giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân,
pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ
dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất,
kinh doanh. Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của giao dịch dân
sự, Bộ luật dân sự (BLDS) nước ta đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ và
tương đối hoàn thiện về việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự. Các quy định đó của BLDS đã tạo ra hành lang
pháp lý thông thoáng và an toàn cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự,
tạo nên sự ổn định của các quan hệ tài sản trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, góp phần vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới.
Thực tiễn giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) thì vấn đề giải quyết
các hậu quả khi giao dịch dân sự vô hiệu không thuần túy chỉ căn cứ vào quy
định của BLDS, mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có sự thỏa thuận
của các bên khi tham gia giao dịch hoặc phụ thuộc vào thời điểm phát sinh,
như giao dịch được xác lập trước ngày ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự,
trước khi BLDS có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện BLDS, bên cạnh
những mặt tích cực, còn có thực trạng là các tranh chấp về dân sự, nhất là
tranh chấp về giao dịch dân sự vẫn có xu hướng gia tăng, trong đó các giao
dịch dân sự vô hiệu do vi phạm về điều kiện có hiệu lực của giao dịch chiếm
1
tỷ lệ không nhỏ. Việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu
quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp nhất ngành
Tòa án đang gặp phải. Có không ít vụ án đã được xét xử nhiều lần, với nhiều
cấp xét xử khác nhau (kể cả cấp xét xử cao nhất là Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao (TANDTC)) nhưng cũng vẫn còn những thắc mắc, vẫn
có những quan điểm khác nhau, gây ra nhiều tranh luận phức tạp.

hậu quả pháp lý của nó Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các công
trình có liên quan thì chưa có công trình nào giải quyết vấn đề này một cách
toàn diện và thấu đáo. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Giao dịch dân sự vô
hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" không
bị trùng lắp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
a) Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc
điểm pháp lý về giao dịch dân sự và chủ yếu là giao dịch dân sự vô hiệu; làm
rõ ý nghĩa của chế định giao dịch dân sự vô hiệu trong chế định chung về giao
dịch; làm rõ căn cứ pháp lý xác định giao dịch dân sự vô hiệu và phân tích
thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu. Ngoài ra,
khi nghiên cứu thực trạng, đánh giá hiệu quả điều chỉnh của các quy định
pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu và thực tiễn việc giải quyết hậu quả
pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, trong luận án có đề xuất một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm tính khả thi khi áp
dụng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện tại TAND làm cho
3
pháp luật về giao dịch dân sự thực sự là một trong những "công cụ pháp lý
thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước".
b) Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận án này phải thực hiện được
các nhiệm vụ:
- Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giao
dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô
hiệu;
- Lược sử quá trình điều chỉnh pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự
vô hiệu qua các thời kỳ và quy định của một số nước trên thế giới về giao
dịch dân sự vô hiệu để làm nổi bật tính kế thừa truyền thống và những bước phát

6. Những điểm mới của luận án
Luận án đã tham khảo và phân tích lịch sử phát triển các quy định về
giao dịch dân sự vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật dân
sự một số nước trên thế giới. Qua việc phân tích, luận giải, luận án đã làm
sáng tỏ tính kế thừa và sự phát triển các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu.
Luận án đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn áp dụng các quy định về
giao dịch dân sự vô hiệu; đã tổng hợp một số quan điểm và đưa ra khái niệm
khoa học mới về: giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu, nêu khái quát
chung về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
5
Từ việc phân tích các quy định: điều kiện có hiệu lực của giao dịch,
các căn cứ pháp lý xác định giao dịch dân sự vô hiệu, hậu quả pháp lý của
giao dịch dân sự vô hiệu trong hệ thống pháp luật thực định, luận án đã phân
tích những hiệu quả tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản, đồng
thời chỉ ra một số hạn chế, chưa khả thi. Cùng với những phân tích các quy
định trong pháp luật thực định, luận án còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình
trạng hạn chế khi áp dụng và đưa ra những kiến nghị trong việc hướng dẫn áp
dụng pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất khi thực thi pháp luật. Luận án
đã đề xuất hướng và đường lối giải quyết hậu quả pháp lý khi giao dịch dân
sự bị vô hiệu, nhất là vấn đề xác định thiệt hại, cách tính thiệt hại.
Sau khi phân tích các cơ sở lý luận, thực tiễn áp dụng hậu quả pháp lý
đối với giao dịch dân sự vô hiệu, luận án đã có những kiến nghị cụ thể về sửa
đổi, bổ sung và loại bỏ các quy định không còn phù hợp với thực tế nhằm
hoàn thiện pháp luật thực định. Cụ thể là: kiến nghị kết cấu lại chương 5
BLDS quy định về giao dịch dân sự. Các quy định này không nên để tại phần
thứ nhất BLDS mà chuyển về phần hợp đồng và phần thừa kế sẽ phù hợp hơn.
Bỏ Điều 136 BLDS vì không cần thiết; loại bỏ điều kiện không tuân thủ quy
định về hình thức của giao dịch để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu; sửa đổi
các Điều 141, BLDS về vấn đề nhầm lẫn, Điều 142 BLDS về lừa dối, đe doạ
dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu…

Plulur đã dự đoán: "Hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật hiện hành,
và đến lúc nào đó tất cả các điều khoản của bộ luật, từ điều khoản thứ nhất
đến điều khoản cuối cùng đều quy định về hợp đồng" [24, tr. 2].
Trên thế giới hiện nay, quá trình phát triển của chế định giao dịch ở
mỗi quốc gia tuy có những đặc thù riêng, nhưng cũng không nằm ngoài quỹ
đạo chung. Đó là: luôn nâng cao vị trí, vai trò của chế định giao dịch trong hệ
thống pháp luật, nhất là trong nền kinh tế thị trường, nơi mà mọi dịch vụ và
tài sản, hàng hóa phải được tự do chuyển dịch theo ý chí của các chủ thể và
chỉ bị can thiệp trong các trường hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật
hoặc có sự tranh chấp giữa các chủ thể. Chính vì thế mà vai trò của giao dịch
nói chung và giao dịch dân sự nói riêng càng được thể hiện lớn hơn và giữ
một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, các nhà khoa học pháp lý
cũng như các nhà lập pháp tiếp cận giao dịch dưới những góc độ khác nhau
mà đưa ra các chế định khác nhau về giao dịch, về những quy định chung của
giao dịch dân sự. Ví dụ, BLDS của nước Cộng hòa Pháp không đưa ra chế
định giao dịch dân sự mà chỉ đưa ra chế định hợp đồng dân sự và chế định
thừa kế, còn đối với BLDS và thương mại Thái Lan, BLDS Nhật Bản đưa ra
chế định hành vi pháp lý bao trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế
theo di chúc. Nhìn chung, pháp luật của phần lớn các nước đều không có khái
niệm về giao dịch dân sự, mà khái niệm về giao dịch dân sự chỉ đề cập đến
dưới góc độ khoa học.
Dưới góc độ khoa học, các nhà khoa học Nhật Bản đề cập "giao dịch
dân sự là hành vi hợp pháp nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ dân sự" [3, tr. 114]. Với khái niệm này, các nhà khoa học
Nhật Bản không nêu ra loại giao dịch cụ thể nào mà nó là tất cả những hành vi tự
8
nguyện của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm thu được một
kết quả nhất định và các hành vi này không trái với pháp luật. Khi tham gia vào
các quan hệ dân sự sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể

như: giao dịch dân sự là hành vi pháp lý hợp pháp biểu hiện ý chí của một
hoặc nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự.
Nhìn chung, dù các nhà khoa học pháp lý có đưa ra khái niệm về giao
dịch dân sự dưới góc độ nào đi chăng nữa, thì đều khẳng định giao dịch dân
sự bao gồm hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương.
Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch phổ biến nhất, thông dụng nhất
nó phát sinh thường xuyên trong đời sống hàng ngày của chúng ta và giữ vị trí
vô cùng quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay. Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp bảo đảm
cho việc vận động của hàng hóa và tiền tệ, chính vì lẽ đó mà pháp luật về hợp
đồng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
"Pháp luật về hợp đồng được coi như hộ chiếu cho phép đi vào tất cả các lĩnh
vực. Về phương diện chính trị và pháp lý, hợp đồng là phương tiện pháp lý
cho phép các bên có thể phát triển trong xã hội, thậm chí không phụ thuộc vào
xã hội" [81, tr. 5]. Hợp đồng có thể diễn ra giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá
nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau, các bên tự do
thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt mục đích nhất định về
10
vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội của
Quốc gia và của thế giới, mà các chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh.
Sự tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao dịch dân sự thường là
sự bàn bạc, đi đến thống nhất ý chí của các bên trong việc làm phát sinh thay,
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Việc thỏa thuận này
không bị cản trở bởi bất cứ yếu tố chủ quan và khách quan nào, trừ trường hợp
trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ, các bên tham gia ký kết hợp đồng
mua bán một chiếc xe máy, chủ sở hữu và người mua chiếc xe này có quyền tự
do, bàn bạc thỏa thuận giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao
xe
Trong thực tế thì sự tự do, thỏa thuận mới chỉ là điều kiện cần nhưng

điểm này đã được sự đồng tình của phần lớn các nhà khoa học trên thế giới.
Tuy nhiên, có quan điểm khác lại cho rằng, để bảo vệ quyền lợi cho người sử
dụng dịch vụ, tránh hiện tượng gây bất bình đẳng trong giao dịch và độc
quyền, cần phải hạn chế sử dụng các loại hợp đồng này.
Một số quốc gia coi pháp luật về hợp đồng dân sự là bao gồm quy
định mang tính nguyên tắc chung để điều chỉnh các loại hợp đồng, còn luật
thương mại được coi là luật chuyên biệt để điều chỉnh hợp đồng thương mại.
Ví dụ, ở Nhật Bản thì giao dịch dân sự có tính chất thương mại giữa các
thương gia sẽ do luật chuyên biệt điều chỉnh mặc dù về lý luận người ta vẫn thừa
nhận đó là một dạng cụ thể của giao dịch dân sự. Trong khi đó ở Việt Nam khái
niệm về hợp đồng được phân biệt rạch ròi giữa luật dân sự, luật kinh tế, luật
12
thương mại, nhưng ba loại hợp đồng này lại không có nguyên tắc chung để
phân loại, do đó gây khó khăn khi áp dụng [115, tr. 58].
Hành vi pháp lý đơn phương là hoạt động thể hiện ý chí của một bên
nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà
không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Ví dụ, một người trước khi chết lập di
chúc hợp pháp để lại cho người khác di sản của mình. Bằng hành vi lập di
chúc này, người đó đã thể hiện ý chí cá nhân của mình để định đoạt tài sản mà
họ có, không phụ thuộc vào ý chí của bên nhận di sản (trừ trường hợp người
nhận di sản từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 645 BLDS), người
nhận di sản có quyền được sở hữu tài sản chuyển giao theo di chúc. Như vậy,
ý chí của người để lại di chúc không phụ thuộc vào ý chí của người khác
nhưng bằng hành vi lập di chúc theo đúng quy định của pháp luật làm phát
sinh một loại quan hệ pháp luật thuộc giao dịch dân sự.
Trên thực tế, thông thường hành vi pháp lý đơn phương do một chủ
thể thực hiện, nhưng cũng có thể do nhiều chủ thể thực hiện (nhiều cá nhân
hay một tổ chức cùng hứa thưởng ). Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý
đơn phương chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự theo các điều kiện. Nếu
không đáp ứng điều kiện đó thì không thể coi đó là giao dịch dân sự được.

ngang bằng nhau trên mọi lĩnh vực, có bên mạnh bên yếu về kinh tế, cho nên
dẫn tới sự bất bình đẳng giữa các bên và bên yếu hơn sẽ phải phụ thuộc vào ý
chí của bên mạnh hơn. Do đó, nguyên tắc độc tôn về ý chí chỉ mang tính chất
hình thức. Chính vì lẽ đó mà giao dịch không còn ý nghĩa để các chủ thể tham
gia với mục đích thỏa mãn nhu cầu của mình nữa. Mặt khác, khi các chủ thể
14
tham gia vào giao dịch để thỏa mãn nhu cầu của mình nhiều khi đã bất chấp
cả sự thiệt hại của người khác cũng như lợi ích công cộng. Do vậy, sự cần
thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào các giao dịch này, nên nguyên tắc
này đã không tồn tại được lâu. Nhà nước ban hành ra pháp luật để điều chỉnh
sao cho các chủ thể tham gia vào giao dịch không bị ép buộc và đồng thời
không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác cũng như lợi ích công
cộng. Từ thực tế này các khái niệm về: lạm dụng, ngay tình và công bằng đã
được hình thành.
Xuất phát từ sự bất bình đẳng trong hợp đồng, khái niệm lạm dụng
được hình thành trong pháp luật của Cộng hòa Pháp năm 70, để điều chỉnh
trong trường hợp một bên là thương gia đơn phương đặt ra các điều kiện và
ghi sẵn vào hợp đồng và đưa cho người có nhu cầu tiêu dùng ký vào hợp đồng
đó mà không có sự lựa chọn nào khác. Khi một hợp đồng có chứa đựng hai
tiêu chí, đó là: lạm dụng thế mạnh về kinh tế để áp dụng các điều khoản và
điều đó chỉ mang lại lợi ích thái quá cho nhà kinh doanh thì sẽ bị hủy bỏ.
Đối với khái niệm về ngay tình, ban đầu được hiểu sự ngay tình chính
là sự thực hiện nghiêm chỉnh những nội dung, điều kiện trong giao dịch cũng
như trong pháp luật quy định. Các bên không được có hành vi cản trở nhau
thực hiện nghĩa vụ này. Nhưng về sau sự phát triển của giao dịch ngày càng
cao với cách giải thích này không còn phù hợp nữa. Lúc này người ta hiểu sự
ngay tình ngoài cách hiểu trên còn được hiểu cả theo nghĩa hợp tác cùng nhau
thực hiện. Tức là, ngoài việc các bên thực hiện những nghĩa vụ trong giao
dịch ra còn phải thực hiện cả việc tạo điều kiện như cung cấp thông tin cần
thiết cho các bên cùng tham gia [96, tr. 9].

hợp đồng tín dụng; hợp đồng vận chuyển hành khách; hợp đồng cung cấp
thông tin, điện, nước; các dịch vụ cung cấp hàng tiêu dùng
Như vậy, xét về mặt khách quan thì ý chí chung của giao dịch được
thể hiện, vì cả bên cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ đều mong muốn
tham gia và quan hệ giao dịch, ở đây không có sự cưỡng ép, họ đều hoàn toàn
tự nguyện. Tuy nhiên, thực tế nhiều khi bên nhận dịch vụ gia nhập vào giao
dịch này là hoàn toàn miễn cưỡng vì không còn sự lựa chọn nào khác buộc
phải chấp nhận, không hề biết các điều khoản quy định sẵn đó bất lợi cho họ
phải gánh chịu những tổn thất từ các điều khoản này. Để khắc phục vấn đề
này có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, cần công nhận
loại giao dịch này nhưng tạo điều kiện bên nhận dịch vụ bác bỏ các điều
khoản không phù hợp đối với họ. Có quan điểm lại cho rằng, cần phải công
nhận toàn bộ các điều khoản như hiện nay và chỉ không công nhận trong
trường hợp người tham gia vào giao dịch không được cung cấp thông tin đầy
đủ hoặc thông tin sai sự thật, thông tin vượt quá tầm hiểu biết chung. Quan
điểm này vẫn được phần lớn các nhà khoa học đồng tình, vì cho rằng khi ký
họ đã thể hiện ý chí của mình [66, tr. 55-57].
Thứ ba: Chế tài trong giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất
linh hoạt. Pháp luật của phần lớn các nước trên thế giới hiện nay đều xây
dựng các chế định của giao dịch dân sự trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự
do cam kết và xác định chế tài. Đây là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói
chung cũng như về giao dịch dân sự nói riêng. Vấn đề này hiện nay đang có
hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ nhất cho rằng, đơn giản hóa việc quy
tắc, giảm bớt số lượng, sự phức tạp các điều luật mang tính chất chung và có
kết cấu một cách đơn giản nhưng mạch lạc, dễ hiểu. Xu hướng thứ hai thì cho
17
rằng, cần quy định nhiều điều khoản chi tiết rõ ràng, sẽ làm cho pháp luật
phong phú hơn.
Pháp luật của những nước xây dựng pháp luật về giao dịch theo hệ thống
án lệ được xây dựng theo hướng thứ hai. Do sử dụng án lệ nên rất dễ dàng thích

thực, còn phải đặt ra những quy phạm pháp luật bảo vệ lợi ích chung của xã
hội, trong đó có lợi ích của chính các chủ thể tham gia giao dịch.
Từ những phân tích trên và qua việc xác định đặc điểm chung của
giao dịch dân sự, có thể đi đến một khái niệm khoa học về giao dịch dân sự như
sau:
Giao dịch dân sự là một loại hình hoạt động của con người (cá nhân,
tổ chức ) thông qua đó các chủ thể thể hiện được ý chí, sự tự nguyện, tự do,
thỏa thuận trong khuôn khổ quy định pháp luật về các quyền, nghĩa vụ dân sự
được phát sinh, được thay đổi hoặc chấp dứt góp phần làm cho giao lưu
dân sự phát triển phong phú, đa dạng phù hợp với tiến độ phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
1.1.1.3. Ý nghĩa của giao dịch dân sự trong điều kiện phát triển nền
kinh tế thị trường
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của sản xuất
hàng hóa. Trong quá trình trao đổi giữa người mua và người bán hình thành
nên mối quan hệ. Vì vậy, thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau
và hình thành giá cả của hàng hóa và trao đổi quyền sở hữu đối với hàng hóa.
Nhìn trên phạm vi của toàn xã hội thì thị trường là sự gặp gỡ giữa người mua,
người bán và đồng thời là nơi cân bằng các nhu cầu của xã hội, thị trường là
19
nơi mở rộng giao dịch hình thành, phát triển theo đúng bản chất và sự phong
phú về hình thức, chủng loại Do đó giao dịch dân sự có ý nghĩa quan trọng,
thiết thực góp phần thúc đẩy các giao lưu dân sự phát triển, phù hợp với quá
trình phát triển của nền kinh tế thị trường.
- Tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia giao dịch
Khi các bên tham gia giao dịch có quyền tự do, tự nguyện tham gia
giao dịch, nhưng sự tự do trao đổi thường được đặt trong khuôn khổ điều chỉnh
của pháp luật. Pháp luật quy định về các điều kiện để các chủ thể tham gia giao
dịch và đồng thời quy định biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân
theo các điều kiện để giao dịch có giá trị pháp lý, thì giao dịch dân sự bị vô hiệu,

đó xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm khi giải
quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu.
- Bảo đảm cho việc kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Những cam kết thỏa thuận của các chủ thể tham gia giao dịch là căn cứ
vững chắc để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra xem các chủ thể đó
có thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật hay không. Đồng thời áp
dụng biện pháp chế tài cho các bên vi phạm khi cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế
các bên tham gia giao dịch trong một số trường hợp vi phạm các quy định của
Nhà nước, nhưng họ đã cố tình lẩn tránh bằng cách xác lập giao dịch giả cách
(không đúng mới nội dung mà các bên đã thỏa thuận). Do vậy, khi kiểm tra thực
hiện chính sách và pháp luật của Nhà nước của các chủ thể tham gia giao dịch
thông thường các cơ quan chức năng không chỉ thuần túy kiểm tra thông qua các
giao dịch trên cơ sở là các văn bản là hình thức thể hiện giao dịch mà phải kiểm
21
tra thực chất nội dung đích thực của giao dịch mà các bên tham gia. Đây là một
vấn đề phức tạp, vì vậy khi kiểm tra phải thận trọng tìm ra những điểm bất hợp
lý trên các văn bản. Khi phát hiện giao dịch dân sự vô hiệu thì tuyên bố giao dịch
dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý giao dịch dân sự vô hiệu.
- Góp phần ổn định trong quan hệ sở hữu tài sản
Chế định giao dịch dân sự có ý nghĩa quan trọng để các chủ thể khi
tham gia giao dịch nghiêm túc thực hiện, tránh không vi phạm quy định của Nhà
nước. Nếu một hoặc các bên tham gia vi phạm thì giao dịch dân sự bị vô hiệu,
bên vi phạm phải chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể gây bất lợi cho chính họ,
ví dụ, bị phạt cọc (nếu các bên có thỏa thuận), bồi thường thiệt hại do hành vi vi
phạm của họ gây ra, hủy giao dịch Việc quy định này có ý nghĩa khắc phục
những thiệt hại cho bên bị vi phạm, đồng thời còn tạo nên sự công bằng cho xã
hội và cũng là những lời cảnh báo cho các chủ thể khi họ tham gia giao dịch,
tạo thái độ nghiêm túc của các chủ thể trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật về giao dịch và nội dung của giao dịch do các chủ thể tham gia xây
dựng nên, tạo ra sự ổn định trong giao lưu tài sản, góp phần ổn định trong

mang tính chất quyết định của giao dịch để xác định một giao dịch dân sự vô
hiệu. Các điều khoản chủ yếu này dựa vào đặc điểm, tính chất của giao dịch,
đồng thời phải căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong từng
giai đoạn.
Khi xem xét giao dịch dân sự vô hiệu, thông thường, các nhà khoa học
căn cứ vào tính trái pháp luật dẫn đến giao dịch vô hiệu để phân ra thành giao
23
dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối. Giao dịch dân sự
vô hiệu tuyệt đối là giao dịch dân sự không có hiệu lực ngay từ khi giao kết,
không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa
các bên. Do vậy, kể cả trường hợp các bên tham gia giao dịch đã ký kết và
thực hiện sẽ không có giá trị pháp lý. Các bên phải chấm dứt thực hiện và
quay lại tình trạng ban đầu và hoàn lại cho nhau những gì đã nhận. Đối với
giao dịch vô hiệu tương đối là loại giao dịch có khả năng khắc phục, nó được
coi là một loại giao dịch dân sự có thể có hiệu lực nhưng cũng có thể bị vô
hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên tham gia giao dịch. Giao dịch
này thông thường không xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội và chỉ
có thể bị vô hiệu đối với bên có lỗi mà không bị vô hiệu đối với bên không có
lỗi. Khi xác định giao dịch dân sự vô hiệu thì các quyền và nghĩa vụ của các
bên đã thỏa thuận đều không có giá trị pháp lý, còn trong trường hợp giao
dịch đó được thừa nhận sau khi đã khắc phục thì đương nhiên quyền và nghĩa
vụ của các bên sẽ được pháp luật bảo hộ, bảo vệ theo sự cam kết của các bên,
giao dịch khắc phục được coi là giao dịch mới. Còn đối với giao dịch vô hiệu
tuyệt đối thì lại hoàn toàn khác. Đây thường là giao dịch vi phạm điều cấm
của pháp luật nên trong thực tế Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền
không cho phép khắc phục cho dù các bên mong muốn được khắc phục.
Giao dịch này không có hiệu lực ngay từ thời điểm ký kết, cho dù nó có bị
Tòa án tuyên bố vô hiệu hay không [96, tr. 73-74].
Sự phân loại này là dựa trên các tiêu chí nhất định, đối với giao dịch
dân sự vô hiệu tuyệt đối tất cả những người liên quan đến giao dịch đều có

điểm này Nhà nước không cấm mua bán đối với loại mặt hàng này, nhưng trong
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status