu cầu, quy mô và lĩnh vực kinh doanh, mục đích hoạt động
của từng doanh nghiệp, từng tổ chức kinh tế.
- Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ:
+ Kiểm tra và đánh giá tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm

soát nội bộ, trong tổ chức kinh tế.
+ Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của các thông tin kinh tế, tài

chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khi trình ký
duyệt và công bố.

toán chủ yếu


Phương thức tiến
hành kiểm toán
Kinh phí kiểm
toán
Trách nhiệm
Báo cáo (trình
cho)

4.2. Các bước tiến hành một cuộc kiểm toán.
Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, dù cuộc kiểm toán được tiến hành bởi chủ
thể nào thì cũng phải tuân theo một trình tự nhất định của cuộc kiểm oán, phải đảm
bảo tính khoa học và logic kể từ khi xuất hiện yêu cầu kiểm toán đến khi kết thúc cuộc
kiểm toán.
Chuẩn mực về trình tự một cuộc kiểm toán chung áp dụng ở Việt Nam chưa
được thông qua mặc dù trình tự kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ đã được phê
chuẩn, tuy nhiên nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới những quyết định trong quản lý, trong kinh doanh cũng như
trong đầu tư của các bên quan tâm, trình tự kiểm toán phải đảm bảo được những
nguyên tắc sau cơ bản sau:
- Đảm bảo đầy đủ công việc để kiểm toán một nội dung nào đó.
- Phải đảm bảo trình tự các công việc của cuộc kiểm toán kể từ khi có quyết

định kiểm toán đến khi kết thúc cuộc kiểm toán và những công việc sau kiểm toán.
Trình tự cuộc kiểm toán phải khoa học, logic, phù hợp với nội dung kiểm toán
và đối với từng đối tượng được kiểm toán.
Việc tuân thủ những nguyên tắc trên, không những đảm báo chất lượng cuộc
kiểm toán mà còn đảm bảo cho cuộc kiểm toán đó đạt được tính kinh tế, tính hiệu quả

+ Chương trình kiểm toán.


Chương trình kiểm toán là một bước rất quan trọng của quá trình lập kế hoạch
kiểm toán vì chương trình kiểm toán chính là việc rà soát lại những nội dung, những
vấn đề của một cuộc kiểm toán, sắp xếp các nội dung đó theo một trình tự nhất định
đảm bảo tính đầy đủ và khoa học của kế hoạch kiểm toán, tạo những tiền đề cơ bản
cho bước thực hiện kiểm toán để cuộc kiểm toán đạt chất lượng cao.
Nội dung của chương trình kiểm toán với những vấn đề theo trình tự sau:
- Thu thập thông tin về các bộ phận và phác thảo chương trình kiểm toán.
- Đối chiếu lại với kế hoạch kiểm toán xem có thích hợp không.
- Lựa chọn trình tự kiểm toán.
- Đánh giá xem lựa chọn trình tự kiểm toán có đúng đắn không.
- Lập chương trình kiểm toán cụ thể.

b. Thực hiện kiểm toán:
- Sau các công việc chuẩn bị cho cuộc kiểm toán, kiểm toán viên dựa vào kế
hoạch chương trình kiểm toán đã hoạch định, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật để
tiến hành kiểm toán.
Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên vận dụng thực hiện
các nội dung của phương pháp và kỹ thuật kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ các bằng
chứng kiểm toán có độ tin cậy cao và có giá trị để làm cơ sở cho việc lập báo cáo kiểm
toán.
Mặt khác, việc kết hợp với các nhận thức cơ bản trong kiểm toán cũng làm
tăng chất lượng cuộc kiểm toán lên rất nhiều, nhận thức đó là:
+ Tuân thủ pháp luật, chuẩn mực kiểm toán và quy chế hoạt động của đoàn

kiểm toán.
+ Tuân thủ quy trình kiểm toán chung và quy trình kiểm toán chuyên ngành.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh kế hoạch, chương trình kiểm toán đã được duyệt.

+ Phát hành BCKT.
+ Lưu trữ hồ sơ BCKT .


* Các loại báo cáo kiểm toán:
Báo cáo chấp nhận toàn bộ.
- Báo cáo chấp nhận từng phần.
- Báo cáo ý kiến đối ngược.
- Báo cáo ý kiến từ bỏ.

d. Theo dõi sau kểm toán:
Theo dõi sau kiểm toán là quá trình kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện
kiến nghị của đoàn kiểm toán hoặc bộ phận kiểm toán nội bộ như thế nào? Có coi
trọng các kiến nghị này hay không và đã làm đến đâu? Bằng các phương pháp điều tra
trực tiếp hay điều tra gián tiếp để kiểm toán viên có kết luận về tính chủ động, trách
nhiệm trong công việc, tính quy củ trong hoạt động sau kiểm toán của đơn vị.
- Bước này là bước rất quan trọng vì nó quyết định đến tính hiệu lực, hiệu quả
hay không của cuộc kiểm toán.
Trên đây là các bước, các nội dung của quy trình một cuộc kiểm toán. Tuân
thủ theo quy trình, các nguyên tắc áp dụng trong quy trình kiểm toán sẽ tránh được các
rủi ro kiểm toán, loại bỏ những nhân tố ảnh hưởng xấu đến chất lượng một cuộc kiểm
toán, nâng cao hiệu quả cuộc kiểm toán, tiết giảm các chi phí không cần thiết.
4.3. Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm toán.
Khi tiến hành cuộc kiểm toán, các kiểm toán viên và các đoàn kiểm toán có thể
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập bằng chứng kiểm toán, xác minh và
đánh giá các thông tin kinh tế, sau đây là một số phương pháp kiểm toán chủ yếu có
thể lựa chọn trong quá trình kiểm toán để đạt được mục tiêu của cuộc kiểm toán.
a. Phương pháp kiểm toán cơ bản:
Khái niệm: là phương pháp dùng để thu thập bằng chứng về mức độ trung thực,
hợp lý của những số liêu kế toán.

để kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống này, tồn tại có phải chỉ là hình thức
hay không để từ đó những ý kiến, những kiến nghị phù hợp.
c. Phương pháp kiểm toán cân đối:
- Khái niệm: là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối khác
để kiểm toán các mối quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành các quan hệ cân đối đó.


d. Phương pháp đối chiếu:
Bao gồm phương pháp đối chiếu trực tiếp và phương pháp đối chiếu logic.
- Phương pháp đối chiếu trực tiếp: là phương pháp kiểm toán mà kiểm toán viên

tiến hành so sánh đối chiếu về mặt lượng của cùng một chỉ tiểu trên các tài liệu khác
nhau (các chứng từ kiểm toán ) để tìm ra các sai sót, gian lận về chỉ tiêu đó.
- Phương pháp đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ bản chất giữa

các chỉ tiêu có quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến động tương ứng về
trị số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, song có thể có mức biến động khác
nhau theo các hướng khác nhau.
đ Phương pháp kiểm kê:

Phương pháp kiểm kê là phương pháp kiểm tra hiện vật các loại tài sản nhằm
thu thập các thông tin về số lượng, giá trị của tài sản đó. Để đảm bảo hiệu quả của
công tác kiểm kê, kiểm toán viên cần vào tính chất của các loại vật tư, tài sản: số
lượng, giá trị, đặc tính kinh tế.
- Kỹ thuật sử dụng phương pháp này: kiểm kê toàn diện hoặc kiểm kê điển
hình, kểm kê chọn mẫu.
e. Phương pháp điều tra:
Là phương pháp kiểm toán mà theo đó bằng các cách khác nhau, kiểm toán viên
tiếp cận đối tượng kiểm toán nhằm tìm hiểu, thu thập các thông tin cần thiết về tình
huống, thực chất, thực trạng của một số sự vụ, bổ sung căn cứ cho viẹc đưa ra những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status