BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
KHOA CHÍNH SÁCH CÔNG
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ, SỬ
DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
LẬP CÓ THU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Cơ sở thực tập: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Họ và tên sinh viên:
Nguyễn Văn Chiến
Khóa 2 (2011-2015)
Giảng viên hướng dẫn:Th.s Vũ Thị Tâm
HÀ NỘI - 2015
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của riêng tôi, là sản
phẩm được hoàn thành sau bốn tuần thực tập tại Tạp chí Quản lý Kinh tế, Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
báo cáo có nguồn gốc rõ ràng, trung thực; kết cấu báo cáo tuân theo đúng hướng
dẫn của Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển.
Hà Nội, ngày 04 tháng 04 năm 2015
Sinh viên thực tập
UBND
TNHH
TSCĐ
CNH-HĐH
DANH MỤC BẢNG BIỂU
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản công(TSC) có giá trị rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong thời gian qua, Chính phủ, Bộ Tài chính
và các bộ ngành và Uỷ ban nhân dân(UBND) các địa phương đã có nhiều cố
gắng trong việc tăng cường quản lý, khai thác có hiệu quả TSC. Bên cạnh những
kết quả đạt được thì công tác quản lý TSC vẫn bộc lộ nhiều sơ hở, yếu kém.
Chính phủ đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp
luật về quản lý, sử dụng TSC như: Nghị định số 14/1998/NĐ- CP ngày
06/3/1998, Nghị định số 137/2006/NĐ- CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ, với
phạm vi điều chỉnh hạn chế và nhiều quy phạm cần phải sửa đổi, bổ sung. Pháp
luật về quản lý đối với một số lĩnh vực tài sản còn chưa đủ, thiếu đồng bộ, chưa
điều chỉnh bao quát hết các mối quan hệ về tài sản trong cơ chế thị trường...Dẫn
đến thiếu môi trường pháp lý minh bạch, đầy đủ để quản lý, sử dụng TSC một
cách có hiệu quả, tiết kiệm.
Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn
đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm phương tiện đi lại và các trang thiết bị
phục vụ cho cán bộ, công chức, viên chức. Đây là các căn cứ quan trọng để xây
dựng và bố trí dự dự toán ngân sách cho đầu tư, mua sắm và kiểm soát chi tiêu,
nhau và đang tuyển dụng khoảng 1,5 triệu lao động.
(Nguồn: TS. Lê Xuân Bá và cộng sự, cơ chế tổ chức và quản lý của các tổ
chức sự nghiệp công ở Việt Nam, tháng 12 - 2005).
Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, cơ chế tài chính đối với
một số lĩnh vực, một số đối tượng cần có sự thay đổi quan trọng, nhất là cơ chế
quản lý các ĐVSN công lập đã xã hội hoá. Mặt khác, sự phát triển của thị trường
bất động sản cũng đang đòi hỏi cần có cơ chế thích hợp để phát huy thế mạnh
trong việc sử dụng nguồn lực vật chất rất lớn là tài sản thuộc sở hữu nhà
nước...Để phù hợp với các tiến trình này, cơ chế quản lý, sử dụng TSC cũng cần
được bổ sung cho phù hợp.
6
Sẽ có nhiều biện pháp để chống lãng phí trong quản lý, sử dụng TSC. Tuy
nhiên một vấn đề mà nhiều chuyên gia, nhà khoa học cùng thống nhất cho rằng,
điểm yếu của cuộc chiến chống lãng phí hiện nay là nguyên nhân từ cơ chế chính
sách. Nghe có vẻ như là một mâu thuẫn, bởi thực tế cho thấy chủ trương, cơ chế
chính sách không thiếu, nhưng lại rất yếu về sự đồng bộ chặt chẽ
Từ những vấn đề nêu trên, việc đổi mới và ban hành chính sách thống nhất
quản lý, sử dụng TSC là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và xu thế hội nhập quốc tế. Đây là một trong những nội dung đã
được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X coi là một trong những giải pháp quan
trọng phát triển kinh tế xã hội của đất nước giai đoạn 2006 – 2010: ''Ban hành và
sửa đổi chính sách quản lý, sử dụng TSC, nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả tài
sản do Nhà nước đầu tư xây dựng, mua sắm”.
Với lý do đó, em đã lựa chọn đề tài: " Giải pháp hoàn thiện chính sách
quản lý, sử dụng tài sản công tại các ĐVSN công lập có thu ở Việt Nam hiện
nay ”.
Nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin và kiến nghị phù hợp về chính
sách quản lý, sử dụng TSC cho các nhà quản lý, Lãnh đạo Chính phủ, Bộ Tài
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích tổng hợp từ nguồn tài liệu trong và ngoài nước,
mạng Internet: được sử dụng ở tất cả các chương của đề tài, nhằm làm rõ cơ sở
lý luận và đánh giá thực trạng.
5. Kết cấu của khóa luận:
Để làm rõ các nội dung nghiên cứu, chuyên đề được kết cầu thành 03 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chính sách quản lý sử dụng tài sản công
Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng tsc tại các ĐVSN công lập có thu ở
Việt Nam hiện nay
8
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện chính sách quản lý, sử
dụng tài sản công tại các ĐVSN công lập có thu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SỬ DỤNG
TÀI SẢN CÔNG
9
1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Tài sản công
Hiến pháp năm 1992 và nội dung thể hiện trong các hiến pháp 1946, 1959,
1980 có khái niệm sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, công hữu tài sản, gọi
chung là tài sản công của quốc gia. Những khái niệm này có phạm vi rất rộng, có
tính triết học, xã hội học xen lẫn với pháp lý, nhưng cho đến nay, vẫn chưa được
cụ thể hoá thành luật hay pháp quy một cách cụ thể như luật lệ của nhiều quốc
gia trên thế giới.
nhà nước có thẩm quyền thành lập và được quản lý theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, ĐVSN công thường được NSNN tài trợ để thực hiện các hoạt động của
mình. Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động, tính chất công việc và nguồn thu mà các
ĐVSN công có thể thuộc vào một trong hai nhóm: ĐVSN công có thu và ĐVSN
công không có thu. ĐVSN công có thu được hiểu là: bên cạnh nguồn thu từ
NSNN, các ĐVSN công còn được pháp luật cho phép thu phí, lệ phí từ '' khách
hàng'' hay người sử dụng ''dịch vụ công'' mà các tổ chức đó cung cấp để thực
hiện chức năng và hoạt động của mình.
Các ĐVSN công có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước có
nền kinh tế thị trường tự do, nền kinh tế thị trường xã hội, lẫn nền kinh tế đang
chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Sự tồn tại của các ĐVSN công, thể hiện việc
thực hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp phúc
lợi xã hội thiết yếu cho mọi người dân, thông qua những tổ chức do chính Nhà
nước lập ra. Mục tiêu của sự can thiệp này là để sửa chữa các khuyết tật của thị
trường - vốn là một đặc tính của các dịch vụ công. Tức là, tuy các dịch vụ công
rất cần thiết đối với cuộc sống của con người, song tư nhân thường không muốn
hoặc không có khả năng cung cấp. Tuy nhiên, không phải bất cứ hoạt động sự
nghiệp nào cũng phải do các ĐVSN công thực hiện. Trên thực tế, phạm vi hoạt
động của các ĐVSN công là rất khác nhau, tuỳ theo mỗi nước và tuỳ vào từng
lĩnh vực cụ thể.
1.1.3
Đơn vị sự nghiệp công lập có thu
11
ĐVSN công lập có thu là đơn vị dự toán cấp I, II, có con dấu và tài khoản
riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Hoạt động
bằng nguồn kinh phí Nhà nước cấp hoặc từ các nguồn thu thuộc cơ quan nhà
nước; được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
nguồn gốc từ NSNN.
Tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ các nguồn thu của đơn vị được phép
sử dụng theo quy định, từ nguồn Quỹ phát triển sự nghiệp và Quỹ phúc lợi của
đơn vị.
Tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ các nguồn vốn viện trợ, tài trợ, biếu
tặng của các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế hoặc
các tổ chức khác trong và ngoài nước.
Tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức.
Tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ các nguồn vốn huy động
Tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ nguồn lãi được chia trong các hoạt
động liên doanh liên kết theo quy định.
Tài sản được tiếp nhận từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quyết định của cơ
quan có thẩm quyền.
Tài sản được tiếp nhận từ viện trợ, tài trợ, biếu tặng, cho của các Chính phủ, tổ
chức phi Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế hoặc các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước.
Tài sản đã xác lập sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật được chuyển
giao cho tổ chức quản lý và sử dụng.
Tài sản khác tại đơn vị mà theo quy định của pháp luật thuộc tài sản của nhà
nước.
1.1.5
Khái niệm chính sách quản lý sử dụng tài sản công
13
Chính sách quản lý sử dụng tài sản công là chính sách của nhà nước, của
chính phủ, do nhà nước hoặc chính phủ ban hành nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn và tài sản công đã giao theo quy định của pháp luật
Tổ chức lập và quản lý hồ sơ về TSC;
Quản lý việc đầu tư xây dựng, mua sắm khai thác, sửa chữa, bảo dưỡng, điều
chuyển, thu hồi, thanh lý, bán, góp vốn liên doanh liên kết, cho thuê, tiêu huỷ
TSC;
Kiểm kê đánh giá, định giá TSC;
Xác lập quyền sở hữu nhà nước về tài sản theo quy định của pháp luật;
1.2.2
Tác động của nhà nước đối với chính sách quản lý, sử dụng TSC
Những tác động của nhà nước nhằm hoàn thiện chính sách quản lý sử dụng
TSC được cụ thể hóa như sau:
Nhà nước có chính sách đầu tư thực hiện hiện đại hoá công tác quản lý TSC.
Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về TSC nhằm đảm bảo đủ
nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý sử
dụng TSC.
Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia cùng Nhà nước đầu tư
để hình thành, phát triển, khai thác và bảo vệ TSC theo quy định của pháp luật.
Công tác quản lý TSC phải được tăng cường và hiện đại hoá theo kế hoạch được
Chính phủ phê duyệt.
1.2.3
Nguyên tắc quản lý tài sản công
1.2.3.1 Nguyên tắc 1:
Mọi TSC đều phải được giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân quản lý,
sử dụng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về quản lý, sử dụng, bảo tồn và phát
triển TSC.
Đây là nguyên tắc phổ biến trong các Luật TSC hoặc luật tương đương của
luật, việc xác định giá trị tài sản nhà nước thực hiện theo nguyên tắc thị trường.
16
Việc định giá tài sản là cần thiết, vì chỉ có xác định giá trị mới làm cho tài sản
thực sự là hàng hoá, tạo cơ sở để thực hiện theo thị trường. Tuy nhiên, một bộ
phận TSC trong đó có đất đai, tài nguyên, quyền khai thác vùng trời, vùng biển
là các loại tài sản đặc biệt, vừa là kết tinh lao động của nhiều thế hệ cha ông, vừa
là thành quả của đấu tranh lập nước và giữ nước, vì vậy không thể mua bán theo
thị trường một cách đơn giản mà phải thực hiện sự kiểm soát, điều chỉnh, điều
tiết của nhà nước, phải tôn trọng quyền sở hữu toàn dân mà nhà nước là đại diện.
Vì vậy, chính sách quản lý, sử dụng TSC cần theo hướng: cần xác định giá trị tài
sản để ghi chép, theo dõi đầy đủ. Còn việc thực hiện giá thị trường chỉ trong một
số quan hệ như bán, chuyển nhượng quyền sử dụng, thanh lý cho thuê TSC, liên
doanh liên kết.
1.2.3.5 Nguyên tắc 5:
TSC phải được bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa theo yêu cầu định mức kinh tế
kỹ thuật, chế độ quy định. Nguyên tắc này đảm bảo việc sử dụng TSC hiệu quả,
tiết kiệm, tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, tránh sử dụng kiểu '' vắt kiệt'' tài sản,
đồng thời cho phép bố trí hợp lý, khoa học giữa chi thường xuyên và chi đầu tư
trong dự toán NSNN nói chung cũng như trong kế hoạch tài chính của từng cơ
quan, ĐVSN công lập có thu nói riêng.
1.2.3.6 Nguyên tắc 6:
Thực hiện công khai việc quản lý, sử dụng TSC.
Nguyên tắc này làm rõ và bao quát hơn phần đã đề cập ở nguyên tắc 4. Theo đó,
toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm, sử dụng, hiệu quả sử dụng TSC phải công
khai( trừ một số nội dung không được phép công khai theo quy định của pháp
luật bảo vệ bí mật quốc gia). Đây là nhân tố rất quan trọng để tăng cường sự
giám sát của cán bộ, công chức và toàn thể nhân dân đối với việc quản lý, sử
tư xây dựng, mua sắm thêm vượt tiêu chuẩn, định mức đơn vị được phép sử
dụng.
1.2.5
Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản
18
1.2.5.1 Thẩm quyền quyết định việc mua sắm tài sản không phải là nhà, công
trình xây dựng( gọi chung là tài sản khác) thực hiện như sau:
a) Căn cứ vào phân cấp của Chính phủ, thủ trưởng cơ quan trung ương quy
định phân cấp về thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản khác do các ĐVSN
thuộc và trực thuộc cơ quan mình quản lý, sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng
Bộ Tài chính bằng văn bản; UBND cấp tỉnh sau khi xin ý kiến Hội đồng nhân
dân(HĐND) cùng cấp, quy định phân cấp về thẩm quyền quyết định mua sắm tài
sản khác tại ĐVSN cho các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã và các
ĐVSN thuộc địa phương quản lý.
b) Căn cứ phân cấp về thẩm quyền quyết định việc mua sắm tài sản đã được
thủ trưởng cơ quan trung ương và UBND cấp tỉnh quy định, thủ trưởng cơ quan
có thẩm quyền hoặc thủ trưởng ĐVSN, được quyết định việc mua sắm đối với tài
sản khác của ĐVSN theo kế hoạch, dự toán, dự án đã được phê duyệt và chịu
trách nhiệm về quyết định của mình.
1.2.5.2 Đối với những tài sản khác phục vụ công tác, hoạt động của đơn vị
Đơn vị thực hiện lập hồ sơ đề nghị trang cấp tài sản gửi đến cơ quan có
thẩm quyền; hồ sơ đề nghị trang cấp tài sản gồm có:
Văn bản đề nghị trang cấp tài sản( nêu rõ về số lượng, chất lượng, tình hình sử
dụng tài sản cùng loại với tài sản đề nghị trang cấp hiện đơn vị đang quản lý, sử
dụng và nhu cầu cần thiết, mục đích sử dụng, nguồn kinh phí thực hiện mua sắm
a) Mọi tài sản công trong các ĐVSN công lập có thu đều phải được bảo
dưỡng, sửa chữa theo đúng chế độ, tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo quản, sử dụng tài
sản theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và dự toán ngân sách
được duyệt.
b) Hàng năm, đơn vị thụ hưởng NSNN căn cứ vào thực trạng tài sản và chế
độ, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý, sử dụng TSC, lập dự toán chi về bảo dưỡng,
sửa chữa tài sản báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để:
20
i) Bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính thẩm
định, xem xét đưa vào dự toán ngân sách trình cấp có thẩm quyền quyết định
theo quy định của pháp luật về NSNN;
ii) Sở, ban, cơ quan ở địa phương và UBND cấp huyện tổng hợp báo cáo Sở
Tài chính thẩm định, xem xét đưa vào dự toán ngân sách trình cấp có thẩm
quyền quyết định theo quy định của pháp luật về NSNN.
c) Sau khi dự toán chi về bảo dưỡng, sửa chữa tài sản được duyệt, các
ĐVSN phải sử dụng kinh phí theo đúng mục đích và có hiệu quả, kết thúc năm
ngân sách phải quyết toán số kinh phí được cấp và báo cáo kết quả bảo dưỡng,
sửa chữa tài sản cho cơ quan tài chính nhà nước trực tiếp cấp kinh phí.
1.2.8
Quyền và nghĩa vụ của ĐVSN công lập có thu
a) Tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng TSC theo quy định của pháp luật
phục vụ hoạt động theo chức năng của mình; được Nhà nước khuyến khích, tạo
điều kiện phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công
ích.
quan đến tài sản quốc hữu Nhà nước, đảm bảo cho việc xúc tiến chuyển đổi cơ
chế quản lý doanh nghiệp phù hợp với công cuộc cải cách nền kinh tế theo cơ
chế thị trường theo đúng đường lối của Đảng và Chính phủ.
Quản lý các doanh nghiệp, cơ sở bằng các biện pháp nhằm sử dụng tốt tài sản,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo tăng tích lũy, bảo toàn và tăng
trưởng vốn nhà nước.
Những tài sản do cục quản lý bao gồm:
Tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp
Tài sản nhà nước trong các đơn vị HCSN
Tài nguyên
Về hệ thống chính sách pháp luật:
Bộ Tài chính và Ủy ban cải cách phát triển Trung ương còn phối hợp ban hành
các quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng cho từng loại tài sản công như trụ sở
22
làm việc, phương tiện đi lại, trang thiết bị,…. Áp dụng thống nhất trên cả nước.
Trong đó quy định rõ tiêu chuẩn sử dụng làm việc cho từng chức danh cụ thể
Mầu thiết kế trụ sở do Bộ Xây dựng ban hành
Tiêu chuẩn định mức sử dụng trụ sở làm việc do Bộ Tài chính quy định được
phân thành 2 cấp:
• Cấp I: Bộ, ngành
• Cấp II: Các tỉnh, thành phố và các đặc khu
Về quản lý, sử dụng: Các cơ quan hành chính sử dụng trụ sở làm việc phải đăng
ký sử dụng (đăng ký quyền sử dụng) với Cục quản lý sự vụ; các Bộ, nganhfphair
báo cáo việc sử dụng với Cục và tuân theo chế độ quản lý hiện hành.
Về biện pháp quản lý: Trung Quốc thực hiện quản lý theo kiểu tập trung và tiết
kiệm; bằng lượng hóa; quản lý khoa học; quản lý chuyên môn hóa.
1.3.2
Trách nhiệm và thẩm quyền quản lý giữa các cấp chính quyền
Hệ thống chính quyền của Australia được phân thành 3 cấp:
Cấp liên bang
Cấp bang
Chính quyền địa phương
Tương ứng với nó, việc quản lý tài sản công được thực hiện bởi 3 cấp,
nhưng lại được tập trung quản lý chủ yếu bởi cấp Bang. Cấp trên không can
thiệp vào quản lý tài sản của cấp dưới
Ở các cấp, nhiệm vụ quản lý tài sản công tại mỗi cấp được gắn với nhiệm
vụ quản lý tài chính, ngân sách và được thực hiện bởi cơ quan tài chính cung
cấp, bên cạnh đó mỗi cấp đều có cơ quan kiểm toán nhà nước có trách nhiệm
kiểm toán các báo cáo tài chính của các đơn vị cùng cấp. Ngoài ra các cấp đều có
Ủy ban quản lý tài sản công, thành phần bao gồm: Bộ trưởng Bộ Tài chính(làm
tổng thư ký), các thành viên khác của văn phòng thủ tướng Bang, các doanh
nghiệp nhà nước lớn,... có chức năng chủ yếu là xem xét khi xảy sự không đồng
thuận trong mua sắm, thanh lý tài sản giữa Bộ Tài chính với đơn vị sử dụng tài
sản.
Các đơn vị sử dụng tài sản đều có bộ phận quản lý tài sản. Nhìn chung đơn
vị được tự quyết định việc đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, quyết định việc sử
24
dụng cũng như thanh lý tài sản; bên cạnh đó đơn vị chịu trách nhiệm trong giải
trình với các cơ quan có thẩm quyền
Phạm vi quản lý tài sản của các cấp
Tại Australia, việc quản lý tài sản được phân định rõ ràng, tài sản thuộc cấp nào
do cấp đó quản lý, cấp trên không can thiệp vào quyết định của cấp dưới, cụ thể: