Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu - Pdf 26

A. MỞ ĐẦU :
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày
của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã
hội của Nhà Nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như
các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những phương tiện pháp lý
nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng đó của con người. Giao dịch dân
sự chính là một trong những phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu
dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ, nghĩa là giao dịch
dân sự tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào đời sống pháp lý để nhằm đáp
ứng những nhu cầu, đòi hỏi phục vụ cho những mục đích nhất định từ cuộc sống
con người. Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn
cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên,
trong thực tế đời sống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng
có thể sẽ bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu (về nguyên tắc chung giao dịch
dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm
xác lập). Đứng trước thực tế đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ
thống và toàn diện vấn đề “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của
việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều
kiện cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự hợp pháp, hiệu quả.
B. NỘI DUNG :
I. Khái quát về giao dịch dân sự :
Xét dưới góc độ cơ sở hình thành, giao dịch dân sự được hình thành từ
hai tiền đề sau:
- Tiền đề khách quan: Xã hội càng phát triển, con người càng tham gia
vào nhiều giao dịch dân sự khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình. Lịch sử xã
hội loài người đã chứng minh rằng một xã hội sẽ không phát triển nếu chỉ có
trao đổi hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Ngày nay, với sự phát triển nhanh
chóng của đời sống kinh tế - xã hội, các giao dịch dân sự nói chung, giao dịch
dân sự nói riêng là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể.
1

2
mục đích, nội dung cụ thể… phải phù hợp với quy định của pháp luật, có như
vậy thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từ giao dịch mới có thể được
bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
II. Giao dịch dân sự vô hiệu :
1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu :
Theo quy định tại Điều 127, BLDS 2005, chúng ta có thể hiểu về giao
dịch dân sự vô hiệu như sau:
“ Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong
các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định.”
Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu được xác định trên cơ sở các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể
hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lí mà các bên mong muốn đạt
được khi xác lập giao dịch dân sự đó. Ví dụ như: buôn bán vũ khí, buôn bán trẻ
con… Ngoài ra cần chú ý thêm ngoài ba điều kiện cơ bản theo khoản 1 Điều
122 BLDS 2005 thì còn một điều kiện nữa cũng xác định tính hiệu lực của giao
dịch dân sự đó là trường hợp liên quan đến hình thức của giao dịch được quy
định tại khoản 2 Điều 122 BLDS.
Khái quát lại, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một thể
thống nhất. Bởi vậy, để kết luận giao dịch dân sự có hiệu lực hay không cần
phải đặt nó vào tổng thể của mối quan hệ biện chứng này.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy
định tại Điều 136 BLDS 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ
ngày giao dịch được xác lập do người không đủ năng lực hành vi, do nhầm lẫn,
đe dọa, lừa dối hay do không tuân thủ các quy định bắt buộc về hình thức. Hết
thời hạn hai năm, chủ thể sẽ không còn quyền yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô
hiệu nữa. Và cũng theo Điều 136b BLDS 2005, những giao dịch vi phạm điều
cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch giả tạo thì không bị hạn chế về
thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố không có hiệu lực bởi đây là những giao dịch
mà mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Nghĩa là bất cứ lúc nào chủ thể

lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết
theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này. Như vậy, bản thân chủ thể xác lập
giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch có yếu tố nhầm lẫn
nếu chủ thể phía bên kia chỉ có lỗi vô ý. Trường hợp lỗi cố ý, tính chất của giao
4
dịch sẽ trở thành lừa dối chứ không đơn thuần là nhầm lẫn nữa. Phân tích cụ thể
hơn, nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thể hiện dưới ba dạng sau :
Một là. Nhầm lẫn về mục đích. Đó là sự không chính xác về ý chí của các
bên tham gia vào giao dịch dân sự đó. Ví dụ: A đưa cho B mượn một chiếc xe
đạp nhưng B lại cho rằng A cho mình chiếc xe đạp đó vì A đưa xe thì không thấy
A nhắc gì đến thời gian lấy lại.
Hai là, Nhầm lẫn về dối tượng của giao dịch dân sự bao gồm sự hình dung
sai về bản chất của đối tượng cũng như tính chất cơ bản của đối tượng giao dịch
mà các bên xác lập. Ví dụ: A đi mua một chiếc đồng hổ cổ, vì khi mua A nghĩ nó
là đồ cổ nhưng thực ra A đã nhầm với đồ Trung Quốc.
Ba là, Nhầm lẫn về chủ thể. Đây là sự nhầm lẫn liên quan đến phẩm chất,
tài năng của con người là những yếu tố mang tính chất quyết định để các bên
tham gia xác lập giao dịch. Ví dụ: A xem trên mạng và đi may tại nhà may của
ông B do A cứ nghĩ là ông B là thợ may giỏi nhưng thật sự A đã nhầm với người
thợ may khác do B với người đó tên giống nhau.
2.1.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do được thiết lập bởi người không nhận thức
được hành vi của mình ( Điều 133 BLDS 2005 ):
Đây là trường hợp bản thân chủ thể vẫn hoàn toàn nhận thức, làm chủ được
hành vi của mình nhưng đúng vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự thì họ lại
không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Ví dụ: A có một mảnh
vườn rất rộng và đẹp, B rất muốn mua đất của A nhưng dù có ra giá bao nhiêu A
vẫn không chịu bán, trong lúc A say rượu B đã đưa hợp đồng mua – bán nhà cho
B kí. Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của bản thân khi xác lập
giao dịch thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của chủ thể khi xác lập

thứ ba (thuê, nhờ người khác…). Đe dọa có thể về tinh thần hoặc thể chất tuy
nhiên không phải đe dọa nào cũng coi là hành vi trái pháp luật vì vậy phải thỏa
mãn các điều kiện như đe dọa phải có thực và mang tính chất nghiêm trọng như
nhận được lời đe dọa từ người khác, đe dọa khiến chủ thể bị tác động và không
thể làm khác… Ví dụ: A nhập khẩu từ công ty B 1000 máy tính mới, nhưng qua
kiểm tra thì toàn máy tính đã qua sử dụng, A yêu cầu B hoàn trả tiền nhưng B đã
đe dọa sẽ nói chuyện A ngoại tình cho vợ A và mọi người biết như vậy nếu A kiện
1
6
ra tòa thì theo điều 132 BLDS 2005 giao dịch dân sự này sẽ vô hiệu và A sẽ nhận
lại đựoc tiền của mình.
2.1.4. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập ( Điều 130
BLDS 2005):
Không phải bất kì ai cũng đều có thể trở thành chủ thể của giao dịch dân sự.
Điều kiện về chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 122 BLDS 2005: “ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi
dân sự.”
2
Trong đó, “ Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá
nhân bằng hành vi của mình được xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.”
Khi một giao dịch dân sự đã được xác lập, người ta còn quan tâm đến đến khả
năng thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể cũng như khả năng
gánh chịu trách nhiệm dân sự do hành vi vi phạm pháp luật gây nên. Trong khi
đó, người không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi không đầy đủ thì
không thể có đủ điều kiện để tự do thực hiện ý chí của mình, không đủ độ tuổi
hoặc khả năng nhận thức để ý đúng về giao dịch và gánh chịu hậu quả phát sinh
từ giao dịch.
Tuy nhiên giao dịch do những người này xác lập không mặc nhiên bị coi
là vô hiệu, mà chỉ vô hiệu khi có yêu cầu của những người đại diện cho họ. Ví


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status