1. MỞ ĐẦU
Việt nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển với tiềm năng về trồng
trọt và chăn nuôi, mà ngành chăn nuôi chỉ có thể phát triển khi nó đạt được hiệu
quả kinh tế nhất định. Điều đó rõ ràng năng suất chăn nuôi trước hết phụ thuộc
vào việc cung cấp thức ăn cho vật nuôi. Hiện nay việc chăn nuôi kiểu chăn thả tự
nhiên (nuôi quảng canh) đang có xu hướng thu hẹp, do khả năng khống chế dịch
bệnh và các chi phí chăn nuôi cao, mà hình thức chăn nuôi này không mang lại
hiệu quả kinh tế cao….Nhiều nơi, nhiều hộ gia đình đã chuyển sang hướng nuôi
công nghiệp, chăn nuôi theo các quy mô vừa và lớn dưới dạng trang trại hay xí
nghiệp.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp có dạng thức ăn hỗn hợp. Nguồn nguyên
liệu để cung cấp cho việc chế biến thức ăn chăn nuôi phải dựa vào nguồn nguyên
liệu sẵn có rẻ tiền, bảo đảm chất lượng vệ sinh nhất là nấm mốc phải được loại bỏ,
vì thú nuôi rất nhạy cảm với thức ăn nhiều nấm mốc, nấm mốc sinh sản ra độc tố
aflatoxin có thể gây chết hàng loạt .Trong thức ăn chăn nuôi chứa đầy đủ các
thành phần như: Protein, năng lượng, vitamin, chất khoáng, enzim….Nhằm đáp
ứng cho quá trình duy trì tăng trưởng, đẻ trứng ……
Để đáp ứng cho quá trình đó thì phải có các nhà máy sản xuất có trang thiết
bị hiện đại để có thể chế biến ra những loại thức ăn dạng viên.Tuy nhiên kinh phí
để đầu tư một dây chuyền sản xuất thức ăn viên là khá lớn. Vì vậy việc nghiên cứu
thiết kế, chế tạo dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên có giá thành hạ,
đáp ứng nhu cầu thực tế ở nhiều doanh nghiệp chăn nuôi mang tính cấp thiết cao.
Khó khăn này đã đặt ra cho ngành cơ khí chế tạo máy là tiếp cận với những
thành tựu khoa học hiện đại để có khả năng thiết kế, chế tạo ra các dây chuyền sản
xuất thức ăn chăn nuôi dạng viên nhằm trang bị cho sản xuất và hướng tới tham
gia thị trường chung của thế giới. Kết quả này sẽ khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi xây dựng nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi dạng viên, tạo sự cạnh tranh
lành mạnh về chất lượng và đáp ứng nhu cầu người chăn nuôi.
Từ sau năm 1975 thức ăn chăn nuôi dạng viên ở nước ta vắng mặt trên thị
trường cũng như ngành chăn nuôi Việt Nam chỉ có thức ăn dạng bột mà thôi. Vào
đầu năm 1993 thức ăn chăn nuôi dạng viên thực sự trở lại với thị trường Việt
Nam, nó được xem là sự hiện diện mới nhất và mang lại cho nghành chăn nuôi
nhiều lợi ích.
Hiện nay, thức ăn dạng viên đã tìm được vị trí vững chắc trong nghành chăn
nuôi ở nước ta.
Đầu tiên xí nghiệp thức ăn gia súc VIFOCO đã đưa thức ăn dạng viên vào
quy trình sản xuất của xí nghiệp vào tháng 2 năm 1993, với nhiều thiết bị nhập từ
Mỹ. Sau đó xí nghiệp đã nhập bộ khuôn mới vào từ đó và từ đó xí nghiệp đã bắt
đầu đi vào ổn định với năng suất cả nhà máy có thể đạt từ 4-6 (tấn/h). Nhưng sản
phẩm xí nghiệp lúc này vẫn chưa được tiêu thụ mạnh do người nông dân chưa
quen loại thức ăn này vào trong chăn nuôi đồng thời giá thành còn cao, chất lượng
còn thấp do hệ thống quá cũ.
Tiếp theo sau đó vào tháng 9 năm 1993 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc
Việt Thái đã phục hồi dây chuyền sản xuất tương tự như dây truyền sản xuất của
xí nghiệp VIFOCO, năng suất có thể đạt từ 4-6 (tấn/h) nhưng vấn đề về chất lượng
thời gian đầu vẫn chưa được thỏa mãn, xong xí nghiệp đã đạt được những thành
quả nhất định.
Tháng 7 năm 1994 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc PROCONO bắt đầu đi
vào hoạt động với dây truyền sản xuất thức ăn viên của Pháp, năng suất 6 tấn/h.
Tháng 1/1995 nhà máy chế biến thức ăn An Phú đã tiến hành lắp ráp dây
chuyền ép viên và đi vào hoạt động tháng 3/1995 với dây chuyền máy Pellet.
Cho đến hiện nay, thức ăn chăn nuôi dạng viên đã được sử dụng rộng rãi ở
nước ta. Nhiều nhà máy thức ăn chăn nuôi đã trang bị hệ thống sản xuất thức ăn
dạng viên, như vào tháng 5/2005 nhà máy thức ăn gia súc Bình Minh đã lắp đặt hệ
thống thức ăn chăn nuôi dạng viên của Buhler (Thụy Sĩ).
Thức ăn gia súc dạng viên chỉ thực sự đến với ngành chăn nuôi vào đầu năm
thiếu lyzin. Việc thay đổi loại thức ăn cơ sở này bằng thức ăn cơ sở khác không
làm tăng hoặc giảm đáng kể chất lượng protein của khẩu phần. thức ăn ngũ cốc có
nguồn khoáng cao cho gia cầm giàu phospho, nhưng nghèo can xi, thức năng
lượng gồm khối lượng là cacbohydrate, khả năng tiêu hóa đến 95%.
Một số loại nguyên liệu thức ăn năng lượng thường sử dụng:
- Ngô: là thức ăn cơ sở của gia cầm, và thuỷ cầm với tỷ lệ thường chiếm 4570%. Ngô là thức ăn được gia cầm thích ăn, có vị thơm ngon, chứa năng lượng
cao nhất so với thức ăn ngũ cốc khác, là nguyên liệu dùng để điều chỉnh mức năng
lượng trong khi xây dựng thực đơn thức ăn hỗn hợp, protein thô từ 8-10%, mỡ thô
4,5%. Ngoài ra ngô chứa hàm lượng đáng kể caroten (tiền vitamin A), gia cầm ăn
ngô đỏ da và lòng đỏ trứng vàng, làm tăng giá trị của thịt trứng. Ngô là loại thức
ăn dễ tiêu hóa, tống số vật chất tiêu hóa 85-90%.
Vì ngô chứa hàm lượng lượng bột đường cao, mỡ cao, nên ngô dễ bị nhiễm
nấm mốc khi độ ẩm trên 15%, làm giảm chất lượng ngô, chứa độc tố aflatoxin. Vì
vậy cần phải qua chế biến để khắc phục những nhược điểm trên.
- Thóc: là nguồn thức ăn chính trong chăn nuôi vịt, ngan truyền thống ở các
vùng và trong chăn nuôi thâm canh nuôi nhốt bán hoặc chăn thả đều dùng. Thóc là
một loại thức ăn năng lượng chính, một lý do nữa là thóc ít bị mốc và nhiễm độc
tố.
Hàm lượng chất dinh dưỡng của thóc: protein thô 6,5%, gluxit 59,3%, mỡ
thô 2,2%. Tổng vật chất tiêu hóa của thóc là trên 65-70%. Thóc tuy có giá trị dinh
dưỡng thấp hơn ngô, nhưng là thức ăn được thủy cầm thích ăn, là nguyên liệu
dùng để cân đối năng lượng thấp trong khẩu phần thức ăn.
-
Cám gạo: ở nước ta nguồn cám gạo rất nhiều, vì tống sán lượng thóc
khoảng trên 20 triệu tấn, lượng cám thu được qua xay xát thóc tới trên dưới 5 triệu
tấn. Cám gạo thông thường có màu nâu sang, chứa mỡ, hơi “ nhớt”, nên ít bay bụi.
Cám lụa màu trắng. Theo định nghĩa của FAO (Tổ chức nông nghiêp và thực
phẩm Liên hiệp quốc), cám gạo là sản phẩm phụ của quá trình xay xát thóc gạo,
lệ protein và các axit amin cao. Protein trong đậu đỏ 72-75%, cao hơn các hạt hòa
thảo, dễ hòa tan trong nước và giàu lyzin nên dễ tiêu hóa hấp thụ, hàm lượng
canxi, kẽm, mangan, đồng trong đậu đỏ cao hơn hạt hòa thảo nhưng nghèo
photpho hơn.
- Đỗ tương: là thức ăn thực vật giầu protein với giá trị sinh học tương đương
protein của các loại thức ăn động vật. Trong đỗ tương có những tác nhân kháng
dinh dưỡng, khi chưa được xử lý có thể tác động mạnh vào đường ruột đoongj vật
gây ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa và Sử dụng chất dinh dưỡng, vì vậy phải
qua chế biến.
-Lạc: nước ta có nhiều vùng trồng lạc tốt, tỷ lệ dầu trong lạc cao 48-50%.
Với độ ẩm trên 15% khô dầu lạc dễ bị mốc, giảm chất lượng, có nhiều độc tố
nhất là aflattoxin rất độc cho thủy cầm. Khô lạc, khô vừng là nguồn thức ăn
protein từ thực vật có giá trị dinh dưỡng cao, nó chiếm phần thức ăn chủ yếu cho
gà và tỷ lệ khoảng 25-35%; và cũng chiếm khoảng trên dưới 50% tổng số lượng
protein thô trong khẩu phần, khi không có khô dầu đậu tượng.
Khô dầu lạc là thức ăn có giá trị , giá hạ, là nguyên liệu dùng để cân đối tốt
lượng protein trong khẩu phần. Tuy vậy có nhược điểm hay bị lên men mốc và
sảm sinh độc tố aflatoxin, hay bị “ôi” do mỡ còn lại (do không ép kỹ) dễ bị oxy
hóa. Vì vậy hạt lạc trước khi đưa vào ép lấy dầu, cần phơi cho độ ẩm còn 9-10%;
để khô dầu cũng chứa độ ẩm như vậy cần bảo quản khô dầu lạc trong kho khô ráo,
mát, tránh bị nấm mốc.
3.2.3. Nguồn protein động vật:
Bao gồm các loại bột cá, bột thịt xương, bột máu protein động vật có đủ các
acid amin không thay thế, khá đầy đủ khoáng chất và nhiều loại vitamin.
Bột cá: là nguồn protein động vật hang đầu có đủ các acid amin cần thiết
nhất là lyzin và methionin cho gia cầm bột cá chế biến từ cá thì giá trị dinh dưỡng
cao, chế biến từ phụ phẩm của nghề cá thì thấp hơn.
Bột cá đắt tiền, cần tính toán câu đối hợp lý pha trôn thức ăn để có giá thành
liệu dùng để sản xuất thường là: bột cá, bột ngũ cốc, các loại đậu. Về thành phần
dinh dưỡng chúng cũng cần chủ yếu là protein, gluxit, lipit, vitamin, các khoáng
chất,…
Tiếp nhận, bảo
quản nguyên
liệu
Làm sạch
nguyên
liệu
Đóng gói,
bảo quản
Trộn sơ
bộ
Nghiền
Trộn
đều
Làm
nguội
Sấy
Ép
viên
+ Đường kính của viên trên 8 mm chịu lực phá vỡ 80 N.
Viên phải có độ bền, chịu được sự rung động, viên đưa vào đóng bao phải
có độ ẩm ở chế độ bảo quản (dưới 14%), và nhiệt độ bền bằng nhiệt độ môi
trường. Viên cần có độ đồng đều cao. Năng suất cảu máy phải cao, chi phí năng
lượng riêng phải thấp khoảng 50 kWh/tấn cho viên có đường kính d = 2,5 mm;
15-20 kWh/tấn cho viên có đường kính d=(6-8) mm.
3.5 Một số phương pháp đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật quá trình chế
biên thức ăn viên:
3.5.1. Phương pháp xác định độ nhỏ bột nghiền
Độ nhỏ bột nghiền là kích thước hình học của các phần tử bột nghiền. Đối
với mọt thể tích khối bột người ta dùng kích thước trung bình của khôi bột để đặc
trưng cho độ nhỏ của bột, vì các phần tử bột nghiền có kích thước đa phân tán.
Phương pháp xác định tương tự như khi đo cho các sản phẩm rời.
Phương pháp xác định độ nhỏ bột nghiền:
Căn cứ vào kích thước hạt bột mà ta có các phương pháp xác định như sau:
- Phương pháp phân tích sàng, dùng sàng để sàng thành các lớp nếu các
phần tử có kích thước lớn hơn 40 µm .
- Phương pháp lắng tụ: áp dụng cho các phần tử có kích thước giới hạn từ
5-10 µm .
- Phương pháp soi kính hiển vi: áp dụng cho các phần tử có kích thước
lượng.
Ta có thể sử dụng phương pháp KHAPHARROP để xác định độ trộn đều của bột
nghiền:
Có thể xác định độ nhỏ bột nghiền dựa vào tỷ số giữa tỷ lệ chứa của mỗi
thành phần trong từng mẫu đo Ci với tỷ lệ chứa của thành phần có trong hỗn hợp
Co.Thành phần được chọn kiểm tra (mẫu kiểm tra) là thành phần có tỷ lệ nhỏ nhất
trong hỗn hợp.
Sau khi lấy ra n mẫu đo và xác định tỷ lệ C i trong từng mẫu ta tính độ trộn
đều K với 2 trường hợp: Ci ≤ Co và Ci ≥ Co.
Nếu Ci ≤ Co thì:
n1
K1 =
Ci
∑C
i =1
(3.2)
i
n1
Nếu Ci ≥ Co.thì:
n1
K1 =
trộn (hình 3.2). Thiết bị là hộp chữ nhật kín, có nắp mở ở phía trên có kích thước
(12 x 5 x 12) in. Phía trong hộp có đặt một tấm phẳng kích thước (2 x 9) in truyền
động quay cho tấm phẳng bằng động cơ điện. Cách đo như sau:
Cho 500gam thức viên thức ăn cần kiểm tra độ bền vào hộp, đóng nắp lại
cho quay trong thời gian 10 phút. Sau đó lấy ra và tiến hành sàng để loại các thành
phần có kích thước nhỏ
Hình 3.2. Thiết bị kiểm tra độ bền viên thức ăn.
Độ bền viên thức ăn được xác định theo công thức:
Db =
Trong đó:
W1
100(%)
W2
(3.5)
W1 – Khối lượng của thức ăn nằm trên sàng sau khi rây, gam;
W2 – Khối lượng của viên thức ăn sau khi rây, 500g.
Ngoài ra, có thể dùng phương pháp ngâm nước để đo độ bền của viên như sau:
Độ bền viên thức ăn được đặc trưng bởi thời gian ngâm nước mà viên thức
ăn không bị phá hủy. nước cho vào cốc chiếm 2/3 thể tích cốc (1000 ml), cho 100
gam viên thức ăn đã có nước. Quan sát và bấm thời gian bắt đầu từ khi bỏ thức ăn
vào cho tới khi bắt đầu tan.
3.6. Một số dây chuyền sản xuất thức ăn viên
3.6.1. Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc dạng viên năng suất 5-6 tấn/giờ
1.Gầu tải, 2.Máng cấp liệu, 3.Trục phân phối, 4. Máy nghiền sơ bộ, 5. Vít tải, 6.
silo chứa, 7.Trộn vít trục ngang, 8.Silo chứa, 9. Bộ phận thu hồi, 10. Máy làm
nguội, 11. siclon lọc bụi, 12.Máy ép viên, 13,14,15. Bộ phận thu hối sản phẩm.
3.6.2. Dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc dạng bột 10 tấn/giờ, dạng viên 7
tấn/giờ của công ty VAN- AASEN (Hà Lan).
4
7
6
8
9
11
Hình 3.4. Dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột năng suất 10 tấn/giờ, thức ăn
dạng viên năng suất 7 tấn/giờ của công ty VAN-AASEN (Hà Lan).
Nguyên tắc hoạt động của dây chuyền như sau:
Nguyên liệu dạng cục, dạng hạt được gầu tải đưa vào các silo chứa. Dưới
mỗi silo đều có các vít tải để đưa nguyên liệu từ silo tới các bộ phận định lượng
theo kiểu cộng dồn. Hỗn hợp sau khi được định lượng đưa vào máy nghiền sau đó
đi qua máy trộn kiểu vít xoắn. Đối với dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột thì
thức ăn sau khi được trộn sẽ chuyển sang bộ phận thu hồi sản phẩm, còn dây
chuyền sản xuất thức ăn dạng viên, bột sau khi nghiền chuyển sang máy ép viên,
tới, máy làm nguội, sàng phân loại.
+ Chi phí lao động trực tiếp: xác định thông qua số lượng công nhân tham gia trực
tiếp sản xuất ở từng công đoạn bao gồm cả cán bộ quản lý kỹ thuật.
41.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm và lấy mẫu.
Đề tài được tiến hành khảo nghiệm trực tiếp trên dây chuyền nên chúng tôi
áp dụng cách bố trí thí nghiệm ngẫu nhiên theo thời gian, cách bố trí như sau:
Lập phiếu bốc thăm có đánh ngày làm việc trong tháng để tiến hành chọn
ngày khảo nghiệm.
4.2. Phương tiện thực hiện khảo nghiệm đề tài
Các thiết bị dụng cụ đo bao gồm:
+ Các dụng cụ đo đạc thông số hình học: thước các loại (thước dây, thước kẹp…)
để đo chiều dài, kích thước của máy và hạt, lưới sàng, bộ phân tích sàng.
+ Các dụng cụ đo các thông số động học: đồng hồ bấm giờ, đồng hồ đo vận tốc, số
vòng quay, công suất của động cơ.
+ Các dụng cụ đo nhiệt độ, ẩm độ
+ Đo khối lượng, định lượng: các loại cân.
5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
5.1. Mô tả và giải thích nguyên lý làm việc của dây chuyền sản xuất thức ăn
viên chăn nuôi năng suất 1 tấn/giờ.
5
4
6
7
9
chuyển chúng vào buồng sấy để làm khô đến độ ẩm yêu cầu. Phía dưới buồng sấy
là buồng làm nguội bằng không khí bên ngoài.
Sản phẩm thoát khỏi buồng làm nguội nhờ cơ cấu gạt kiểu culit nằm phía
dưới buồng làm nguội để rơi vào máy sàng lắc phẳng. Sàng lắc phẳng 10 phân sản
phẩm ép viên đã được làm khô và thồi nguội thành 3 loại: Loại lớn, loại đạt yêu
cầu và loại nhỏ. Loại lớn được đưa đi làm nhỏ bằng máy nghiền, để cùng với sản
phẩm loại nhỏ đưa trở về ép viên lại. Sản phẩm đạt yêu cầu được vô bao để
chuyển giao, sử dụng hay lưu kho.
5.2. Nghiên cứu kết cấu và các thông số công nghệ của từng công đoạn:
5.2.1. Công đoạn nghiền:
Nhiệm vụ: Làm nhỏ nguyên liệu đến kích thước yêu cầu.
Công đoạn nghiện được thực hiện bằng máy nghiền kiểu búa va đập tự do,
có quạt lắp sau buồng nghiền và thu hồi sản phẩm bằng xyclon.
5.2.1.1. Cấu tạo máy nghiền TN - 250
Máy nghiền có xuất sứ do Bộ môn Máy Sau thu hoạch – Chế biến thiết kế,
chế tạo. Mã hiệu của máy TN – 250. Máy có cấu tạo như sau:
Bộ phận cấp liệu kiểu máng tự chảy theo phương tiếp tuyến với buồng
nghiền. Lượng cấp liệu được điều chỉnh bằng độ hở cửa cấp liệu. Máng cấp liệu
được làm từ thép tấm có chiều dày 2 mm. Để tăng cứng cho máng, miệng máng
cấp liệu được viền bằng các thanh thép góc đều cạnh L 50 x 50 x 4. Máng liên kết
với thân máy nghiền bằng các mối ghép bu lông. Vỏ buồng nghiền được làm bằng
thép tấm dày 10 mm. Bên trong thành buồng nghiền có bố trí các má đập phụ
được làm từ thép tấm dày 10 mm, khoan lỗ Φ 10. Nhờ cạnh sắc của miệng các lỗ
khoan làm tăng khả năng nghiền vỡ các phần tử nghiền. Rô to búa nghiền có
đường kính tính đến tâm lỗ chốt treo búa là Φ 400, đường kính tính đến đầu búa là
Φ 600. Các búa được bố trí thành 6 hàng và phân thành 3 ô bởi 4 đĩa lắp chốt treo
búa. Mỗi chốt treo búa lắp 6 búa. Các búa được bố trí trên đường xoắn ốc và ngăn
cách bởi bạc cách. Đĩa lắp chốt treo búa có đường kính Φ 475. Hai đĩa ngoài cùng
có chiều dày 10 mm, hai đĩa bên trong có chiều dày 4 mm. Các đĩa được hàn cứng
trên moay ơ có đường kính Φ 168. Rô to lắp búa có chiều dài 210 mm. Chốt treo
bằng túi vải.
+ Kích thước máy: Dài x Rộng x Cao: 3.150 mm x 2.500 mm x 3.450 mm.
+ Chiều rộng buồng nghiền 250mm.
+ Đường kính buông nghiền 620mm.
+ Số búa: 36 cái.
+ Kích thước búa: Dài x Rộng x Dày = 130 mm x 50 mm x 10 mm.
+ Kích thước sàng: 250 mm x 940 mm. Kích thước lỗ sàng gồm có Φ1,5; Φ2; Φ6;
Φ10.
+ Kích thước xyclon: Đường kính Φ 650, chiều cao 3.500 mm.
+ Công suất động cơ kéo rô to là 30 HP, kéo quạt là 5 HP.
+ Tốc độ quay của rô to và quạt là 2.450 vg/ph.
+ Năng suất thiết kế: Khi nghiền bắp hạt là 500 – 800 kg/h; khi nghiền khoai mỳ
lát là 1.500 – 2.000 kg/h.
Hình 5.2. Cấu tạo máy nghiền.(Vẽ lại – Vẽ sai)
1. Thân máy; 2.Rô to; 3. Chốt treo búa; 4. Má đập phụ; 5. Búa nghiền;
6.Sàng.
5.2.1.2. Hoạt động của máy nghiền TN - 250
Hoạt động của máy nghiền TN – 250 được mô tả như sau:
Nguyên liệu nghiền được cung cấp vào máy bằng thủ công. Tuỳ theo mức
độ mở của cửa điều chỉnh mà nguyên liệu rơi vào buồng nghiền nhiều hay ít phù
hợp với công suất kéo của động cơ điện. Với những nguyên liệu có kích thước bé,
dễ chuyển động như bắp hạt, gạo, hạt đậu nành thì quá trình chuyển động từ máng
cấp liệu là hoàn toàn tự chảy. Với những nguyên liệu có kích thước lớn như khoai
mỳ lát hay có hệ số ma sát với thép và góc dốc tự nhiên lớn thì cửa điều chỉnh
được mở tối đa và công nhân vận hành phải dùng tay để đẩy khối nguyên liệu
Tất cả các công đoạn đều được định lượng bằng cân thủ công theo công
thức phối trộn, công nhân định lượng đồng thời là công nhân đứng máy trộn. Số
người lao động là 2 người.
5.2.3. Công đoạn trộn:
Nhiệm vụ: Trộn đều các thành phần đã định.
Công đoạn trộn được thực hiện bằng máy trộn hỗn hợp bột khô, trộn gián
đoạn theo mẻ thực hiện trộn từng phần kiểu một trục vít thẳng đứng.
5.2.3.1. Cấu tạo máy trộn vít đứng MTVĐ - 500
Máy trộn có xuất sứ do Bộ môn Máy Sau thu hoạch – Chế biến thiết kế,
chế tạo. Mã hiệu của máy MTVĐ - 500. Máy có cấu tạo như sau:
Vỏ thùng làm bằng thép tấm dày 3 mm. Đường kính thùng trộn là Φ1.000,
đường kính ống bao vít và ống khuyếch tán là Φ 270. Góc côn phần hình nón là
600. Vít trộn có đường kính ngoài là Φ250, đường kính trong là Φ60. Cánh vít có
chiều dày 4 mm. Chiều cao của máy là 2.850 mm. Vít tải nhận truyền động trực
tiếp từ động cơ điện 3 pha có công suất 5 HP bằng bộ truyền động đai thang với tỷ
số truyền 0,33, số đai truyền động là 2, mã hiệu đai B 97. Mã hiệu gối đỡ - ổ bi
phía trên là F 210, mã hiệu ổ bi phía dưới là 7310.
Hình 5.3. Cấu tạo máy trộn MTVĐ – 500. (Vẽ lại cho đủ)
1. Máng nạp liệu; 2. Thùng chứa; 3. Ống khuyếch tán; 4.Vít tải;
5. Puly truyền động; 6.Cửa tháo liệu; 7. Động cơ điện.
Các thông số kỹ thuật:
+ Kiểu trộn:Trộn từng phần, gián đoạn kiểu 1 trục vít thẳng đứng.
+ Kích thước máy: Dài x Rộng x Cao: 1.650 mm x 1.350 mm x 2.850 mm.
+ Đường kính thùng trộn Φ 1.000, đường kính ống bao vít và ống khuyếch tán Φ
270.
+ Đường kính ngoài vít Φ250, đường kính trong Φ60, bước vít 200 mm.
Cấu tạo: (Về viết lại)
Hình 5.4. Cấu tạo vít tải đứng VTĐ - 220
Các thông số kỹ thuật: (Về viết lại)
Nguyên lý hoạt động: (Về viết lại)
5.2.4.2.
Si lô chứa thức ăn hỗn hợp chờ ép viên SL – 200
Nhiệm vụ: Dự trữ và cung cấp hỗn hợp đảm bảo cho quá trình ép viên được
liên tục, phát huy được năng suất ép viên tối đa.
Cấu tạo: (Về viết lại)
Hình 5.5. Cấu tạo Si lô SL - 200
Các thông số kỹ thuật: (Về viết lại)
Nguyên lý hoạt động: (Về viết lại)
5.2.4.3.
Băng tải nghiêng BTĐ - 500
Nhiệm vụ: Vận chuyển viên thức ăn sau khi ép đi sấy.
Cấu tạo: (Về viết lại)
Hình 5.5. Cấu tạo băng tải nghiêng BTĐ - 500
Các thông số kỹ thuật: (Về viết lại)
Nguyên lý hoạt động: (Về viết lại)
5.2.5. Công đoạn ép viên
Nhiệm vụ: Tạo hình viên thức ăn theoi kích thước và hình dáng qui định,
thoả mãn yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi.
5.2.5.1.