A.LỜI MỞ ĐẦU Với mục tiêu xây dựng mô hình gia đình văn hóa mới, phát huy những
truyền tốt đẹp của gia đình Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình đã đặc
biệt chú ý đến những chuẩn mực pháp lý để đảm bảo cho việc thực hiện
mục tiêu đó. Luật hôn nhân và gia đình đã góp phần hạn chế những tập
tục lạc hậu tàn dư phong kiến. Trong đó điều kiện kết hôn được coi là
yếu tố cơ bản góp phần hình thành gia đình tiến bộ, hạnh phúc và bền
vững. Tuy nhiên do một số điều kiện kinh tế - xã hội mà những điều kiện
đó chưa được tuân thủ triệt để gây ra hiện tượng kết hôn trái pháp luật.
Việc kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt của xã hội
như vi phạm nghiêm trọng về đạo đức nhân cách, lối sống của gia đình
Việt Nam phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, ảnh hưởng tới sức khỏe và
việc duy trì nòi giống của dân tộc. Vì vậy nhà nước ta đã thể hiện thái độ
nghiêm khắc thông qua chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật. Việc hủy
kết hôn trái pháp luật không chỉ ảnh hưởng tới hai bên kết hôn mà còn
gây hậu quả cho con cái của họ. Để tìm hiểu rõ hơn về hậu quả của việc
hủy việc kết hôn trái pháp luật nhóm chúng em đã chọn đề tài “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái
pháp luật”. Hi vọng việc nghiên cứu sẽ giúp các bạn có cái nhìn sâu sắc
hơn về vấn đề này. B.NỘI DUNG CHÍNH
gia đình là trái pháp luật, khi có yêu cầu tòa án có quyền hủy việc kết hôn
trái pháp luật đó. Tuy nhiên tòa án cần phải xem xét, đánh giá thực chất mối
quan hệ tình cảm giữa họ để từ đó có quyết định xử lý đúng đắn, bảo đảm
thấu tình đạt lý.
1.3 Căn cứ chung để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật
• Chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật mà nam nữ đã
kết hôn. Khi nam chưa bước sang tuổi hai mươi, nữ chưa bước sang
tuổi mười tám mà đã kết hôn đối với trường hợp này tòa án có thể hủy
việc kết hôn trái pháp luật.
• Thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên hoặc của cả hai bên nam
nữ khi kết hôn.
• Người mất năng lực hành vi dân sự mà vẫn kết hôn
• Người đang có vợ (có chồng) lại kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác
• Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau
2.Hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật- Lý luận và thực tiễn
Bên cạnh ly hôn thì hủy kết hôn trái pháp luật cũng dẫn đến chấm dứt
hôn nhân. Khác với ly hôn – là do có nguyên nhân phát sinh từ cuộc sống vợ
chồng thì hủy kết hôn trái pháp luật là do có vi phạm về điều kiện kết hôn,
tảo hôn…. Theo điều 17 luật Hôn nhân và gia đình quy định hậu quả của
việc hủy kết hôn trái pháp luật gồm:
1. Khi hủy việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải
chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2.Quyền lợi của các con được giải quyết như trường hợp cha mẹ bị ly
hôn.
3.Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì của
người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu
không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, có tính đến công
sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của
phụ nữ và con”.
nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định tại điều 92:
“1.Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo
dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng
lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi
mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2.Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ
của mỗi bên khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt
của con; nếu con từ đủ chin tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của
con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu
các bên không có thỏa thuận khác”.
Quan hệ giữa cha mẹ và con được luật hôn nhân và gia đình quy định
không phụ thuộc vào hôn nhân của cha mẹ có hợp pháp hay không hợp pháp
, tồn tại hay đã chấm dứt. Vì vậy, việc tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật
không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái.
Khi hai người còn chung sống với nhau chăm sóc nuôi dạy con
chung, khi quan hệ giữa họ bị buộc phải chấm dứt, họ không thể cùng nhau
nuôi dạy con chung nhưng mọi quyền và nghĩa vụ của họ đối với con chung
vẫn được đảm bảo. Theo điều 92 Luật hôn nhân và gia đình thì hai bên thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Nếu cha
mẹ không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Việc giao con cho
một bên trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Nếu con
từ đủ 9 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc con
dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa
thuận khác.
Người không nuôi có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con trong trường hợp này không phụ thuộc vào khả năng kinh tế
của người trực tiếp nuôi con. Dù người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh
tế để nuôi dạy con thì người không trực tiếp nuôi vẫn phải thực hiện nghĩa