Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu - Pdf 38

A. MỞ ĐẦU :
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày
của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã
hội của Nhà Nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như
các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những phương tiện pháp lý
nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng đó của con người. Giao dịch dân
sự chính là một trong những phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu
dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ, nghĩa là giao dịch
dân sự tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào đời sống pháp lý để nhằm đáp
ứng những nhu cầu, đòi hỏi phục vụ cho những mục đích nhất định từ cuộc sống
con người. Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn
cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên,
trong thực tế đời sống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng
có thể sẽ bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu (về nguyên tắc chung giao dịch
dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm
xác lập). Đứng trước thực tế đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ
thống và toàn diện vấn đề “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của
việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều
kiện cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự hợp pháp, hiệu quả.
B. NỘI DUNG :
I. Khái quát về giao dịch dân sự :
Xét dưới góc độ cơ sở hình thành, giao dịch dân sự được hình thành từ
hai tiền đề sau:
- Tiền đề khách quan: Xã hội càng phát triển, con người càng tham gia
vào nhiều giao dịch dân sự khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình. Lịch sử xã
hội loài người đã chứng minh rằng một xã hội sẽ không phát triển nếu chỉ có
trao đổi hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Ngày nay, với sự phát triển nhanh
chóng của đời sống kinh tế - xã hội, các giao dịch dân sự nói chung, giao dịch
dân sự nói riêng là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể.
1

dân sự được coi là căn cứ phổ biến nhất làm phát sinh nghĩa vụ dân sự. Tuy
nhiên, việc xác lập giao dịch dân sự được thực hiện bởi các chủ thể với những
2


mục đích, nội dung cụ thể… phải phù hợp với quy định của pháp luật, có như
vậy thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từ giao dịch mới có thể được
bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
II. Giao dịch dân sự vô hiệu :
1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu :
Theo quy định tại Điều 127, BLDS 2005, chúng ta có thể hiểu về giao
dịch dân sự vô hiệu như sau:
“ Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một
trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định.”
Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu được xác định trên cơ sở các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể
hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lí mà các bên mong muốn đạt
được khi xác lập giao dịch dân sự đó. Ví dụ như: buôn bán vũ khí, buôn bán trẻ
con… Ngoài ra cần chú ý thêm ngoài ba điều kiện cơ bản theo khoản 1 Điều
122 BLDS 2005 thì còn một điều kiện nữa cũng xác định tính hiệu lực của giao
dịch dân sự đó là trường hợp liên quan đến hình thức của giao dịch được quy
định tại khoản 2 Điều 122 BLDS.
Khái quát lại, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một thể
thống nhất. Bởi vậy, để kết luận giao dịch dân sự có hiệu lực hay không cần
phải đặt nó vào tổng thể của mối quan hệ biện chứng này.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy
định tại Điều 136 BLDS 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ
ngày giao dịch được xác lập do người không đủ năng lực hành vi, do nhầm lẫn,
đe dọa, lừa dối hay do không tuân thủ các quy định bắt buộc về hình thức. Hết
thời hạn hai năm, chủ thể sẽ không còn quyền yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô

phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại điểm c khoản 122. Từ đó,
để đảm bảo quyển lợi của các bên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định: “ Khi
một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự
mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội
dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có
quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do
lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết
theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này. Như vậy, bản thân chủ thể xác lập
giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch có yếu tố nhầm lẫn
nếu chủ thể phía bên kia chỉ có lỗi vô ý. Trường hợp lỗi cố ý, tính chất của giao
4


dịch sẽ trở thành lừa dối chứ không đơn thuần là nhầm lẫn nữa. Phân tích cụ thể
hơn, nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thể hiện dưới ba dạng sau :
Một là. Nhầm lẫn về mục đích. Đó là sự không chính xác về ý chí của các
bên tham gia vào giao dịch dân sự đó. Ví dụ: A đưa cho B mượn một chiếc xe
đạp nhưng B lại cho rằng A cho mình chiếc xe đạp đó vì A đưa xe thì không
thấy A nhắc gì đến thời gian lấy lại.
Hai là, Nhầm lẫn về dối tượng của giao dịch dân sự bao gồm sự hình dung
sai về bản chất của đối tượng cũng như tính chất cơ bản của đối tượng giao dịch
mà các bên xác lập. Ví dụ: A đi mua một chiếc đồng hổ cổ, vì khi mua A nghĩ nó
là đồ cổ nhưng thực ra A đã nhầm với đồ Trung Quốc.
Ba là, Nhầm lẫn về chủ thể. Đây là sự nhầm lẫn liên quan đến phẩm chất,
tài năng của con người là những yếu tố mang tính chất quyết định để các bên
tham gia xác lập giao dịch. Ví dụ: A xem trên mạng và đi may tại nhà may của
ông B do A cứ nghĩ là ông B là thợ may giỏi nhưng thật sự A đã nhầm với
người thợ may khác do B với người đó tên giống nhau.
2.1.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do được thiết lập bởi người không nhận thức
được hành vi của mình ( Điều 133 BLDS 2005 ):

xuất… Như vậy, hành vi lừa dối có thể được bởi một trong giao dịch, nhưng
cũng có thể thực hiện bởi người thứ ba với lỗi cố ý. Múc đích của việc lừa dối là
nhằm làm cho ben kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất hoặc nội dung của giao
dịch.
“ Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứu ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha,
mẹ, vợ, chồng, con của mình. ” Đe dọa trong giao dịch dân sự là một bên chủ
thể tham gia giao dịch không có sự tự nguyện mà phải làm theo ý chí của chủ
thể khác. Hành vi đe dọa có thể được thực hiện từ chủ thể trong giao dịch hoặc
từ người thứ ba (thuê, nhờ người khác…). Đe dọa có thể về tinh thần hoặc thể
chất tuy nhiên không phải đe dọa nào cũng coi là hành vi trái pháp luật vì vậy
phải thỏa mãn các điều kiện như đe dọa phải có thực và mang tính chất nghiêm
trọng như nhận được lời đe dọa từ người khác, đe dọa khiến chủ thể bị tác động
và không thể làm khác… Ví dụ: A nhập khẩu từ công ty B 1000 máy tính mới,
1

6


nhưng qua kiểm tra thì toàn máy tính đã qua sử dụng, A yêu cầu B hoàn trả tiền
nhưng B đã đe dọa sẽ nói chuyện A ngoại tình cho vợ A và mọi người biết như
vậy nếu A kiện ra tòa thì theo điều 132 BLDS 2005 giao dịch dân sự này sẽ vô
hiệu và A sẽ nhận lại đựoc tiền của mình.
2.1.4. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập ( Điều
130 BLDS 2005):
Không phải bất kì ai cũng đều có thể trở thành chủ thể của giao dịch dân sự.
Điều kiện về chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 122 BLDS 2005: “ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi

Đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mong
muốn sự thể hiện một ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định mặc dù ý
chí đó không phải là ý chí đích thực. Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự được
xác định do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập để nhằm che giấu một giao
dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều
129, BLDS 2005 đã phan chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thành
hai trường hợp:
- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao
dịch khác:
Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song song tồn tạiđó là giao dịch đích thực ( bên trong ) và giao dịch giả tạo ( bên ngoài ). Ví dụ:
Ông A tặng cho con út của mình là B một ngôi nhà, nhưng vì sợ gây mâu thuẫn
giữa những người con, ông A và B đã ký hợp đồng mua bán nhà.
- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ
với người thứ ba
+ Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với một
chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này chủ thể đã xác lập giao dịch giả
tạo. Ví dụ: Để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, A đã ký hợp đồng giả tạo bán nhà
cho người thân của mình là B để tránh trường hợp ngôi nhà đó có thể bị xử lý
để thực hiện nghĩa vụ.
+ Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ
nhất định đối với Nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo.Ví
dụ: A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B nhưng nhằm trốn tránh nghĩa vụ
8


nộp thuế chuyển quyển sử dụng đất, A và B đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất.
2.2.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội ( Điều 128 BLDS 2005 ):


3

Nếu trái quy định này, khi phát sinh tranh chấp, sau thời hạn Tòa án quyết định
cho các bên thực hiện lại hình thức đúng của giao dịch theo pháp luật mà hình
thức vẫn bị vi phạm thì giao dịch đó là giao dịch vô hiệu.
III. Hậu quả pháp lí của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu :
1. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CHUNG ĐỐI VỚI GIAO DICH DÂN SỰ VÔ
HIỆU
Theo điều 121 BLDS 2005: "giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi
pháp lý đơn phương..." mặt khác, Điều 410 có chỉ rõ: các quy định về giao dịch
dân sự vô hiệu từ điều 127 đến điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối
với hợp đồng vô hiệu, khi đó xem xét hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu cần
căn cứ vào quy định giao dịch dân sự để xem xét.
Thứ nhất, Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt
quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, do đó, khi hợp đồng này vô hiệu thì đương
nhiên các thỏa thuận đó cũng không đạt được. Điều 137 BLDS 2005, khoản 1
quy định "giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập".
Về nguyên tắc, BLDS 2005 và BLDS 1995 không có gì thay đổi về hậu
quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bởi theo điều 146 BLDS 1995 "giao
dịch dân sự vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm
xác lập" .Như vậy, khi hợp đồng vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên
không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nếu hợp đồng mới xác lập mà chưa
thực hiện thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp đang thực
hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện thì các bên xử
lý tài sản.Tuy nhiên cũng nhận thấy điểm mới của BLDS 2005 so với BLDS
1995, đó là việc bên cạnh không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên,

hiệu, một bên đã khai thác xây dựng bổ sung trên tài sản có tranh chấp. Trong
trường hợp này khôi phục lại tình trạng ban đầu như thế nào?
Theo pháp luật Việt Nam, khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các bên phải
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và "nếu không hoàn trả được bằng hiện vật
thì phải hoàn trả bằng tiền". BLDS 2005 quy định như vậy nhưng lại không nêu
rõ khi nào "không hoàn trả được bằng hiện vật" và "hoàn trả bằng tiền" được
11


hiểu là bao nhiêu?Trong điểm b mục 1 phần II Nggị quyết số 04/ 2003/NQHDTP quy định: "không thể hoàn trả được tài sản đã nhận bằng hiện vật khi tài
sản đã được nhận từ việc thực hiện hợp đồng kinh tế đã được đưa vào khai thác,
sử dụng"
Trong trường hợp có tài sản bổ sung gắn liền với tài sản phải hoàn trả và
làm tăng giá trị tài sản này, việc tháo bỏ nó là không cần thiết vì đối với nhiều
tài sản, việc tháo bỏ sẽ làm mất giá trị của phần tăng thêm đồng thời tốn nhiều
thời gian và công sức một cách không cần thiết, do đó không nên buộc phải tháo
bỏ khi có thể.
Song trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức bị tịch thu theo quy
định của pháp luật thì việc áp dụng khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận không được thực hiện.
Thứ tư, Bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, theo điều
137 BLDS, "bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường". Đây không phải là điều
mới của BLDS 2005 vì nguyên tắc này cũng đã tồn tại trong BLDS 1995. Như
vậy, để buộc một bên bồi thường thì chúng ta phải xác định hai yếu tố:1- yếu tố
có lỗi; 2- thực tế phải tồn tại thiệt hại.
Bên cạnh những hậu quả pháp lý trên, trong trường hợp hợp đồng vô hiệu
là hợp đồng chính thì sẽ làm chấm dứt hợp đồng phụ bởi lẽ hợp đồng phụ phát
sinh từ hợp đồng chính, hợp đồng chính là cơ sở để hình thành nên hợp đồng
phụ do đó khi hợp đồng chính vô hiệu thì căn cứ phát sinh hợp đồng phụ không
còn nữa. Do đó hợp đồng phụ không thể đương nhiên có hiệu lực khi hợp đồng

hành kiểm tra sức khỏe của bà Nguyễn Thu Hương tại bệnh viện đa khoa thị xã
Cẩm Phả. Kết quả khám cho thấy bà bị bệnh tim lâu năm – bệnh thuộc trường
hợp không được chấp nhận bảo hiểm. Trên thực tế tại thời điểm giao kết hợp
đồng (14/2/2008), bà Nguyễn Thu Hương đã cố ý không kê khai đúng tình
trạng bệnh tật của mình thông qua việc trả lời “không” đối với các câu hỏi liên
quan đến tình trạng bênh tật hiện tại trong giấy yêu cầu bảo hiểm, trong khi sự
thật khách quan là bà đã và đang phải điều trị bệnh tim từ năm 20 tuổi ( đã được
ghi nhận trong hồ sơ bệnh án và giấy kiểm tra sức khỏe ). Công ty TNHH
Prudential đã quyết định đình chỉ việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm với bà
Nguyễn Thu Hương vào ngày 14/7/2009, không hoàn lại số phí bảo hiểm đã
nộp tính đến ngày đình chỉ, cũng như không chịu trách nhiệm về những rủi ro
đã phát sinh.
Bức xúc về việc làm của công ty bảo hiểm, ngày 20/8/2009, bà Hương đã
đệ đơn ra tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh kiện công ty TNHH
Prudential, yêu cầu công ty bảo hiểm phải hoàn trả lại số tiền bảo hiểm mà bà
đã đóng, đồng thời hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về những rủi ro phát sinh
15


trong thời gian giao kết hợp đồng bảo hiểm, vì bà cho rằng mình không có nghĩa
vụ phải thông báo đầy đủ tình trạng sức khỏe trong giấy yêu cầu bảo hiểm. Vụ
việc chưa đc cơ quan nhà nước giải quyết.
2. Hướng giải quyết của cá nhân:
Theo các chi tiết của vụ việc trên, tôi nhận định rằng bà Nguyễn Thu
Hương đã có hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng bảo hiểm với công ty trách
TNHH Prudential thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh). Tôi xin đề xuất cách giải quyết
vụ việc trên như sau:
Thứ nhất, do bà Nguyễn Thu Hương 50 tuổi, trú tại tổ 1, phường Cẩm
Trung thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) đã có hành vi lừa dối trong giao kết hợp
đồng, căn cứ vào điều 132 BLDS 2005 “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự

như giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 BLDS năm 2005 đã
thực sự đáp ứng được rất nhiều yêu cầu thực tế phát sinh trong đời sống và
trong các giao dịch diễn ra hàng ngày. Các điều luật này đã giải quyết được
những giao dịch có yếu tố vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
quy định tại Điều 122 BLDS 2005, đảm bảo cho việc thiết lập các giao dịch đó
được pháp luật bảo vệ. Nhờ có quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh, khi phát
sinh mâu thuẫn, tranh chấp có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia giao dịch được giải quyết nhanh chóng và chính xác. Đồng thời, các
điểm điều khoản như quy định thế nào là nhầm lẫn, đe dọa, lừa dối, hay vi phạm
điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ... cũng là yếu tố khiến người tham
gia giao dịch tự xác định được hành vi của mình. Mặt khác có tính răn đe, cảnh
cáo với những đối tượng có chủ ý vi phạm pháp luật nhằm xác lập giao dịch.
Đây cũng là cơ sở pháp lí rõ ràng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự cụ thể, rõ ràng, chính xác; đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của các cá nhân, pháp nhân và cả Nhà nước; đảm bảo an toàn pháp lí cao cho
các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự. Đồng thời là cơ sở vững chắc cho
việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ đối với bên chủ thể có lỗi.
Việc ghi nhận quy phạm giao dịch dân sự vô hiệu cũng có ý nghĩa vô cùng to
lớn, quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỉ cương xã hội, tăng cường việc xây
dựng Nhà nước ta thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh việc thừa nhận quy phạm về giao dịch dân sự vô hiệu được xác lập
bởi nhiều yếu tố trong BLDS 2005, muốn để thực sự điều luật được phát huy tối đa
vai trò của mình trong đời sống cần có một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức
pháp luật của người dân như tuyên truyền, vận động, thuyết phục; giáo dục ý thức
17


thực hiện đúng, nghiêm chỉnh pháp luật để hạn chế hành vi lừa dối, đe dọa, tạo môi
trường cho giao dịch dân sự được thiết lập một cách tốt nhất, đảm bảo được đầy đủ
nhất các quyền lợi cũng như nghĩa vụ pháp lí phát sinh của các bên chủ thể trong

luật, sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình. Về phía
các cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì các thủ tục tiến hành thụ lí và xét xử
còn rườm rà, phức tạp khiến người dân gặp khó khăn trong việc khởi kiện và
yêu cầu đảm bảo cho quyền lợi hợp pháp của mình. Cũng như chưa có các hình
thức, tuyên truyền, phổ biến pháp luật để pháp luật bảo vệ cho lợi ích hợp pháp
của các bên chủ thể tham gia giao dịch đi sâu vào thực tế đời sống. Đôi khi việc
áp dụng pháp luật còn gò bó, khiên cưỡng, máy móc chưa linh hoạt cũng gây trở
ngại với người dân.
C. KẾT LUẬN :
Thực tiễn đời đống pháp luật dân sự vô cùng đa dạng, phong phú. Để đáp ứng
những đòi hỏi ngày một tăng của cuộc sống cũng như thỏa mãn nhu cầu của các
chủ thể, những quy định về giao dịch dân sự cần ngày một được hoàn thiện hơn.
Bản thân các chủ thể khi tham gia vào giao dịch dân sự cũng cần trang bị cho
mình một hiểu biết cụ thể, chính xác, mang tính hệ thống về “ Giao dịch dân sự
vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu” để đảm
bào quyền lợi cho chính mình. Có thể nói, những quy định của pháp luật về vấn
để nêu trên chính là “ cẩm nang” cho tất cả mọi người tự tin tham gia vào các
giao dịch dân sự.
Do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu xót.
Rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô để bài viết của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.

19


A. MỞ ĐẦU :
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày
của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã
hội của Nhà Nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như
các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những phương tiện pháp lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status